đánh giá tình hình tài chính và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần chăn nuôi chế biến và xuất nhập khẩu aprocimex - Pdf 23

Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích
cực. Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu và rộng với nền kinh
tế thế giới. Xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập đang dần trở thành phương châm
của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Với những sự thay đổi mang tính
lịch sử như vậy, doanh nghiệp Việt Nam đứng trước rất nhiều thuận lợi, và
không ít khó khăn. Điều này buộc các doanh nghiệp phải có chính sách kinh
tế lâu dài, chiến lược kinh doanh rõ ràng để có thể tồn tại trong nền kinh tế
cạnh tranh khốc liệt. Và điều này đã được thực tế kiểm chứng, thị trường
không có chỗ đứng cho các doanh nghiệp ỉ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước
cùng với kiểu làm ăn chộp giật, quan liêu, bao cấp. Các doanh nghiệp phải tự
vận động, cạnh tranh khốc liệt không chỉ với doanh nghiệp trong nước và cả
với các tập đoàn kinh tế vững mạnh trên khắp thế giới. Và doanh nghiệp nào
không đủ năng lực sẽ bị đào thải, đó là quy luật tất yếu trong kinh doanh.
Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển trong nền kinh tế này, các
doanh nghiệp buộc phải quan tâm đến tình hình tài chính của mình. Bởi chỉ
khi có tinh hình tài chính vững mạnh thì khả năng canh tranh cũng như cơ hội
tồn tại của doanh nghiệp mới cao. Do đó, các doanh nghiệp phải luôn luôn
quan tâm đến công tác tài chính, phải thường xuyên tổ chức thu thập, tính
toán, phân tích các chỉ tiêu tài chính, đồng thời đưa ra các kế hoạch tài chính
cụ thể trong từng tháng, quý, năm tài chính cũng như trong từng giai đoạn
kinh doanh cụ thể. Mỗi doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác tính toán,
phân tích tài chính vì đây chính là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc thành
bại trong kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế trên, cùng với sự chỉ bảo tận tình của giảng viên
Tiến sỹ Đoàn Hương Quỳnh, và sự quan tâm đáng quý của các cô chú, anh
chị trong phòng Kế toán Tài chính của công ty cổ phần chăn nuôi, chế biến và
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
1
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp

theo pháp luật và thực hiện tốt các quy luật kinh tế. Theo điều 4, luật Doanh
nghiệp năm 2006 quy định “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có
tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định
pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Theo kinh nghiệm các nhà kinh tế học đã đưa ra, trong quá trình phát
triển, các doanh nghiệp phải tổ chức giải quyết 3 vấn đề chính sau
Thứ nhất Quyết định sản xuất cái gì.
Thứ hai Quyết định sản xuất như thế nào.
Thứ ba Quyết định sản xuất cho ai.
Đây là những vấn đề được coi là kim chỉ nam cho mỗi hoạt động sản
xuất kinh doanh cho mỗi doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát
triển mạnh phải thực hiện tốt các quy luật kinh tế thị trường, quy luật cạnh
tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá cả. Mỗi doanh nghiệp là một cá thể
trong môi trường cạnh tranh. Vì vậy, chỉ có doanh nghiệp mới có thể hiểu rõ
khả năng, tiềm năng và năng lực cạnh tranh kinh doanh của mình. Đồng thời
đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận biết, tìm hiểu và nghiên cứu các đối thủ cạnh
tranh trên thị trường hay nói khác đi, doanh nghiệp phải biết mình là ai và vị
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
3
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
thế của mình trên thị trường. Bên cạnh đó, yếu tố quan trọng không kém là
việc nghiên cứu về các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung
cấp, cũng như việc nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp có thể cung ứng
được tốt nhất cả về chất cũng như lượng hàng hóa ra thị trường. Mặt khác,
cũng giúp doanh nghiệp có hướng đi cụ thể khác khi hàng hóa trên thị trường
đã dư thừa.
1.1.2. Bản chất của tài chính doanh nghiệp.
Để có thể hiểu được tài chính doanh nghiệp, trước tiên ta cần phải hiểu
được hoạt động kinh doanh cơ bản. Nói đơn giản là, hoạt động kinh doanh

