CON NGƯỜI VIỆT NAM QUA VĂN HỌC
Đề bài : Dùng hiểu biết của mình để làm sáng tỏ nhận định: Văn học Việt Nam đã thể hiện chân thực, sâu sắc
đời sống tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng.
A.Mở bài
Không hiểu vì sao cứ mỗi lần nghĩ đến đất nước và con người VN ,chúng ta lại nghe vang vọng trong tâm trí
mình những câu thơ của Huy Cận :
“ Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thực , sang hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái, bao dung.”
Sảng khoái biết bao! Tự hào biết bao! Trong tâm trí ta bỗng cuồn cuộn đổ về dòng lịch sử hang ngàn năm của
dân tộc. Bừng sang trong tâm hồn của cha ông ta là công cuộc lao động , là chiến công xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc , là trời bể ân tình thủy chung như nhất , yêu thương đùm bọc lẫn nhau của những người quen đứng đầu
song ngọn gió , chống mọi thế lực thù địch. Qua bao phong ba của lịch sử , dân tộc ta đã thể hiện một sức sống
mãnh liệt “ Lưng đeo gươm , tay mềm mại bút hoa” .Quả thật văn học dtộc là một thứ máu của Tổ quốc . Dòng
máu văn học ấy chảy và thắm vào tâm hồn chúng ta hôm nay với một sức sống rạo rực mãnh liệt . Yêu biết bao
nền văn học ấy , nền văn học mà nội dung cũng như hình thức đều phản ánh chân thực , sâu sắc tư tưởng , tình
cảm và sức sống , sự vươn lên của con người VN trong nhiều mối quan hệ đa dạng.
B.Thân bài
1.Văn học trong quan hệ với thế giới tự nhiên
Sức sống ấy bắt đầu bằng mối quan hệ gần gũi,gắn bó với thế giới tự nhiên vô cùng chân thực , sinh động và
độc đáo.Mỗi mảnh đất quê hương chúng ta đều mang hơi thở cuộc sống của những ngày cha ông gian khổ khẩn
hoang vỡ đất để xây dựng non sông đất nước tươi đẹp và tích lũy nhiều hiểu biết phong phú , sâu sắc về thiên
nhiên. Dưới hình thức của tư duy huyền thoại , các tác phẩm dân gian đã vô tình trở thành cây đàn muôn điệu
của tâm hồn nhân dân , nhất là những người lao động VN. Con người VN đổ mồ hôi , xương máu gắn chặt tâm
hồn mình với mảnh đất thiêng liêng ấy. Thiên nhiên đất nước giàu đẹp nhưng cũng lắm thử thách , hăm họa rình
rập theo mỗi bước đi lên của con người VN . Mặc dù vậy , cái tình ta yêu đời , cái tình ta yêu cuộc sống , gian
khổ mấy cũng vui được , cái vui vừa ngời chói , vừa trong sang lạ lùng .Với quy mô hoành tráng , sử thi thần
thoại “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường đã tái hiện lại những hồi ức thô sơ nhưng hấp dẫn về một cộng đồng
người trong quá khứ xa xưa vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển . Hay câu chuyện truyền
thuyết “ Sơn Tinh- Thủy Tinh” ngàn năm rồi vẫn sống trong long dân tộc , âm vang dữ dội , phản ánh những cố
“ Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bong mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn .
( Côn Sơn ca – Nguyễn Trãi)
Hình ảnh những am mây , rừng cây , suối vắng (chốn lâm tuyền) ,rừng thông , núi trúc……thể hiện lí tưởng ẩn
dật , thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường . Trong văn học hiện đại , tình yêu thiên nhiên thể hiện ở sự gắn bó
với quê hương ,đất nước , ở tình yêu cuộc sống đặc biệt ở tình yêu lứa đôi . Tình yêu thiên nhiên trong VH có ý
nghĩa biểu hiện nhân cách , thấm nhuần một tinh thần nhân văn cao quý.ư
2.Văn học trong lịch sử dân tộc
Rồi cũng bước qua những ngày tháng chống thiên nhiên hung dữ , văn học cùng cha ông ta bước vào thời kì bảo
vệ Tổ quốc , chống giặc ngoại xâm . Lịch sử dân tộc ta là lịch sử của những năm tháng con người VN đem
xương máu của mình bảo vệ độc lập của dân tộc . Con người VN được tôi luyện và lớn lên không ngừng với
cuộc chiến đấu chống ngoại xâm dai dẳng và quyết liệt . Buổi cha ông dựng nước cũng chính là buổi cha ông
giữ nước . Những bàn tay biết cầm quốc , cái cày vỡ đất ấy cũng chính là những bàn tay vô cùng kiên quyết , dữ
dội biết cầm vũ khí đánh giặc để bảo vệ vững chắc thành quả lao động của mình . Câu chuyện “ Thánh Gióng “
làm sống mãi trong tâm tư mỗi con người VN ý chí quyết chiến , quyết thắng quân xâm lược . Từ lòng yêu
nước , con người VN này sinh long căm thù , giặc cướp nước . Đến một độ nào đó long căm thù ấy bùng lên ,
con người VN vụt trở mình lớn dậy cùng với hình tượng Thánh Gióng , cùng cây tre quê hương xung phong
diệt giặt . Sức mạnh của long yêu nước , của ý chí căm thù là sức mạnh vô địch . Sức mạnh ấy bắt nguồn từ
Thánh Gióng xa xưa và đã cuồn cuộn chảy trong mạch nguồn dân tộc ,làm nên một sức mạnh nội tại mãnh liệt
không ngừng tăng lên , lớn lên mãi . Lịch sử những cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đã sớm hình thành trong
tâm trí con người VN một sự thống nhất tuyệt đẹp. Thống nhất là sự sống , là sức sống của Tổ quốc ta . Truyền
thuyết đẹp về chín mươi chín voi quay đầu về mộ tổ vua Hùng , một con không chịu chầu liền bị chém cụt đầu
