Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xâu dựng và thương mại 3 2 - Pdf 22

1 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DN: Doanh nghiệp
HQKD: Hiệu quả kinh doanh
QT: Quản trị
QTDN: Quản trị doanh nghiệp
KD: Kinh doanh
SXKD: Sản xuất kinh doanh
XDCB: Xây dựng cơ bản
QTKD: Quả trị kinh doanh
BĐS Bất động sản
2 LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hội nhập quốc tế đã đang và sẽ tạo ra những cơ hội thuận lợi nhưng cũng
đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự thân vận động
mạnh mẽ để phát triển và vươn lên, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa.
Việc các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với những thách thức cũng
như nắm bắt những cơ hội có được từ xu hướng này ra sao là yếu tố quyết
định đến sự tồn tại và phát triển của chính bản thân các doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, tác động của quá trình tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường với
sức ép ngày càng tăng khi triển khai thực thi các cam kết theo lộ trình hội
nhập. Một lần nữa đặt các Doanh nghiệp nới chung và Công ty cổ phần đầu tư
xây dựng và thương mại 3-2 nói riêng phải có sự đổi mới không ngừng để
nâng cao hiệu quả kinh doanh không những để tồn tại mà còn nâng cao năng
lực cạnh tranh, chủ động hội nhập quốc tế.

sử, các phương pháp lý thuyết hệ thống, thống kê, điều tra, phân tích, dự
báo
5. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại 3-2.
4 CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Có nhiều quan điểm về doanh nghiệp:
Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện,
máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích.
Quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua
đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản
xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị
trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm.
Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh
nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích
sinh lợi.

Tuy nhiên, dù dưới cách tiếp cận nào thì doanh nghiệp cũng phải mang
đầy đủ các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Mang chức năng sản xuất kinh doanh.
- Tối đa hóa lợi nhuận là mục têu kinh tế cơ bản, bên cạnh các mục tiêu
xã hội.
- Phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
1.1.2. Các loại hình doanh nghiệp.
Tính phổ biến của hoạt động KD và trên cơ sở đó là tính phổ biến của
hoạt động QT trước hết phụ thuộc vào từng loại hình DN. Và mỗi loại hình có
6 những dặc điểm hoạt động đặc trưng. Trên giác độ nghiên cứu, luận văn xem
xét cách phân loại và đặc điểm hoạt động của các loại doanh nghiệp theo một
số tiêu thức sau:
* Căn cứ vào chức năng hoạt động
Căn cứ vào chức năng hoạt động có thể phân thành DN sản xuất, DN
dịch vụ và DN sản xuất và dịch vụ.
- DN sản xuất: DN sản xuất thực hiện sự kết hợp các nguồn lực sản xuất
để tạo ra các sản phẩm cung cấp cho thị trường.
Sản phẩm là các vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
Vì quá trình sản xuất thường tách rời quá trình tiêu dùng sản phẩm nên
cơ cấu sản xuất của mọi DN sản xuất thường là cơ cấu khép kín, quá trình sản
xuất không có sự hiện diện của khách hàng. Chức năng chủ yếu của DN sản
xuất là sản xuất sản phẩm.
- DN dịch vụ: DN dịch vụ là DN thực hiện sự kết lợp các nguồn lực để
tạo ra dịch vụ cung cấp cho khách hàng.
Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích thường không cụ thể có thể
phục vụ trực tiếp khách hàng hay bán kèm theo sản phẩm. Đa số dịch vụ có
đặc điểm cơ bản là phi vật chất, không dự trữ được nên quá trình hình thành