nghiệp, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nội bộ doanh
nghiệp.
Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động quan trọng trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Các hoạt động này gắn liền với việc tạo lập, sử
dụng và vận động của các quỹ tiền tệ trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.2. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1.2.1. Khái niệm, mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.1.1. Khái niệm của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính bắt đầu được chú ý từ thế kỷ XIX, và từ thế kỷ XX
đến nay, phân tích tài chính càng được chú trọng và phát triển một cách mạnh
mẽ. Bởi phân tích tài chính doanh nghiệp được nhận định là một mặt cực kỳ
quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, cùng sự phát triển như
vũ bão của hệ thống tài chính, hệ thống công nghệ thông tin và sự lớn mạnh
của các tập đoàn kinh tế thì phân tích tài chính doanh nghiệp trở nên quan
trọng hơn bao giờ hết. Vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp được hiểu như
thế nào?
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
5
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
“Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và
công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin
khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả
năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các
quyết định tài chính, các quyết định quản lý phù hợp.”
Phân tích tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo
tài chính cùng các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các
phương pháp, công cụ, và kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng thông tin từ
các phương diện khác nhau vừa có thể nắm được tính hình tài chính tổng quan
khái quát, vừa có thể nắm được chi tiết các thông tin để từ đó có thể nhận biết,

phân tích tài chính doanh nghiệp. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính là
Các thông tin bên ngoài doanh nghiệp và các thông tin nội bộ doanh nghiệp.
1.2.2.1.1.Các thông tin bên ngoài doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế ngày càng có quan hệ
mật thiết và ảnh hưởng lớn lẫn nhau. Do đó, việc nắm bắt càng nhiều các
thông tin kinh tế và xử lý tốt các thông tin bên ngoài doanh nghiệp trở nên hết
sức quan trọng.
Bên cạnh đó, việc phân tích tài chính có mục tiêu là đưa ra các lý do dự
báo tài chính giúp cho việc đưa ra các dự báo không chỉ giới hạn về mặt tài
chính mà còn mở rộng sang các mặt khác liên quan như thuế, tiền tệ, các
thông tin kinh tế chung, các thông tin liên quan đến pháp luật, hệ thống pháp
lý, các chính sách của nhà nước với doanh nghiệp, sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, cũng như tương lai của ngành nghề doanh nghiệp kinh doanh
Đồng thời, cần phải đặt doanh nghiệp trong mối liên hệ với các doanh
nghiệp khác trong ngành. Bởi cùng ngành nghề kinh doanh thì sẽ có những
đặc điểm chung, tính chất giống nhau. Những nghiên cứu theo ngành sẽ chỉ
cho ta thấy vị trí của ngành nghiên cứu trong nền kinh tế, các ứng dụng khoa
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
7
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
học công nghệ phù hợp với sự phát triển của ngành, tiềm năng phát triển, và
khả năng mở rộng trong tương lai.
1.2.2.1.2.Các thông tin nội bộ doanh nghiệp.
Đây là nguồn thông tin đặc biệt cần thiết và mang tính chất bắt buộc.
Với những đặc trưng hệ thống đồng nhất và phong phú, kế toán đóng vai trò
như nhà cung cấp các thông tin đáng giá cho việc phân tích tài chính. Ngoài
ra, các doanh nghiệp cũng có nhiệm vụ phải cũng cấp thông tin cho các đối
tác quan trọng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Thông tin phục vụ cho
việc phân tích tài chính là các báo cáo tài chính, bao gồm Bảng cân đối kế
toán. Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh

quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, đồng thời cho phép dự báo khả năng hoạt động của doanh nghiệp
trong tương lai. Báo cáo kết quả kinh doanh cũng cho ta thấy giá trị doanh thu
khi bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ, cũng như chi phí phát sinh phải bỏ
ra trong kỳ để vận hành hoạt động là bao nhiêu. Trên cơ sở doanh thu và chi
phí, ta có được chênh lệch của doanh thu và chi phí cho ta thấy lời lãi của
họat động sản xuất kinh doanh. Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh là báo
cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính trong một thời kỳ về kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình
và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 3 phần
Phần 1 Báo cáo lỗ lãi
Phần 2 Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách nhà nước
Phần 3 Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, hoặc miễn giảm.
• Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập ra để trả lời cho các câu hỏi liên
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
9
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
quan đến việc luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp như thế nào, tình hình trả
nợ, đầu tư, góp vốn của doanh nghiệp ra sao.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về dòng tiền lưu
chuyển và các khoản coi như tiền- những khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu
động cao, có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền
biết trước, ít chịu rủi ro về giá trị do những thay đổi về lãi suất. Những luồng
vào ra của dòng tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm
là lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động
đầu tư, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và được lập theo phương
pháp gián tiếp hoặc trực tiếp.