đã chứng minh hung hồn chân lí đó. VH dân gian chúng ta có một ngạn ngữ được coi là phương châm sống : “
Giặc đến nhà ,đàn bà cũng đánh”. Ý chí đánh giặc đã sớm nhập tâm và dường như đã trở thành cái phần bẩm
sinh trong mỗi con người VN.Cha ông chúng ta mỗi khi thấy vó ngựa của quân thù khua ngoài biên ải thì “ tới
bữa quên ăn , nửa đêm vỗ gối , ruột đau như cắt , nước mắt đầm đìa ,chỉ căm tức rằng chưa xã thịt lột da nuốt
gan , uống máu quân thù” ( Hịch tướng sĩ- Trần Quốc Tuấn) ngày đêm canh cánh ý chí giết giặc. Núi sông ta
cũng đã từng rung chuyển bởi tiếng hô “ quyết đánh” của hội nghị Diên Hồng và ý chí “ Sát Thát” của hào khí
Hồ Xuân Hương , tính đả kích XH lại được đẩy lên thật mạnh mẽ khi mà hang ngàn năm trôi qua mà người phụ
nữ vẫn vậy . Đặc biệt , văn học hiện thực giai đoạn 1930-1945 cũng đã lên tiếng phê phán gay gắt , quyết liệt
chế độ thực dân nửa PK , phản ánh cuộc sống tối tăm , thê thảm của người dân cày xứ thuộc địa . Ta bắt gặp chị
Dậu trong cảnh sưu thuế đè nặng lên đôi vai làng Đông Xá , cái ngột ngạt trong tiếng mõ , tiếng tù và , tiếng
quát tháo , đánh đập của bọn tay sai PK . Cúng giống như chị Dậu , anh Pha và Chí Phèo cũng vấp phải hoàn
cảnh tương tự mặc dù trước đó họ lương thiện và tốt bụng biết bao. Liệu trong đời thực sẽ còn bao nhiêu Nghị
lịa , Bá Kiến ức hiếp dành nữa? Song song với việc tốt cáo XH tàn nhẫn bất công , VH hiện thực VN đã khẳng
định mạnh mẽ những phẩm chất tốt đẹp từ ngàn xưa . Ngay trong giờ phút khó khăn đen tối nhất của cuộc
sống , những phẩm chất đó lại càng sáng ngời hơn bao giờ hết , Hai là , VH thể hiện ước mơ tha thiết về một
XH công bằng , nhân đạo đối với con người . Trong VH dân gian , mỗi truyện cổ tích là một giấc mơ đẹp ,
người xưa mơ ước ở hiền gặp lành , ước mơ đổi đời , điều đó làm cho truyện cổ tích kết thúc có hậu . Ca dao ca
ngợi tình nghĩa giữa con người với người . Các tác giả trung đại như Nguyễn Du lại hướng đến tư tưởng nhân
đạo cao cả . Những vần thơ lục bát của dân tộc VN vượt qua mọi phong ba của lịch sử , vượt qua mọi sự tấn
3
cụng ca cỏc th th Trung Quc vn gi c nột uyn chuyn ỏng yờu ca con ngi VN . Kiu l mt nn
nhõn song T Hi li l ngi anh hung chin u cho chớnh ngha . Chớnh ngha i t nc ny sang nc khỏc
khụng cú giy thụng hnh , VH chõn chớnh khụng cú biờn gii . Nhiu nhõn vt trong VH chng Phỏp , chng
M xõm lc tiờu biu cho lớ tng anh hung CM . Ta tỡm v vi m Tm , m Sut , ngi m ginh cm nuụi
ng chớ , nuụi dng v bo v ng bng bung tim mỡnh . Phn ỏnh con ngi v cuc sng trong cỏc mi
quan h XH ó hỡnh thnh ch ngha hin thc v ch ngha nhõn o trong VHVN.
3.Vn hc vi ý thc bn thõn con ngi
Trong lch s v thc tin cuc sng , con ngi luụn phi gii quyt mi quan h gia t tng v k v t
tng v tha gia ý thc cỏ nhõn v ý thc cng ng . Khụng phi bng nguyờn lớ trit hc m bng con ng
riờng ca ngh thut , VHVN ó phn ỏnh quỏ trỡnh la chn , u tranh khng nh o lớ lm ngi quý
bỏu ca dõn tc VN trong s kt hp hi hũa hai phng din ú. Trong nhng hon cnh nghit ngó quyt lit
nh u tranh chng gic ngoi xõm , u tranh vi thiờn nhiờn khc nghit , con ngi VN buc phi cao ý
thc cng ng hn ý thc cỏ nhõn . Vỡ th ụi khi con ngi ta phi hi sinh cỏi tụi cỏ nhõn , coi thng mi
cỏm d bo v o ngha v lớ tng:
Nu mai õy cú cht mt thõn lụi
Hai mi tui tim ang do dt mỏu
4
Hai quá trình trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ : tạo lập văn bản (nói hoặc viết) và lĩnh hội văn bản (nghe
hoặc đọc).). Các nhân tố giao tiếp : nhân vật, hoàn cảnh, nội dung, mục đích, phơng tiện và cách thức giao tiếp
2. K nng Xác định đúng các nhân tố trong hoạt động giao tiếp. Những kĩ năng trong các hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ : nghe, nói, đọc, viết, hiểu.
III. TIN TRèNH LấN LP
1. n nh lp- kim tra s s:
2. Kim tra bi c: Hot ng giao tip bng ngụn ng l gỡ? Hóy nờu cỏc nhõn t tham gia trong
hot ng giao tip bng ngụn ng?
3. Ni dung bi mi:
a. t vn : Khi tỡm hiu v hot ng giao tip bng ngụn ng ta thy: cú hiu qu trong mt hot ng
giao tip cú rt nhiu nhõn t tham gia: nhõn vt giao tip, hon cnh giao tip vy nm tht c th v
nhim v ca cỏc nhõn t y ta tim hiu tit 2 bi hot ng giao tip.
b. Trin khai bi dy:
HOT NG CA GV V
HS
NI DUNG CN T
TIT 5 ( tip theo ): [ Cho 4
nhúm tho lun lm cỏc
BT 1, 2, 3 v 4. Sau ú, c i
din trỡnh by ].
Hot ng 1: tỡm hiu BT 1
? Nhõn vt giao tip õy l
nhng ngi ntn?? Hot ng
giao tip ny din ra vo thi
im no? Thi im ú
thng thớch hp vi nhng
cuc trũ chuyn ntn?
? Nhõn vt anh núi v iu gỡ?
Nhm mc ớch gỡ?
chỏu) l nhm mc ớch hi thc s Do ú A C tr li ỳng vo
cõu hi ny.
c. Li núi ca hai ụng chỏu ó bc l rừ tỡnh cm, thỏi v quan h
ca hai ngi vi nhau( ụng, chỏu, tha, , h, nh) bc l rừ thỏi
kớnh mn ca chỏu vi ụng vs yờu quý, trỡu mn ca ụng vi
chỏu.
Hot ng 3: tỡm hiu BT 3
? HXH ó giao tip vi ngi
c v v gỡ? Nhm mc ớch
gỡ? Bng cỏc phng tin t
ng, hỡnh nh ntn?