danh (CTHD), nhóm công ty, doanh nghiệp liên doanh (DNLD) và doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài (DNFDI).
* Căn cứ vào hình thức sở hữu
8 Căn cứ vào hình thức sở hữu có:
- DN một chủ sở hữu và DN nhiều chủ sở hữu
- DNNN, DN dân doanh, DN sở hữu hỗn hợp và DN có vốn nước ngoài.
- DN có một chủ sở hữu gồm DNTN và CTTNHH một thành viên:
- Chủ sở hữu là cá nhân: DNTN
- Chủ sở hữu là tổ chức: Có một thành viên.
Ngoài ra, có thể có DNFDI và kinh doanh theo nghi định 66/HĐBT (một
người sở hữu) cũng có thể là DN một chủ sở hữu.
DN có nhiều chủ sở hữu bao gồm HTX, CTTNHH có trên một thành
viên, CTCP, CTHD:
- Chủ sở hữu là các cá nhân: HTX, CTTHHH có trên một thành viên,
CTCP, CTHD.
- Chủ sở hữu là các tổ chức: CTTNHH trên một thành viên mà các tồ
chức cùng nhau thành lập.
Ngoài ra, có thể có DNFDI và KD theo nghị định 66/HĐBT (nhiều
người sở hữu) cũng có thể là DN nhiều chủ sở hữu.
* Căn cứ vào mục tiêu hoạt động chủ yếu
Mặc dù phải theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu hình thành hệ thống
(hàm) mục tiêu song luôn xác định được một mục tiêu bao trùm, lâu dài cho
mọi DN và mục tiêu này thường ổn định. Xét ở góc độ này, có hai loại:
DNKD và DN công ích.
- DNKD: Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau song có thể khẳng
9


động và QTKD. Vì vậy phân loại DN theo qui mô có ý nghĩa lớn cả đối với
việc tổ chức hoạt động và tồ chức QTDN cũng như quản lí nhà nước đối với
hoạt động của các DN.
1.2. HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Khái niệm về hiệu quả kinh doanh toàn diện đầy đủ, hiện nay còn nhiều
quan điểm khác nhau, nhưng trong cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp đều có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá
lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp phải xác định chiến lược
kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển phù hợp với những thay đổi của
môi trường kinh doanh; phải phân bổ hợp lý, quản trị khoa học và thường
xuyên kiểm tra quá trình sử dụng các nguồn lực. Muốn kiểm tra tính hiệu quả
của hoạt động sản xuất kinh doanh phải đánh giá được mức độ sử dụng hợp lý
các nguồn lực của doanh nghiệp.
Mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh
doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
nhưng lại khó tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh
doanh.
Xét trên khía cạnh về hiệu quả kinh tế. Có ý kiến cho rằng: ''Hiệu quả
sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà
không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác. Một nền kinh tế có
hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó'' . Thực chất quan điểm
này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền xuất xã
11 hội. Theo Manfred Kuhn: ''Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả
tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh'' .
Xét trên giác độ lý thuyết, hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được trên
đường giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đạt được

ra doanh nghiệp đã bỏ ra một lượng các yếu tố đầu vào như thế nào, tổ chức
sử dụng các nguồn lực đó ra sao để đạt được kết quả đó. Vì thế, nó được dùng
làm tiêu chuẩn để đánh giá trình độ và chất lượng sản xuất kinh doanh của các
tổ chức kinh tế.
1.2.2. Các loại hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được đánh giá ở nhiều góc độ, đối tượng, phạm vi
và thời kỳ khác nhau. Nên từng góc độ cụ thể xem xét theo từng loại hiệu quả
kinh doanh khác nhau.
* Hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả đầu tư là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để
đạt được các mục tiêu đầu tư xác định. Hiệu quả đầu tư gắn liền với hoạt động
đầu tư cụ thể. Do đó khi đánh giá hiệu quả đầu tư doanh nghiệp cần đánh giá
theo đối tượng đầu tư.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Hiệu quả kinh doanh gắn
liền với hoạt động KD của DN. Do vây trong quá trình KD, DN phải đánh giá
hiệu quả kinh doanh theo thời gian lịch.
13 * Hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả kinh doanh
- Hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản
xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định.
Các mục tiêu xã hội thường là giải quyết công ăn, việc làm; xây dựng cơ
sở hạ tầng; nâng cao phúc lợi xã hội, mức sống và đời sống văn hoá, tinh thần
cho người lao động; đảm bảo và nâng cao sức khoẻ cho người lao động; cải
thiện điều kiện lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường;
Trước hết các DN công ích với mục tiêu tối đa hóa lợi ích xã hội cần
đánh giá hiệu quả xã hội.