- So sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch để thấy được mức độ phấn
đấu của doanh nghiệp.
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành,
của các doanh nghiệp khác cùng ngành để đánh giá tình hình tài chính của
doanh nghiệp mình là tốt hay xấu.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả
về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế
toán liên tiếp.
1.2.3.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ.
Phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài
chính là phưong pháp tỷ số. Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các
tỷ số được dùng để phân tích. Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bằng cách so
sánh chỉ tiêu này với chỉ tiêu khác. Tất nhiên ta chỉ có thể so sánh các chỉ tiêu
có mối liên hệ với nhau thu được các tỷ số có ý nghĩa. Với nguyên tắc đó, các
nhà phân tích có thể xây dựng các tỷ số phân tích phù hợp với đặc điểm hoạt
động của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
11
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
Phương pháp phân tích tỷ số được dưa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ số
của các đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ số,
cố nhiên là sự biến đổi của các đại lượng tài chính trong các quan hệ tài
chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ số yêu cầu phải xác định được ngưỡng,
các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên
cơ sở so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với giá trị các tỷ số tham chiếu vì
một đặc tính dễ nhận thấy của các tỷ số đơn là khi đứng độc lập chúng trở
thành vô nghĩa.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính phân thành
các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu

nghiệp.
Phân tích tình hình tài sản là phân tích biến động các khoản mục tài sản
nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỉ trọng của tài sản
qua các thời kì như thế nào, sự thay đổi này bắt đầu từ những dấu hiệu tích
cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc
nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp hay không.
1.2.4.1.2.Phân tích tình hình nguồn vốn.
Đây là sự phân tích biến động các mục nguồn vốn nhằm giúp người phân
tích tìm hiểu những sự thay đổi về giá trị, tỉ trọng nguồn vốn qua các thời kỳ
như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ
động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng
lực tài chính, tính tự chủ, khả năng khai thác nguồn vốn trên thị trường cho
họat động sản xuất kinh doanh hay không.
Đồng thời phải xem xét mối quan hệ cân đối giữa nguồn tài trợ ngắn hạn
so với tài sản dài hạn. Từ đó, đánh giá xem doanh nghiệp đã đảm bảo nguyên
tắc cân bằng tài chính hay chưa.
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
13
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
1.2.4.1.3.Phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Mục tiêu cơ bản của việc phân tích khái quát kết quả họat động kinh
doanh đối với doanh nghiệp là tìm hiểu nguồn gốc, thực trạng và xu hướng
của thu nhập, chi phí, lợi nhuận của daonh nghiệp đó. Quá trình này tập trung
vào vấn đề cơ bản sau
- Thu nhập, chi phí, lợi nhuận có thực không và tạo ra từ những nguồn
nào, sự hình thành như vậy có phù hợp với chức năng, hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp hay không.
- Thu nhập, chi phí, lợi nhuận thay đổi có phù hợp với đặc điểm, chi phí,

của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng chú trọng tới tỷ số về cơ cấu vốn vì
sự thay đổi tỷ số này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới lợi ích của họ.
1.2.4.2.1.Các hệ số về khả năng thanh toán.
Tình hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện rõ nét qua các chỉ tiêu về
khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bởi vì một doanh nghiệp được đánh
giá là có tình hình tài chính lành mạnh trước hết phải được thể hiện ở khả
năng chi trả, khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong
kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các
chỉ tiêu :
•Hệ số khả năng thanh toán hiện hành hay khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán hiện hành =
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn

Tài sản lưu động thông thường bao gồm tiền, các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn, hàng tồn kho…Còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản
vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
15
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
phải trả nhà cung cấp và các khoản phải trả, phải nộp khác…Cả tài sản lưu
động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định – dưới một năm. Hệ số này
phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ
ngắn hạn.
• Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản
quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền,
bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Hàng tồn kho là

trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm
bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu
doanh nghiệp ưa thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và
muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Song, nếu tỷ số nợ quá cao, doanh
nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
Hệ số nợ =
Tổng số nợ
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hoặc = 1- Hệ số vốn chủ sở hữu
• Cùng với hệ số nợ, có thể xác định hệ số vốn chủ sở hữu:
Hệ số vốn chủ
sở hữu
=
Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
1.2.4.2.3.Hệ số cơ cấu tài sản.
Phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp: Tài sản
lưu động và tài sản ngắn hạn khác, tài sản cố định và tài sản dài hạn khác.
Tỉ suất đầu tư vào TS ngắn hạn
hay TS lưu động
=
Tài sản ngắn hạn
Tổng tài sản
Tỉ suất đầu tư vào
TS dài hạn
=
Tài sản dài hạn
Tổng tài sản
Cần căn cứ vào ngành nghề kinh doanh và tình hình kinh doanh cụ thể
của doanh nghiệp để đánh giá mức độ hợp lí trong việc đầu tư vào các loại tài

Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động hay số vòng
quay của vốn lưu động thực hiện được trong một thời kì nhất định( thường là
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
18
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
một năm)
Số vòng quay vốn lưu động =
Tổng mức luân chuyển VLĐtrong kì
Số lần luân chuyển vốn lưu động
• Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác
Hiệu suất sử dụng VCĐ và vốn
dài hạn khác
=
Doanh thu trong kì
Vốn CĐ và vốn dài hạn khác
bình quân trong kì

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định và vốn dài hạn khác trong
kì tham gia tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kì đó.
•Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn:
Vòng quay tài sản hay
toàn bộ vốn trong kì
=
Doanh thu thuần trong kì
Số tài sản hay vốn KDBQ
sử dụng trong kì
Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó được đo
bằng tỷ số giữa doanh thu và tổng tài sản và cho biết một đồng tài sản đem lại
bao nhiêu doanh thu.
1.2.4.2.5.Các hệ số về khả năng sinh lời.

vốn kinh doanh BQ sử dụng trong kì
•Tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỉ suất sinh lời
ròng từ tài sản( ROA)
Phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kì tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế.
Tỉ suất lợi nhuận sau thuế
trên VKD( ROA)
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn kinh doanh( hay tài sản)
bình quân trong kì
•Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu( ROE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được
các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh
nghiệp. Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất
trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp.
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu BQ sử dụng trong kì
•Thu nhập một cổ phần( EPS)
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh mỗi cổ phần thường( hay cổ
phần phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Thu nhập 1 = Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
20
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
cổ phần( EPS)
ưu đãi( nếu có)
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
•Cổ tức một cổ phần(DIV)

21
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
thu nhập
•Hệ số giá thị trường trên giá trị sổ sách( Hệ số M/B)
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa giá trị thị trường và giá trị sổ
sách 1 cổ phần của công ty. Hệ số này nhỏ hơn 1 là dấu hiệu xấu về triển
vọng của công ty, ngược lại nếu hệ số này quá cao đòi hỏi nhà đầu tư phải
xem xét thận trọng trong quyết định đầu tư vào công ty.
Hệ số giá thị trường trên
giá trị sổ sách
=
Giá thị trường 1 cổ phần
Giá trị sổ sách 1cổ phần
•Tỷ suất cổ tức
Chỉ tiêu này phản ánh, nếu nhà đầu tư bỏ ra một đồng vốn đầu tư vào
cổ phần của công ty trên thị trường thì có thể thu được bao nhiêu cổ tức.
Tỷ suất cổ tức =
Cổ tức 1 cổ phần
Giá thị trường 1cổ phần
1.2.4.3. Phân tích tăng trưởng.
Tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đều luôn mong
muốn có được mức tăng trưởng tốt. Mức tăng trưởng tốt ở đây không luôn
luôn có nghĩa là có tốc độ tăng trưởng thật cao. Tất nhiên không doanh nghiệp
nào mong muốn mức tăng trưởng của đơn vị mình thấp hơn quá nhiều so với
các đơn vị khác cùng ngành, song, tốc độ tăng trưởng quá cao không hẳn là đã
tốt. Tăng trưởng của doanh nghiệp gắn liền với sự tăng trưởng về vốn, lợi
nhuận, tăng trưởng về thị phần, lượng khách hàng Nói chung, đa số các nhà
đầu tư đều ưa thích tốc độ tăng trưởng của công ty là cao. Vì nó thể hiện khả
năng sinh lời từ đồng vốn là lớn.
Sau đây là công thức tính tốc độ tăng trưởng của công ty cổ phần.