? Ngi c cn c vo õu
lnh hi bi th?
Hot ng 4: tỡm hiu BT4
3. BT 3: ( nh th v ngi c )
a. Thụng qua hỡnh tng bỏnh trụi nc, tỏc gi mun núi vi mi
ngi v v p, thõn phn chỡm ni ca ngi ph n núi chung v
ca nh th núi riờng. ng thi khng nh phm cht trong sỏng ca
ngi ph n v ca chớnh mỡnh.
b. Ngi c cn c vo cỏc phng tin ngụn ng nh cỏc t: trng,
trũn (v p), by ni ba chỡm (s chỡm ni), tm lũng son (phm cht
cao p bờn trong). ng thi liờn h vi: cuc i tỏc gi- ngi ph
5
hướng dẫn cho HS làm theo
SGV/ 28. GV nên lưu ý HS các
vấn đề:
- Dạng VB: TB ngắn…
- Hướng tới đối tượng giao tiếp
là các bạn HS tồn trường.
- ND giao tiếp là hoạt động làm
5 . Dặn dò: Học bài- làm bài tập- chuẩn bị bài: Khái qt văn học dân gian; sưu tầm các cầu ca dao/ truyện dân
gian,…có tính dị bản- Soạn bài khái qt văn học dân gian; sưu tầm các cầu ca dao/ truyện dân gian,…có tính
dị bản
Hướng dẫn tự học: Đọc kĩ phần ghi nhớ và nắm vững khái niệm hoạt động giao tiếp bằng ngơn ngữ, 2 q trình
và các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngơn ngữ?
Rút kinh nghiệm:
KHÁI QT VĂN HỌC DÂN GIAN
Tiết 2
+ Nội dung: Những biến cố lớn diễn ra trong đời sống
cộng đồng
* Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu Những
giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam:
III. Những giá trị cơ bản của văn học dân gian
Việt Nam:
- Thao tác 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu giá trị cơ bản
thứ nhất của văn học dân gian.
+ GV: Tại sao văn học dân gian được xem là kho tri
thức?
+ HS: Trả lời
1. Văn học dân gian là kho tri thức vơ cùng
phong phú về đời sống các dân tộc:
- Tri thức thuộc đủ mọi lĩnh vực: Tự nhiên, xã
hội, con người.
+ GV: Văn học dân gian được có giá trị giáo dục đạo lý
làm người và giá trị thẩm mỹ thế nào?
+ HS: Trả lời
- Là những kinh nghiệm lâu đời được đúc kết lại
băng ngơn ngữ nghệ thuật
6
+ GV nêu ví dụ:
tích, truyện ngụ ngôn… thường có giá trị gì?
+ HS: Phát biểu.
+ GV: Truyện “Tấm Cám” đã để lại cho em những bài
học gì?
+ HS: Phát biểu.
o Giúp con người đồng cảm, chia sẻ với nổi bất hạnh
của Tấm.
ôKhẳng định phẩm chất của Tấm: hiền lành, chăm lao
động, cả tin.
o Lên án kẻ xấu: mẹ con Cám.
- Giáo dục tinh thần nhân đạo và lạc quan: yêu
thương đồng lọai, đấu tranh giải phóng con người
khỏi bất công, niềm tin: thiện thắng ác.
+ GV: Ngoài ra, những tác phẩm văn học dân gian còn
hình thành cho con người những phẩm chất gì?
+ HS: Phát biểu.
- Hình thành những phẩm chất truyền thống tốt
đẹp: yêu nước, chống ngoại xâm, vị tha, cần
kiệm. Thực tiễn…
- Thao tác 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu giá trị cơ bản
thứ ba của văn học dân gian.
+ GV: Văn học dân gian có giá trị nghệ thuật thế nào?
+ HS: Phát biểu.
3. Văn học dân gian:
Có giá trị thẩm mỹ to lớn, góp phần tạo nên
bản sắc riêng cho nền vh dân tộc:
+ GV: Hãy dựa vào mỗi thể loại văn học dân gian để
chứng minh nghệ thuật của các thể lọai?
+ HS: Thảo luận và trả lời
+ GV: Ví dụ: Nhiều tác phẩm trở thành mẫu mực về
biểu diễn, dị bản, địa phơng,
Nhớ lại những câu chuyện, những lời ru của bà, của mẹ, mà anh (chị) đã từng nghe.
Tập hát một điệu dân ca quen thuộc.
Soan bi Vn bn
. Rỳt kinh nghim:
CCH LM MT BI VN BIU CM
I. MC TIấU CN T:
Giỳp HS:Nm c nhng nột c bn v c trng th loi v cỏch lm bi vn biu cm, phc v tt cho
bi vit s 1.
II. Phng tin: SGK, SGV, giỏo ỏn
III. Tin trỡnh dy hc:
1. n nh
2. Bi c
3. Bi mi
1. c im ca vn biu cm
- Nu văn miêu tả giúp ngi đọc ngi nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc,
con ngi, phong cảnh, làm chỳng nh hin lên truớc mặt ngi c, ngi nghe thỡ vn biểu cảm là văn bản
không miêu tả hay kể chuyện thuần túy mà chủ yếu nhằm khơi gợi cảm xúc, đánh giá của ngi núi, ngi
vit.
- Bi vn biu cm bao gi cng cú nột riờng, mang du n khỏ rừ ca ngi vit. Nột riờng ny lm nờn
tớnh cht chõn tht, iu tiờn quyt phi cú ca mt bi vn biu cm.
- Tuy l nột riờng nhng nhng cm ngh ú c ngi c ng cm, ún nhn. Giỏ tr ca bi vn biu cm
l ch cỏi riờng ca ngi vit thnh ra cỏi chung ca mi ngi.
- Bi vn biu cm phi giu yu t biu cm mi d dng n vi trỏi tim ngi c.
8
- Bài văn biểu cảm có bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
2. Cách làm bài văn biểu cảm
- Tìm hiểu đề ra, xác định đối tượng để trình bày cảm nghĩ
Ví dụ: + Cảm nghĩ về dòng sông quê hương
+ Cảm nghĩ về người mẹ kính yêu
Đoạn trích có các nhân vật: Đăm Săn, Mtao Mxay, H’nhị, ông trời, dân làng. Các nhân vật có vai trò khác nhau:
Mtao Mxay cùng với hành động cướp vợ là nguyên nhân của sự kiện chiến tranh. Trong hệ thống nhân vật sử thi,
đây là nhân vật đối thủ.