động KD của chính DN. Vì lẽ đó, càng ngày các DN không chỉ quan tâm đến
hiệu quả kinh doanh mà còn càng quan tâm hơn đến hiệu quả xã hội.
* Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả ở từng lĩnh vực
- Hiệu quả kinh doanh tổng hợp:
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng mọi nguồn lực
để đạt mục tiêu của toàn DN hoặc từng bộ phận của nó.
Do tính chất phản ánh trình độ sử dụng mọi nguồn lực nên hiệu quả kinh
doanh tổng hợp đánh giá khái quát và cho phép kết luận tính hiệu quả của
toàn DN (đơn vị bộ phận của DN) trong một thời kỳ xác định.
- Hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động
15 Hiệu quả ở lĩnh vực chỉ đánh giá trình độ sử dụng dụng một nguồn lực cụ
thể (lao động, vốn cố định và tài sản cố định, vốn lưu động và tài sản lưu
động) theo mục tiêu đã xác định.
Vì tính chất này mà hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động không đại diện
cho tính hiệu quả của DN, chỉ phản ánh tính hiệu quả sử dụng một nguồn lực
cá biệt cụ thể. Phân tích hiệu quả từng lĩnh vực là để xác định nguyên nhân và
tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và do đó góp phần nâng
cao hiệu quả kinh doanh của DN.
Trong nhiều trường hợp có thể xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh
doanh tổng hợp và hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động; khi đó chỉ có chỉ tiêu
hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phản ánh tính hiệu quả hoạt động của DN; các
chỉ tiêu hiệu quả từng lĩnh vực chỉ có thể phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt
động riêng biệt mà thôi.
Giữa hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả từng lĩnh vực có mối
quan hệ biện chứng: hiệu quả kinh doanh tổng hợp là kết quả ''tổng hợp'' từ
hiệu quả sử dụng các nguồn lực; hiệu quả sử dụng mỗi nguồn lực là điều kiện
tiền đề góp phần tạo ra hiệu quả KD tổng hợp.

- Nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng tăng và đa dạng. Trong
khi các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người
lại ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn. Điều này phản ánh qui luật
khan hiếm. Qui luật khan hiếm buộc mỗi DN phải lựa chọn và trả lời chính
xác ba câu hởi: sản xuất kinh doanh cái gì? Sản xuất kinh doanh như thế nào?
17 Và sản xuất kinh doanh cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận các DN nào quyết
định sản xuất đúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp.
- Yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao: Mặt khác, KD trong cơ chế kinh tế
thị trường, mở cửa và ngày càng hội nhập, DN phải chấp nhận và đứng vững
trong cạnh tranh. Muốn chiến thắng trong cạnh tranh DN phải luôn tạo ra và
duy trì các lợi thế cạnh tranh: chất lượng và sự khác biệt hoá, giá cả và tốc độ
cung ứng sản phẩm dịch vụ. Để duy trì lợi thế về giá cả DN phải sử dụng tiết
kiệm các nguồn lực sản xuất hơn so với các DN khác. Chỉ trên cơ sở sản xuất
KD với hiệu quả cao, DN mới có khả năng đạt được điều này.
HQKD là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm
các nguồn lực sản xuất xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao
trùm, lâu dài của DN. HQKD càng cao càng phản ánh việc sử dụng tiết kiệm
các nguồn lực sản xuất. Vì vậy, nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan để
DN thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận.
1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
1.2.4.1 Nhóm các chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Với một doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh đều đặt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận lên cao nhất, phải làm sao
để mỗi đồng vốn khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều mang
lại lợi nhuận cao nhất. Do đó, chỉ tiêu sinh lời là cơ sở quan trọng nhất để
đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Dùng chỉ tiêu
sinh lời có thể phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh tế