quan trọng trong công tác quản lý tài chính của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Cùng với thời gian thì cống tác phân tích tài chính ngày càng được quan tâm
phát triển. Song, như vậy không có nghĩa là tất cả các doanh nghiệp đều triển
khai công tác phân tích tài chính tốt. Nếu ở một doanh nghiệp nào mà được
đội ngũ ban lãnh đạo quan tâm và hiểu rõ tầm quan trọng của công tác phân
tích tài chính thì ở đó, công tác tổ chức phân tích tài chính sẽ được thức hiện
triệt để và hiệu quả với chất lượng tốt. Để từ đó, công tác quản lý tài chính
cũng được thực hiện hiệu quả hơn.
1.2.5.1.2.Chất lượng nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài
chính doanh nghiệp.
Thông tin là nhân tố tiên quyết hàng đầu đến hiệu quả của công tác
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
23
Học viện Tài Chính Luận văn tốt nghiệp
phân tích tài chính. Nếu hệ thống thông tin thu thập được có nguồn gốc không
rõ ràng, không chính xác hay thông tin sử dụng không đầy đủ thì kết quả phân
tích chỉ là hình thức mà không nói lên được ý nghĩa gì. Do đó, việc kiểm định
chất lượng nguồn thông tin, đảm bảo thông tin là chuẩn xác cũng là điều kiện
tiên quyết tối quan trọng cho hiệu quả của công tác phân tích tài chính.
1.2.5.1.3.Nhân sự thực hiện công tác phân tích tài chính.
Phân tích tài chính là quá trình nhà phân tích sử dụng các công cụ,
phương pháp để xử lý, phân tích, đánh giá các thông tin kế toán và các thông
tin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính của daonh nghiệp. Nên các kết quả
phân tích tài chính là những nhận xét, đánh giá của người phân tích. Vì thế,
trình đọ chuyên môn, kinh nghiệm phân tích của người làm công tác phân tích
tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phân tích. Nếu như người thực hiện
công tác phân tích tài chính có trình độ chuyên môn tốt, nắm vững quy trình
phân tích và có cái nhìn tổng quan cũng như chi tiết một cách tinh tế thì kết
quả phân tích sẽ chính xác và các nhận xét đánh giá mới đúng thực tế và
chuẩn xác. Từ đó, sẽ đưa ra các giải pháp tài chính phù hợp, giúp công tác

từ đó công tác phân tích tài chính sẽ được hoàn thiện hơn. Đây là cơ sở tham
chiếu quan trọng cho các doanh nghiệp khi tiến hành công tác phân tích tài
chính. Dựa vào hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành này, doanh nghiệp có thể
thấy được tỷ lệ tài chính của mình là cao hay thấp so với mặt bằng chung.
Thông qua việc so sánh với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản trị
sẽ biết được vị thế của mình trên thị trường, sức mạnh của doanh nghiệp với
các đối thủ cạnh tranh. Tù đó, đánh giá chính xác thực trạng của doanh nghiệp
cũng như hiệu quả thực tế kinh doanh của daonh nghiệp.
1.2.5.2.2.Pháp lý.
Hệ thống pháp lý ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt trong kinh doanh, và công
Nguyễn Thị Quỳnh Anh Lớp CQ46/11.01
25

Trích đoạn Những hạn chế còn tồn tại trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần chăn nuôi chế biến và xuất nhập khẩu Định hướng phát triển. Mục tiêu phát triển. Các biện pháp về quản trị tiền mặt. Quản trị hàng tồn kho.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status