Đăn Săn với chiến công đánh thắng Mtao Mxay vừa bảo vệ hạnh phúc gia đình vừa mang lại sự giàu mạnh và
uy danh cho cộng đồng, là nhân vật trung tâm của sử thi quyết định diễn biến của cốt truyện. Vai trò nhân vật
trung tâm của sử thi còn thể hiện ở chỗ chàng có sức lôi cuốn các nhân vật quần chúng.
Nhân vật ông trời và H’nhị với việc trợ lực cho Đăm Săn là loại nhân vật trợ thủ cho nhân vật anh hùng. Ông
tròi là trợ thủ thần kì, H’nhị là trợ thủ trao vật thần kì cho Đăm Săn. Hành động trợ lực của hai nhân vật này thể
hiện quan niệm về cuộc chiên đấu chính nghĩa của nhân vật anh hùng chống lại nhân vật đối thủ.
Nhân vật quần chúng vừa góp vai trò hâu thuẫn cho nhân vật chính vừa bị lôi cuốn bởi súc mạnh, mục đích
chiến đấu của nhân vật chính. Mối quan hệ qua lại giữa vai trò của nhân vật anh hùng và nhân vật quần chúng
tạo nên ý nghĩa biểu trưng của hình tượng cá nhân người anh hùng biểu trưng cho sức mạnh, lí tưởng của cộng
đồng.
4. Củng cố: Nắm vững nghệ thuật của sử thi
9
5. Dặn dò: Học bài An D¬ng V¬ng vµ MÞ Ch©u- Träng Thñy
Luyện tập Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy
1.Hình ảnh ngọc trai – giếng nước.
- Là hình ảnh đẹp, kết tinh của mối tình thuỷ chung Trọng Thuỷ - Mị Châu? bởi viên ngọc (vốn là máu Mị
Châu chảy xuống biển , trai ăn phải mà thành) đem rửa vào nước giếng (nơi Trọng Thuỷ đã nhảy xuống tự
tử) thì càng trong sáng hơn. Thậm chí có nhà thơ đã từng viết: “ Nước mắt thành mặt trái của lòng tin –
Tình yêu đến cùng đường là cái chết – Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp – Tình yêu bị dối lừa vẫn
nguyên vẹn tình yêu”. Có phải tình yêu bị lừa dối vẫn là một tình yêu đẹp? Và phải chăng nàng Mị Châu
trong trắng, thuỷ chung dẫu chết rồi vẫn chung thuỷ không biết đến đổi thay? Trước khi chết, Mị Châu đã
kịp nhận ra mình bị Trọng Thuỷ lừa dối. Hơn nữa, sự nhẹ dạ của nàng đã phải trả giá rất đắt bằng chính
sinh mạng của nàng, sinh mạng của người cha thân yêu và số phận của cả dân tộc. Vì vậy, nếu có kiếp sau,
liệu Mị Châu có thể tiếp tục mù quáng mà chung tình với một kẻ đã lừa mình như thế được không? Hơn
nữa, trước khi chết, Mị Châu đã ý thức được tội lỗi nặng nề của mình, nặng đến mức nàng không dám xin
tha chết mà chỉ xin được: “biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Liệu sau một lần tỉnh ngộ,
nàng còn có thể nhanh quên tội, tiếp tục thuỷ chung với kẻ thù của mình như vậy được không?
Thế gian này ai đã giải oan
Cho cô gái ngây thơ đất Việt
Tổ quốc hơn ngàn năm rên xiết
Tội này đâu phải tội Mỵ Châu
An Dương Vương thủa ấy đã chìm sâu
Và ngôi báu đã tan thành tro bụi
Con chim cuốc liên hồi kêu buồn tủi
Khóc than chi khi nước đã mất rồi
Bao nỗi niềm day dứt mãi trong tôi
Hồn của nước cuốn theo từng vó ngựa
Sợ không dám nhận tội mình để sửa
Lại dồn lên cô gái tuổi đôi mươi
Ở Đến Công con nghê đá đang cười
Sao lại phải nhờ móng rùa để sống
Cả dân tộc chìm trong màu lông ngỗng
Lông ngỗng rơi Thục Phán cũng xong đời
*
* *
Thi ca ơi! Ngươi phù phiếm mãi thôi
Để nỗi buồn đeo đẳng suốt đời
Để bài học mấy ngàn năm chẳng thuộc
Để chim kia khóc khản tiếng mất rồi
Người dựng nước không biết gìn giữ nước
Kẻ chăn dân không hiểu hết lòng dân
Nước lại mất lại tìm đường cứu nước
Đầu lại rơi, máu lại đổ tràn
Dưới khoảng trời xanh ngắt độ thu sang
Nàng Mỵ Châu mỉm cười cùng nghê đá
Ở đâu đó khói hương bay thong thả
Bỗng xoáy tròn như muốn nói điều chi?
Giá như như trên đời còn có một Mỵ Châu
Vừa say đắm yêu thương vừa luôn luôn cảnh giác
Không sơ hở, chẳng mắc lừa mẹo giặc
Một Mỵ Châu như ta vẫn hằng mơ
Thì hẳn Mỵ Châu không sống đến bây giờ
Ðể chung thủy với tình yêu hai ngàn năm có lẻ
Như anh với em dẫu yêu nhau chung thủy
Ðến bạc đầu bất quá chỉ trăm năm.
Nên chúng ta dù rất đỗi đau lòng
Vẫn không thể cứu Mỵ Châu khỏi chết
Lũ trai biển sẽ thay người nuôi tiếp
Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu.
Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu
Bởi cụt đầu nên tượng càng rất sống
Cái đầu cụt gợi nhớ dòng màu nóng
Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào.
Anh cũng như em muốn nhắc Mỵ Châu
Ðời còn giặc xin đừng quên cảnh giác
12
Nhưng nhắc sao được người hai ngàn năm trước
Nên em ơi ta đành tự nhắc mình.