Tỷ suất sinh lời của tài sản =
Giá trị tài sản bình quân
1.2.4.1.3. Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh
19 Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả
năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn
sản xuất bình quân được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng vốn lợi nhuận.
Nếu tỷ suất này cao chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có lãi và ngược lại tỷ suất
này thấp chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không hiệu quả.
Cũng như chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận
vốn kinh doanh cũng thường được tách thành 2 phần trước và sau thuế:
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanh bình quân
Trong hai chỉ tiêu trên, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn kinh
doanh được các nhà quản trị tài chính sử dụng nhiều hơn, bởi lẽ nó phản ánh
số lợi nhuận còn lại được sinh ra do sử dụng bình quân một đồng vốn kinh
doanh (sau khi đã trả lãi vay ngân hàng và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho
Nhà nước).
1.2.4.1.4. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ tạo ra lợi
nhuận thuần cho các chủ doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng
vốn mà chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
sau thuế. Công thức xác định như sau:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Khi đánh giá phân tích chỉ tiêu này ta có thể so sánh nó với chỉ tiêu tỷ
Số ngày trong kỳ
Thồi gian 1vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
1.2.4.2.3. Vòng quay các khoản phải thu:
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền
mặt của doanh nghiệp và được xác định theo công thức:
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bình quân các khoản phải thu
Số dư bình quân các khoản phải thu được tính bằng phương pháp bình
quân các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán.
Doanh thu thuần là tổng doanh thu thuần từ ba loại hoạt động: hoạt
động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động khác.
Vòng quay này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là
tốt, vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu (không
phải cấp tín dụng cho khách).
1.2.4.2.4. Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các
khoản phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu). Vòng quay
các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại.
Tuy nhiên kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp nhiều khi chưa thể kết luận
chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh
nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh
nghiệp…
Kỳ thu tiền trung bình được xác định theo công thức:
360
22



nghiệp đã đầu tư. Vòng quay vốn kinh doanh càng lớn thì hiệu quả đạt được
càng cao. Công thức như sau:
Doanh thu thuần
Vòng quay vốn kinh doanh =
Vốn kinh doanh bình quân
1.2.4.3. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán cũng phản ánh một phần hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua các hệ số này, nhà đầu tư,
nhà cung cấp hàng hoá, ngân hàng, các tổ chức tín dụng có thể phân tích được
khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp để đưa ra những quyết sách tài
chính của mình đối với doanh nghiệp.
1.2.4.3.1. Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản
mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả (nợ
dài hạn, nợ ngắn hạn,…)
Tổng tài sản
Hệ số thanh toán tổng quát =
Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Nếu hệ số này <1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở
hữu bị mất toàn bộ, tổng số tài sản hiện có (tài sản lưu động, tài sản cố định)
không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán.
1.2.4.3.2. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Hệ số đánh giá khả năng thanh toán là mối quan hệ giữa tài sản ngắn
hạn và các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ
đảm bảo của TSLĐ với nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh
24 toán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để

khăn trong việc thanh toán công nợ, vì vào lúc cần doanh nghiệp có thể buộc
phải sử dụng các biện pháp bất lợi như bán các tài sản với giá thấp để trả nợ.
Tuy nhiên, độ lớn của hệ số này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh
và kỳ hạn thanh toán của món nợ phải thu, phải trả trong kỳ.
Ngoài ra, dựa vào tính chất có thể chuyển đổi nhanh các khoản tiền và
tương đương tiền như chứng khoán ngắn hạn, thương phiếu, nợ phải thu ngắn
hạn…, ta có hệ số đánh giá khả năng thanh toán nhanh (tức thời):
(Tiền + Tương đương tiền)
Khả năng thanh toán nhanh (tức thời) =
Nợ ngắn hạn
Thông thường hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất.
1.2.4.3.4. Hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn:
Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo hạn trên 1 năm, doanh
nghiệp đi vay dài hạn để đầu tư hình thành TSCĐ. Số dư nợ dài hạn thể hiện
số nợ dài hạn mà doanh nghiệp còn phải trả cho chủ nợ. Nguồn để trả nợ dài
hạn chính là giá trị TSCĐ được hình thành bằng vốn vay chưa được thu hồi.
Vì vậy, người ta thường so sánh giữa giá trị còn lại của TSCĐ được hình
thành bằng vốn vay với số dư nợ dài hạn để xác định khả năng thanh toán nợ
dài hạn. Hệ số thanh toán nợ dài hạn được xác định theo công thức:
Giá trị còn lại của TSCĐ được hình thành bằng nợ vay
Khả năng thanh toán nợ dài hạn =
Nợ dài hạn

Trích đoạn Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động DỰ BÁO TÌNH HÌNH XÂY DỰNG TRONG NHỮNG NĂM TỚI Phương hướng phát triển của Công ty GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status