Anh Ngọc
4 Củng cố: Đọc bài thơ viết về Mị Châu Trọng Thủy.
5.Dặn dò: Học bài cũ
Tiết sau học bài: Lập dàn ý bài văn tự sự
Luyện tập Uy-lit-xơ trở về
Nhập vai Uy-lit-xơ em hãy kể lại cảnh nhận mặt
(Bài văn kể sáng tạo )
Nếu như chiến tranh mang đến cơ hội cho những người đàn ông thể hiện bản lãnh của mình thì lại khiến phụ nữ
chúng tôi phải xa lìa chồng con. Hơn hai mươi năm đã trôi qua,tôi vẫn chờ đợi chàng trở về. Mặc kệ bố mẹ cứ
thế,lòng tôi đau lắm. Nhưng nó đâu hiểu được tâm trạng của mẹ nó như thế nào chứ? Tê-lê-mác bảo tôi:‘‘Sao
mẹ có thể lạnh lùng như thế? Cha con sau ngần ấy năm mới trở về mà mẹ chẳng một lời hỏi han?’’. Có lẽ con
nói đúng Tê-lê-mác ạ. Nhưng mẹ mong con sẽ hiểu cho mẹ. Một mình nuôi con khôn lớn,quyết định‘‘kiên
trinh’’để chờ cha con trở về…Con có biết trong khoảng thời gian ấy mẹ mệt mỏi và đau đớn như thế nào
không? Mẹ không muốn làm mọi người phải lo cho mẹ nên mẹ đã tạo một vỏ bọc cứng rắn và lạnh lùng cho
13
mình. Con có biết mẹ cũng nhớ cha đến nhường nào không? Nhưng con đừng lo lắng quá. Nếu người hành khất
kia đúng là cha con thì sớm muộn gì cha mẹ cũng sẽ nhận ra nhau thôi. Bởi vì cha mẹ có những‘‘dấu
hiệu’’riêng mà chỉ hai chúng ta mới biết. ‘‘Đừng nói như thế với mẹ con Tê-lê-mác ạ! Mẹ con làm như thế cũng
đúng thôi. Cha không trách mẹ đâu. Con yên tâm,cha sẽ chứng minh cho mẹ con thấy!’’. Chàng vừa nói vừa
nhìn tôi bằng ánh mắt trìu mến. Sao đột nhiên tim tôi đập nhanh thế này ?
Tôi sai nhũ mẫu pha nước và lấy quần áo mới cho chàng thay. Sau khi tắm rửa sạch sẽ,chàng đẹp trông chẳng
thua gì một vị thần vậy. Bỗng nhiên chàng nhờ nhũ mẫu kê cho chàng chiếc giường để chàng ngủ một mình như
bấy lâu nay…Một ý nghĩ chợt sáng lên trong đầu tôi:‘‘Đúng rồi! Chiếc giường! Chiếc giường ấy! Chiếc giường
đặc biệt mà chỉ ta và chàng mới biết. Chắc chàng muốn gợi ý cho ta đây mà? Chàng thật thông minh!’’. Tôi bảo
nhũ mẫu kê cho tôi chiếc giường trong phòng tôi ra cho chàng nghỉ. Chàng giật cả mình,có vẻ bối rối. Nhìn
chàng lúc ấy trông thật đáng yêu. Có lẽ chàng đang nghĩ rằng tôi đã lệnh cho ai đó khiêng chiếc giường sang
chỗ khác rồi. Nhưng với vẻ rất bình tĩnh,chàng bình thản hỏi:‘‘Chiếc giường ấy làm sao có thể di chuyển đựơc
chứ? Ta đã làm nó cho nàng với tất cả tình yêu của ta! Một trong bốn chiếc chân giường kia là gốc cây ô-liu.
Tấm trải giường được ta trải bằng lớp lông cừu mềm mại…’’.Tôi chẳng thể nghe hết những lời nói sau của
chàng nữa! Đúng là chàng rồi! Uy-lít-xơ của em! Chàng đã trở về với em thật rồi! Chỉ có chàng mới biết rõ
chiếc giường và miêu tả đúng như thế! Tôi quá hạnh phúc đến nỗi chẳng còn quan tâm đến mọi người xung
quanh nữa! Tôi chạy đến ôm lấy chàng,hôn chàng. Việc mà tôi nghĩ chỉ có thể ở trong mơ thôi. Tôi đang ở ngay
đây,ngay trong vòng tay ấm áp của chàng. Tôi nói với chàng rằng:‘‘Không phải em không muốn chạy đến ôm
chàng khi chàng trở về đâu. Em rất muốn là khác! Nhưng cuộc sống có quá nhiều cạm bẫy đã khiến em trở nên
đa nghi và thận trọng hơn. Em sợ đó không phải là chàng mà là một tên cầu hôn nào đó giả dạng. Chàng đừng
giận em nhé! Em xin lỗi vì đã lạnh nhạt với chàng như thế…’’.‘‘Không sao đâu,ta không giận nàng đâu. Ta nhớ
và yêu nàng lắm,Pê-nê-lốp ạ!’’.Chàng lau những giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên má tôi,hôn lên trán tôi rồi
ôm tôi vào lòng…Thật ấm áp làm sao!
Được sống bên chàng,được chàng bảo vệ và che chở như những ngày tháng trước đây. Ôi còn gì hạnh phúc
2 Củng cố;
3 Dặn dò: Hoàn thiện bài phân tích
CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA
Lập dàn ý bài ca dao số 4 “Khăn thương nhớ ai
2. Bài mới:
Phân tích bài thơ " Khăn thương nhớ ai "
1. Mở bài: Giới thiệu bài ca dao.
Chuyển ý
2. Thân bài: * Nỗi thương nhớ của cô gái
- Nhân vật trữ tình là cô gái, cô gái đang ở tâm trạng nhớ nhung vời vợi…
- Nỗi nhớ ấy thể hiện qua các từ thương, nhớ hay những câu hỏi về niềm thương nhớ ai? láy đi láy lại tha
thiết suốt bài ca
- Cái khăn được cô gái hỏi đến đầu tiên và nhiều nhất, trong suốt 6 câu thơ đầu (nửa bài ca). Bởi cái khăn cũng
như cái áo đã trở thành biểu tượng của tình yêu nam nữ, thường là vật trao duyên…
- Nhưng đặc biệt nhất, chiếc khăn được miêu tả gắn liền với những trạng thái cụ thể xuống, lên, rơi, vắt Cố
nhiên đó là những động thái con người tạo ra ở chiếc khăn.
Đây là một nỗi nhớ không định hình, định khối mà như mênh mang khắp không gian. Nỗi nhớ tiếp tục được
gửi vào hình tượng ngọn đèn thao thức suốt đêm thâu…
Và cuối cùng dường như không kìm lòng được nữa cô gái hỏi chính lòng mình:
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên.
Như vậy nỗi nhớ được diễn tả trong 10 câu thơ 4 chữ rất dồn dập, có sự vận động dâng trào, từ gián tiếp đến
trực tiếp (từ khăn đến đèn đến mắt) từ bề rộng đến bề sâu, từ không gian, thời gian đến tâm thức con
người khắc khoải, thiết tha.
* Nỗi lo phiền của cô gái
- Đến hai câu kết, kết cấu lời thơ bỗng có sự chuyển biến từ những câu thơ 4 chữ dồn dập sang thể lục bát nhẹ
nhàng hơn, nhưng cũng xao xuyến hơn, rung động hơn. Nó phù hợp để diễn tả một niềm lo âu mênh mang của
cô gái.
- Cô gái lo âu cho số phận của mình, duyên phận lứa đôi “không yên một bề”. Đó là nỗi lo phiền không chỉ
riêng của cô gái mà của tất cả người phụ nữ trong xã hội xưa.
Con heo bốn cẳng, con gà hai chân.
+ Phê phán thầy địa lí:
- Hòn đất mà biết nói năng,
Thì thầy địa lí hàm răng chẳng còn
4. Củng cố: thuôc một số bài ca dao hài hước
5. Dặn dò:Soạn lời tiễn dặn
Tuần 10 Tiết 46,47: ÔN TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
VÀ HS
NỘI DUNG CẦN ĐẠT
Hoạt động 1: ôn tập nội
dung đã học
DỰA VÀO BÀI KQ
VHDG VN
? Các đặc trưng của
VHDG? VD?
I. Nội dung ôn tập:
1. Các đặc trưng của VHDG:
- Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng (tính truyền miệng).
- Được sáng tạo tập thể( tính tập thể ).
- Gắn bó với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng (tính thực
hành ).
2. Thể loại của VHDG:
Sân
16
? VHDG có những thể loại
nào? Và lập bảng theo
phần 2 – Tr 100?
? Lập bảng tổng hợp, SS
theo phần 3 – Tr 100?
NHÂN
VẬT
CHÍNH
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ
THUẬT
Sử thi
(anh
hùng)
Ghi lại cuộc
sống và ước
mơ phát triển
cộng đồng
của người dân
Tây Nguyên
xưa.
Hát - kể
XH Tây
Nguyên cổ
đại đang ở
thời kì
công xã thị
tộc.
Người anh
hùng sử thi
cao đẹp, kì
vĩ (Đăm
Săn)
So sánh, phóng đại, trùng
điệp tạo nên những hình
tượng hoành tráng, hào
Từ LS có thật đã được hư
cấu thành câu chuyện hoang
đường, kì ảo.
Truyện cổ
tích
Thể hiện
nguyện vọng,
ước mơ của
nhân dân
trong XH có
giai cấp,
chính nghĩa
thắng gian tà
Kể
Xung đột
XH, cuộc
đấu tranh
giữa thiện
và ác,
chính
nghĩa và
gian tà.
Người con
riêng
(Tấm),
người con
út, người lđ
nghèo khổ
bất hạnh,
người tài
xấu
(anh học
trò giấu
dốt, thầy lí
tham tiền).
Truyện ngắn gọn, tạo tình
huống bất ngờ, phát triển
nhanh, kết thúc đột ngột để
gây cười.
17
? Nội dung của ca dao than thân? Được
thể hiện qua các hình ảnh SS, ẩn dụ nào?
? Nội dung của ca dao yêu thương tình
nghĩa? Được thể hiện qua các hình ảnh
SS, ẩn dụ nào?
? Nội dung của ca dao hài hước? Được
thể hiện qua các hình ảnh SS, ẩn dụ nào?
? Nghệ thuật chung của ca dao?
CHO 4 NHÓM LÀM CÁC BT 1, 2, 3, 4
– Tr101, 102.
Hoạt động 2: Vận dụng thực hành bài
tập
HS đọc lại 3 đoạn ở BT 1 đã nói
Nghệ thuật miêu tả nhân vật anh hùng sử
thi?
? Tác dụng của nghệ thuật đó?
? BT 2 – Tr 101?
4. Ca dao:
a. Nội dung:
- Ca dao than thân: thường là lời than thân của người phụ
vào bi kịch gia đình,
quốc gia
Thần Kim
Quy, lẫy nỏ
thần, ngọc trai
– giếng nước,
ADV về thủy
phủ
Mất tất cả:
Tình yêu.
Gia đình.
Đất nước.
Cảnh giác giữ nước, không chủ
quan như ADV, không nhẹ dạ, cả
tin như Mị Châu.
? Làm sáng tỏ sự chuyển biến của hình
tượng Tấm?
? Lập bảng và ghi ND theo yêu cầu ở BT
4 – Tr 102?
3. Sự chuyển biến của hình tượng Tấm:
Tấm chưa ý thúc rõ về thân phận của mình, mâu thuẫn
chưa căng thẳng, lại được Bụt giúp đỡ nên thụ động mâu
thuẫn càng quyết liệt một mất một còn buộc Tấm phải đấu
tranh để giành lại hạnh phúc Đó chính là sức sống, sức
trỗi dậy mãnh liệt của con người khi bị vùi dập, sức mạnh
của Thiện thắng Ác.
4. Truyện cười:
18
Tên truyện Đối
tượng
? Việc lập lại mở đầu như vậy có tác dụng
ntn?
? Thống kê các hình ảnh SS, ẩn dụ trong
những bài ca dao đã học?
CÁC CÂU KHÁC GV HƯỚNG DẪN
CHO HS VỀ NHÀ LÀM
5. Bài tập 5:
a. Điền tiếp vào các câu: - Thân em như… ;- Chiều
chiều…
Mở đầu lặp lại nhiều lần có tác dụng nhấn mạnh để
làm tăng thêm màu sắc gợi cảm cho người đọc.
b. – Các hình ảnh SS, ẩn dụ: tấm lụa đào, củ ấu gai…
tấm khăn, ngọn đèn, cái cầu, gừng cay – muối mặn,
trăng, sao, mặt trời…
- Người bình dân thương lấy trong đời sống thiên
nhiên, vũ trụ…
6. Bài tập 6:
4.Củng cố : Vận dụng kiến thức đã học để pt một tp VHDG theo đặc trưng thể loại.
5. Dặn dò:
Hướng dẫn tự học :
- Lập các bảng thể loại, so sánh các thể loại VHDG
- Soạn bài “KHÁI QT VHVN TỪ TK X – HẾT TK XIX( VĂN HỌC TRUNG ĐẠI ) (Theo nhóm)
Rút kinh nghiệm:
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………….,:
KHÁI QT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX
HCLS
- t nc c
lp t nm 938,
sau ú ó ỏnh
bi nhiu cuc
xõm lc ca
quõn Tng,
Mụng Nguyờn
v xõy dng t
nc phỏt trin.
- VH vit ra i
gm c ch Hỏn
v Nụm(nhng
ch yu l ch
Hỏn ).
Sau chin thng
quõn Minh, t
nc phỏt trin
cc thnh.
Nhng bc
sang TK XVI
ch PK bt
u khng
hong dn n
ni chin v
chia ct.
N ri vo ni chin, thng
li v thng nht N ca
phong tro Tõy Sn, sau ú
triu Nguyn khụi phc v
trỏng
Ngh
thut
Nhng thnh
tu ln v vn
chớnh lun, vn
xuụi vit v lch
s, vn húa, th
phỳ
+ VH ch Hỏn:
thnh tu ca
vn chớnh lun
+ VH ch Nụm:
to ra nhng th
th dõn tc
VH phỏt trin mnh c v
vn xuụi v vn vn, c ch
Hỏn v ch Nụm, cỏc th th
dõn tc cng t ti nh cao.
sỏng tỏc vn hc ch
yu theo nhng th
loi v thi phỏp
truyn thng. Tuy
nhiờn, s xut hin
cỏc tỏc phm bng
ch quc ng lm
cho VH cú bc i
mi.
Vn nc
Phỏp Thun.
quốc âm thi tập
NAEFDc
guyễn Gia Thiều.
- Thơ Hồ Xuân Hương.
- Truyện Kiều – Nguyễn Du
– Nguyễn Đình
Chiểu.
+ Thơ Nguyễn
Khuyến.
+ Thơ Tú Xương.
Hoạt động 3 : Tìm hiểu những
đặc điểm lớn về nội dung của
VHTĐ VN
Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện
qua những tình cảm gì? Dẫn chứng
minh họa?[ SGK – Tr 109 ]
? Chủ nghĩa nhân đạo có nguồn gốc
từ đâu?
? Biểu hiện của chủ nghĩa nhân
đạo? Đọc hiểu văn bản vài tác phẩm
để làm sáng tỏ?
[ SGK – Tr 109 ]
? Thế nào là cảm hứng thế sự ? Ví
dụ?
Hoạt động 4 : Tìm hiểu những đặc
điểm lớn về nghệ thuật của
VHTĐ VN
? Các em hiểu như thế nào là tính
quy phạm?
GV cần dẫn chứng cho các em
- Biểu hiện:
+ Lòng thương người.
+ Lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người.
+ Khát vọng về quyền sống, hạnh phúc,tự do.
+ Đề cao phẩm chất tốt đẹp của con người.
3. Cảm hứng thế sự:
- Cảm hứng thế sự là bày tỏ suy nghĩ, tình cảm về cuộc sống con
người và cuộc đời.
- Tác phẩm hướng tới hiện thực cuộc sống và XH đương thời.
IV. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của VH từ TK X – hết
TK XIX:
1. Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm:
- Tính quy phạm là sự quy định chặt chẽ theo khuôn mẫu. Thể
hiện ở:
+ Quan điểm VH: coi trọng mục đích giáo huấn( thi dĩ ngôn chí,
văn dĩ tải đạo ).
+ Tư duy nghệ thuật: theo mẫu có sẵn, công thức.
+ Thể loại VH: quy định chặt chẽ về kết cấu.
+ Cách sử dụng thi liệu: dùng nhiều điển cố, điển tích( ước lệ,
tượng trưng ).
- Tuy nhiên, có nhiều tác giả đã phá vỡ tính quy phạm, phát huy
cá tính sáng tạo.
2. Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị:
- Trang nhã thể hiện ở đề tài, chủ đề, hình tượng hướng tới vẻ tao
nhã, mĩ lệ hơn cái mộc mạc; và cả ngôn ngữ cũng trau chuốt, hoa
mĩ.
- Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, văn học càng gắn bó với
21
HS đọc và đánh dấu phần GHI
NHỚ
nêu lên một khí thế bất khả chiến bại của quân ta lúc bấy giờ. Ở câu thơ này, tác giả đã khéo léo sử dụng ngôn
từ để vẽ nên một người chiến sĩ rừng rực khí thế Đông A!
Ấy chỉ mới là một người chiến sĩ, vậy còn cả đội quân, cả tam quân thì sao? “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”.
Ta có thể hiểu ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu hay ba quân khí mạnh lấn át cả sao Ngưu. Và chăng, khi vừa
đọc lên câu thơ thì ai nấy đều đã cảm nhận được cái khí thế hùng dũng ra trận quyết chiến ấy. Cái khí thế mà
cả sao trời cũng phải cúi mình nhún nhường, cái khí thế mà một con trâu to thật to cũng phải bị nuốt trôi một
cách dễ dàng. Chứng tỏ một điều rằng khí thế hùng mạnh này sẽ ngày càng tăng thêm nhiều hơn nữa theo
chiều hướng chiến đấu. Cũng bởi ngon lữa khát khao tự do cháy bỏng trong tim mỗi con người đất Việt đang
phừng phực cháy, không chỉ là một ngọn lửa mà hàng trăm hàng ngàn ngọn lửa gộp lại với nhau thành một
biển lửa. Một biển lửa đốt cháy mọi âm mưa của kẻ thù, một biển lửa phá tan mọi gông cùm xiềng xích hàng
trăm năm qua, một biển lửa đốt cháy niềm khát khao độc lập tự do… Và thế, với lửa trong tim và khí chất
“Đông A” hùng dũng. Nhân dân Việt “cầm giáo” xông pha trận mạc, chiến đấu và mang hạnh phúc, bình yên
đến với quê nhà…
Tiếp theo sau đó, Phạm Ngũ Lão chợt nhận ra rằng mình còn một món nợ rất lớn, mà cả đời ông cũng chưa
chắc trả hết, đó là nợ công danh. “Nam nhi vị liễu công danh trái”. Một món nợ mà chỉ có người nam nhi,
quân tử mới cảm thấy rằng mình không bao giờ trả đủ. Là tại sao vậy? Tại sao lại chiến đấu hết mình, bất chấp
hy sinh… mà vẫn cảm thấy không sao trả hết nợ? Đó là bởi vì đất nước chưa hết mối lo, nhân dân chưa hết đói
khổ, vậy thì sao có thể yên vị mà vui chơi được! Vậy nên món nơ ngàn đời này vẫn phải trả, trả đến khi nào
không thể trả nữa thôi. Tác giả đã trải lòng mình theo bài thơ, đã tâm sự, đã truyền đạt hết những gì ấp ủ trong
lòng. Phía sau cái hào khí vững mạnh ấy, là một con người còn nặng nợ công danh, nặng tình, nặng nghĩa.
22
Luôn suy nghĩ, đắng đo vì nước vì dân. Bởi thân “làm trai cho đáng nên trai”, cho đáng với đất nước ngàn thu
này! Cho đáng với Vũ Hầu Gia Cát Lượng! Để không phải “thẹn” khi nghe chuyện vũ Hầu nữa. Để những
chiến tích còn có thể lưu vang ngàn đời, để người đời sau còn nhớ về một người anh hùng hết mình hy sinh vì
nước vì dân.
Cả bài thơ là một giọng điệu oai hùng, dũng mãnh ào ào khí thế ra trận. Với nghệ thuật dùng từ ngữ giàu hình
ảnh, mang đậm khí chất Đông A.
Lại trở về với hiện tại, bước ra khỏi màn sương lịch sử, ta đã làm gì cho đất nước này chưa? Ta đã có giữ lại
khí thế Đông A ấy không? Ta đã hy sinh gì cho đất nước này? Vẫn chưa…món nợ ấy ta vẫn chưa trả…chưa trả
hết đâu…
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Cuộc sống của thi nhân là vậy. Cả cuộc đời nghèo khó, nhưng đó chỉ là ở phương diện vật chất mà thôi.
Nhìn vào thi liệu thì bức tranh tất được vẽ vào lúc cuối hè : hoa lựu đang rộn ràng chuyển sang màu đỏ rực, sen
thì đã tiễn mùi hương. Việc lựa chọn thời gian nghệ thuật cũng như cách thức miêu tả thiên nhiên hẳn không
phải là chuyện ngẫu nhiên. Lá hoè ngả sang màu lục, um tùm dồn lại thành từng khối lá xanh, toả rộng, che rợp
cả mặt sân. Hoa lựu không còn nhạt mà rực rỡ như những chùm lửa đỏ. Sau này Nguyễn Du cũng dùng hoa lựu
23
để nói cái oi bức, rực nóng của mùa hè :
Dưới trăng quyên đã gọi hè,
Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông.
Dưới những ao đầm, hoa sen hồng đã nở rộ xen giữa những chiếc lá mát xanh, cả đầm sen đưa hương thơm
ngát. Điểm vào cái không gian ấy là tiếng ve kêu ồn ã như đang trút hết mình cho phút chiều tà. Nếu mùa xuân
là mùa cây cối đâm chồi nảy lộc thì mùa hạ là lúc trưởng thành. Đặc biệt cuối hè là lúc nó phô diễn một sức
sống căng đầy, sung mãn nhất của sự trưởng thành. Nó bắt đầu kết trái cho mùa thu để rồi chuẩn bị cho sự hoá
thân vào mùa đông. Thiên nhiên trong bài thơ này là thế : dường như nó đang ở trạng thái căng đầy nhất. Một
bức tranh thiên nhiên đủ gợi cho chúng ta liên tưởng về một cuộc sống ấm no, đủ đầy.
Hài hoà cùng thiên nhiên là cuộc sống sinh hoạt thường nhật của người lao động :
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Hàm ý của câu thơ dồn cả vào cái âm thanh của chợ cá. Sự náo nhiệt của chợ cá gợi lên sự liên tưởng về cuộc
sống no ấm thanh bình của người dân. Bởi chợ cá ở đây rất có thể chỉ là một góc chợ quê, mà âm thanh vẫn rộn
ràng náo nhiệt vô cùng.
Làm theo thể thất ngôn bát cú nhưng kết cấu đề - thực - luận - kết xem ra không phải là lựa chọn hợp lí để tiếp
cận bài thơ này. Bài thơ có thể được chia theo bố cục 6/2. Trên là vẻ đẹp của thiên nhiên và âm thanh cuộc
sống, dưới là ước vọng của nhà thơ :
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
là một mô típ thường thấy trong thơ Nguyễn Trãi. Một tấc lòng ái ưu luôn chỉ chực dâng lên cùng sóng nước.
Câu thơ gắn với một điển tích. Ở Trung Quốc thời cổ đại có một triều đại lí tưởng (thực chất là một cộng đồng
người nguyên thuỷ sống theo bộ tộc) được đời đời truyền tụng như là một hình mẫu đẹp - thời vua Nghiêu
Thuấn. Vua Thuấn có cây đàn (gọi là Ngu cầm). Vua thường hay dạo khúc Nam phong trong đó có câu "Nam
- Câu 5, 6:
+ Thức ăn đạm bạc, sinh hoạt dân dã theo mùa: “thu ăn măng trúc”, “đông ăn giá”, “xuân tắm hồ sen”,
“hạ tắm ao” cuộc sống đạm bạc, giản dị ở nông thôn.
+ Cuộc sống thanh cao trong sự hòa hợp với tự nhiên Hai câu thơ là một bức tranh tứ bình về cảnh sinh hoạt
với 4 mùa xuân - hạ - thu - đông, có mùi vị, có hương sắc, có nước trong, có hương thơm thanh quý.
Cuộc sống đạm bạc, thanh cao.
2. Vẻ đẹp nhân cách và trí tuệ (câu 3, 4 và 7, 8):
a. Vẻ đẹp nhân cách:
+ Đối lập: “ta” – “người”; “dại” – “khôn”; “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao”.
+ “Ta tìm nơi vắng vẻ”: nơi ít người, không người cầu cạnh ta và ta cũng không cầu cạnh người nơi tĩnh tại
của thiên nhiên và nơi thảnh thơi của tâm hồn.
+ “Người đến chốn lao xao”: ồn ào, sang trọng, chốn cửa quyền nơi ngựa xe tấp nập, có kẻ hầu người hạ,
có thủ đoạn mất tính người, tình người.
Nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối lập với danh lợi.
b. Vẻ đẹp trí tuệ:
- Quan niệm về “khôn” và “dại”:
+ Tác giả vừa tỉnh táo vừa thông tuệ thể hiện trong thái độ xuất xử, chọn lựa lẽ sống: ông tự nguyện làm
người “dại”, mặc kệ những ai “khôn” ý thơ hóm hỉnh đùa vui trong cách nói ngược “Dại” thực chất là
“khôn” và ngược lại.
+ “Dại” và “khôn” của ông xuất phát từ triết lí dân gian: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” Cái khôn của
người thanh cao là quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung hòa nhập với thiên
nhiên.
- Nhãn quan tỏ tường và cái nhìn thông tuệ:
+ Uống rượu để say thực ra đề tỉnh.
+ Phú quí: công danh, của cải, quyền quí tựa chiêm bao.
Trung thành với cuộc sống nho gia là hình thức phản kháng lại xã hội phong kiến đương thời để bảo vệ
phẩm giá.
ĐỘC TIỂU THANH KÍ
Nguyễn Du
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du từng tâm sự: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn