CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY AISC
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG
1.1.1Lịch sử hình thành và phát triển
1.1.1.1Lịch sử hình thành
Công ty TNHH Kiểm Toán và Dịch Vụ Tin Học (AISC) tiền thân là một doanh
nghiệp Nhà Nước hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, tư vấn và đào tạo trên
khắp Việt Nam. Công ty TNHH Kiểm Toán và Dịch Vụ Tin Học (AISC) là một trong ba
công ty kiểm toán Việt Nam được thành lập đầu tiên theo:
♦ Giấy phép kinh doanh số 103020 ngày 4/5/1995 của Trọng tài Kinh Tế thành phố.
♦ Quyết định số 1992/QĐ – UB –TM của UBND thành phố Hồ Chí Minh 29/4/1994
♦ Thông báo số 637/TC/CĐKT ngày 21/3/1994 của Bộ Tài Chính
Công ty TNHH Kiểm Toán và Dịch Vụ Tin Học (AISC) được thành lập trên cơ sở
sự kết hợp của hai bộ phận thuộc Sở Tài Chính đó là:
♦ Trung tâm tính toán Sở Tài Chính
♦ Một phần nhân sự của khối quản lý tài vụ Doanh Nghiệp Nhà Nước ghép với bộ
phận xây dựng cơ bản.
Căn cứ Quyết định số 5029/QĐ-UBND ngày 07 tháng 11 năm 2007 của Uỷ Ban
Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh về việc phê duyệt phương án chuyển đổi Công ty
Kiểm Toán và Dịch Vụ Tin Học Tp.HCM thành Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Kiểm
Toán và Dịch Vụ Tin Học TP.HCM.
1.1.1.2 Quá trình phát triển
Trụ sở chính của Công ty TNHH Kiểm Toán và Dịch Vụ Tin Học (AISC) đặt tại
số 142 Đường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Do nhu cầu ngày
càng tăng về số lượng cũng như chất lượng của dịch vụ mà công ty cung cấp, Công ty
TNHH Kiểm Toán và Dịch Vụ Tin Học (AISC) đã không ngừng mở rộng và phát triển
hoạt động của mình, hiện nay công ty đã có các chi nhánh và văn phòng đại diện ở các
miền của đất nước.
♦ Văn phòng đại diện Miền Tây đặt tại 64 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thành phố Cần Thơ.
Được thành lập ngày 15/6/2000
văn số 302/VACPA công khai lần 1 doanh sách các công ty kiểm toán đủ điều kiện thực
hiện kiểm toán năm 2007 và 2008, trong đó có Công ty TNHH Kiểm Toán và Dịch Vụ
Tin Học thành phố Hồ Chí Minh (AISC).
Theo Công văn này, hiện nay có gần 140 công ty kiểm toán đang hoạt động ở Việt
Nam. Kể từ ngày 1/10/2006, các công ty kiểm toán này phải thực hiện việc thông báo
danh sách kiểm toán viên đăng ký hành nghề với Hội Kiểm Toán Hành Nghề Việt Nam
(VACPA). Chỉ những công ty kiểm toán có từ ba người có chứng chỉ kiểm toán viên trở
lên làm việc toàn hộ thời gian cho công ty mới đủ điều kiện thực hiện kiểm toán và được
VACPA ký xác nhận danh sách kiểm toán viên đăng ký hành nghề. Các kiểm toán viên
đã đăng ký hành nghề và được VACPA xác nhận mới được ký tên trong Báo Cáo Kiểm
Toán.
Ngày 10 tháng 1 năm 2008, Bộ Tài Chính ra Quyết định số 61/QĐ-BTC về việc
công bố danh sách tổ chức tư vấn định giá được phép cung cấp dịch vụ xác định giá trị
doanh nghiệp năm 2008.
Theo đó, Công ty TNHH Kiểm Toán và Dịch Vụ Tin Học thành phố Hồ Chí Minh
là một trong 12 công ty kiểm toán được phép cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh
nghiệp theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của
Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 2
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
Theo quy định của Bộ Tài Chính đây là những tổ chức đã áp dụng đủ các tiêu
chuẩn theo quy định của Bộ Tài Chính và là tổ chức có năng lực xác định giá trị doanh
nghiệp.
Theo Quyết định số100/2007/QĐ-BTC ban hành ngày 6/12/2007 về quy chế lựa
chọn và giám sát các tổ chức tư vấn định giá, Bộ Trưởng Bộ Tài Chính quy định: Các tổ
chức trong nước đăng ký cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp phải đáp ứng đủ
các tiêu chuẩn, điều kiện sau: Có quy trình nghiệp vụ xác định giá trị doanh nghiệp phù
hợp với các quy định hiện hành về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành
Trang 3
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
♦ Cung cấp các phần mềm tin học như: quản lý kinh doanh, kế toán thuế doanh
nghiệp, quản lý khách sạn, quản lý Ngân sách Nhà nước, quản lý các định mức
XDCB,…
1.2 CƠ CẤU BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY AISC
1.2.1Tổ chức quản lý của đơn vị
Bộ máy tổ chức của công ty được phân cấp một cách rõ ràng, phân nhiệm cụ thể.
Đứng đầu công ty là giám đốc, điều hành toàn bộ hoạt động của công ty. Phó giám đốc
chịu trách nhiệm điều hành tất cả các phòng ban và các văn phòng đại diện. Ở các phòng
ban, đứng đầu là các trưởng phòng, được toàn quyền điều hành các nhân viên dưới do
mình phụ trách.
Công ty bao gồm các phòng ban như sau:
♦ Sáu phòng kiểm toán doanh nghiệp : Mỗi phòng có những hợp đồng kiểm toán
báo cáo tài chính cho các khách hàng riêng biệt, kiểm toán theo luật định giúp các
đơn vị kinh tế xác định đúng quyền lợi và trách nhiệm của mình, kiểm tra và rà
soát các khoản mục trên báo cáo tài chính có được thực hiện theo đúng chuẩn
mực, giám định kế toán tài chính nhằm giúp các công ty trong việc tranh chấp,
kiện tụng, thanh lý tài sản.
♦ Hai phòng kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản : Công việc chính là kiểm tra việc
thực hiện và thanh lý các hợp đồng xây dựng, thẩm tra dự toán thi công, dự toán
đấu thầu cho các công trình xây dựng cơ bản trong nước và nước ngoài, kiểm tra
xác định giá thành của công trình xây dựng phục vụ cho việc quyết toán công
trình, đồng thời đảm nhận chức năng thuyết minh, lên báo cáo kiểm toán.
♦ Phòng tin học : Phụ trách công tác nghiên cứu, xây dựng và lắp đặt các phần mềm
tin học quản lý kinh tế, kế toán, tài chính, thống kê, kho bạc, ngân hàng…
♦ Phòng kế toán : Thực hiện việc tổ chức hệ thống nghiệp vụ kế toán, kiểm tra,
hướng dẫn và thi hành theo đúng pháp lệnh kế toán Nhà nước ban hành, lập báo
cáo tài chính và báo cáo quyết toán định kỳ theo quy định của Nhà nước và cấp
toán theo chế độ kế toán Việt Nam. Niên độ bắt đầu 1/1 và kết thúc ngày 31/12
hàng năm.
♦ Việc ghi chép kế toán được hỗ trợ bằng phần mềm do phòng tin học của công ty
thiết kế.
♦ Hình thức sổ kế toán : áp dụng theo hình thức Nhật Ký Chung.
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 5
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
1.2.3Sơ đồ phòng kế toán
1.3 NGUYÊN TẮC, MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG
1.3.1Nguyên tắc hoạt động
♦ AISC hoạt động theo nguyên tắc độc lập về nghiệp vụ chuyên môn, tự chủ về tài
chính khách quan, chính trực, bảo vệ quyền lợi và bí mật kinh doanh của khách
hàng như quyền lợi của chính bản thân mình trên cơ sở tuân thủ luật pháp quy
định, nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp.
♦ Bảo đảm chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng.
♦ Uy tín của công ty là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu mà mọi nhân viên
AISC phải luôn ghi nhớ và thực hiện.
♦ Công ty luôn phục vụ tận tình, đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của khách hàng.
1.3.2Mục tiêu hoạt động
♦ Góp phần giúp cho doanh nghiệp, đơn vị kinh tế thực hiện tốt công tác kế toán –
tài chính theo đúng quy định và pháp luật của Nhà nước Việt Nam và các nguyên
tắc, chuẩn mực kế toán.
♦ Giúp cơ quan Nhà nước có số liệu chính xác, trung thực để thực hiện tốt các chức
năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
♦ Tạo ra các báo cáo tài chính giúp các doanh nghiệp có thể niêm yết trên thị trường
chứng khoán nhằm huy động vốn từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
♦ Nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến của thế giới thực hiện tin
học hóa công tác quản lý Nhà nước.
PHÒNG
HÀN
H
CHÍN
H
C.N
HÀ
NỘI
C.N
ĐÀ
NẴNG
VPĐD
HẢI
PHÒN
G
VPĐD
CẦN
THƠ
CHỦ TỊCH
HĐTV
CÁC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
♦ Cung cấp đội ngũ kế toán trưởng có khả năng đáp ứng yêu cầu các doanh nghiệp,
luôn cập nhật chế độ, chuẩn mực kế toán…
1.3.3 Phương hướng hoạt động
♦ Về hoạt động sản xuất kinh doanh
- Tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và đáp ứng
- Mở rộng mối quan hệ để ký hợp đồng kiểm toán
- Tạo môi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp và cơ hội thăng tiến hơn
quy định khá chặt chẽ về những công việc cần phải tiến hành trong giai đoạn này dựa vào
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 7
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
đó công ty xây dựng thành các quy trình kiểm toán chi tiết phù hợp với đơn vị mình và
phù hợp từng nhóm khách hàng cụ thể.
Giai đoạn II : Thực hiện kế hoạch kiểm toán.
Để thu thập những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp nhằm chứng minh
cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên. Trong giai đoạn này kiểm toán viên cần thực
hiện hai thử nghiệm chính, đó là :
Thử nghiệm kiểm soát : Là loại thử nghiệm để thu thập bằng chứng về tính hữu
hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Thí dụ, kiểm toán viên có thể chọn mẫu các hóa đơn
bán hàng để kiểm tra sự xét duyệt của người có thẩm quyền. Kết quả của thử nghiệm này
sẽ là bằng chứng để kiểm toán viên giữ nguyên hay mở rộng những thử nghiệm cơ bản.
Thử nghiệm cơ bản : Bao gồm các thủ tục để thu thập bằng chứng nhằm phát
hiện các sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính . Có hai loại thử nghiệm cơ bản là thủ
tục phân tích và thử nghiệm chi tiết.
Trong thủ tục phân tích, kiểm toán viên so sánh các thông tin và nghiên cứu các xu
hướng để phát hiện những biến động bất thường. Thí dụ việc so sánh số dư cuối kỳ và
đầu kỳ của các khoản phải thu, hoặc việc tính vòng quay nợ phải thu có thể tiết lộ cho
kiểm toán viên biết về khả năng có sai lệch trọng yếu trong số dư nợ phải thu cuối kỳ.
Khi thực hiện thử nghiệm chi tiết, kiểm toán viên đi sâu vào việc kiểm tra các số
dư hoặc nghiệp vụ bằng phương pháp thích hợp, chẳng hạn như gửi thư xác nhận các
khoản phải thu hay chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho…
Giai đoạn III : Hoàn thành kiểm toán.
Là giai đoạn tổng hợp và rà soát lại những bằng chứng đã thu thập được để kiểm
toán viên hình thành ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán. Tùy theo sự đánh giá về
mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính mà kiểm toán viên sẽ phát hành loại
báo cáo kiểm toán tương ứng.
Là sự xem xét các số liệu, thông tin của đơn vị thông qua việc so sánh và nghiên
cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau, và giữa những thông tin tài chính
với các thông tin phi tài chính.
Thủ tục phân tích là một trong những thủ tục kiểm toán quan trọng, giúp kiểm
toán viên thu thập những bằng chứng để làm cơ sở cho ý kiến của mình. Có rất nhiều kỹ
thuật khác nhau giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và
thích hợp. Với nhiều ưu thế vượt trội, thủ tục phân tích đã trở thành một kỹ thuật thu thập
bằng chứng kiểm toán cần thiết và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 520 “ Bằng chứng kiểm toán” đã nêu rõ “kiểm
toán viên áp dụng một hoặc nhiều trong số các thủ tục kiểm toán sau để thu thập các bằng
chứng : kiểm tra, quan sát, phỏng vấn hoặc xác nhận, tính toán và thủ tục phân tích”. Ý
kiến trên đã đem lại cho thủ tục phân tích một vị thế đặc biệt quan trọng và được thể hiện
ngày càng rõ nét hơn trong quá trình kiểm toán.
Thực chất thủ tục phân tích là việc so sánh và nghiên cứu các thông tin tài chính
với nhau hoặc giữa các thông tin tài chính với những thông tin phi tài chính dựa trên mối
quan hệ hợp lý giữa chúng… nhằm phát hiện mọi quan hệ và biến động bất thường, từ đó
tìm hiểu và giải thích nguyên nhân của những biến động trên. Như vậy, kỹ thuật phân
tích dựa trên sự hợp lý, không dựa trên sự chính xác.
Thủ tục phân tích bao gồm việc áp dụng các kỹ thuật kiểm toán để phân tích và
tiên đoán các mối quan hệ của các dữ liệu tài chính và dữ liệu hoạt động. Trong thực tế,
kiểm toán viên thường thiết lập các giả thiết về sự liên hệ giữa các số liệu, ước tính số
liệu cần kiểm tra và sau đó so sánh với số liệu của đơn vị để tìm ra các quan hệ bất
thường hay những thay đổi trong thực tế.
2.1.1.2 Vai trò
Quá trình kiểm toán có ba giai đoạn chính là chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm
toán và hoàn thành kiểm toán. Kỹ thuật phân tích được sử dụng trong tất cả giai đoạn của
quá trình này.
Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán bao gồm giai đoạn tiền kế hoạch và lập kế hoạch
kiểm toán. Trong giai đoạn tiền kế hoạch là quá trình tìm hiểu và tiếp cận khách hàng để
thu thập thông tin cần thiết giúp kiểm toán viên hiểu về các nhu cầu, đánh giá về khả
thay đổi số dư
Mặc dù việc kiểm tra chi tiết cho thấy không tìm được những sai phạm trọng yếu
nào trên số dư các tài khoản, nhưng nếu kiểm toán viên không kiểm tra tính hợp lý của
tổng thể thông tin tài chính thông qua việc rà soát phân tích có thể ảnh hưởng đến những
sai phạm trọng yếu sẽ xảy ra.
Thủ tục phân tích là phương pháp cần thực hiện để hạn chế rủi ro kiểm toán. Kết
quả đó được dựa vào việc sử dụng thủ tục phân tích và mức độ tin cậy của hệ thống kiểm
soát nội bộ.
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 11
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
Trước khi bắt đầu công việc với khách hàng, thông tin về những vấn đề “nổi
cộm”, những rủi ro tiềm tàng nảy sinh hay những cập nhật về hệ thống kiểm soát nội bộ
sẽ được nêu lên trong cuộc họp của nhóm kiểm toán viên do chủ nhiệm chủ trì.
Khi phân tích ta có thể so sánh những thông tin như :
♦ So sánh giữa các thông tin tài chính trong kỳ này với thông tin tương ứng của kỳ
trước
- Kiểm toán viên có thể so sánh số dư, hoặc số phát sinh của tài khoản giữa các
kỳ để phát hiện các tài khoản có biến động bất thường. Thí dụ, một sự gia tăng
bất thường của khoản phải thu khách hàng cuối kỳ có thể là xuất phát từ sự
thay đổi chính sách bán chịu, tình trạng nợ khó đòi gia tăng hoặc đang có
chênh lệch trọng yếu trong số dư cuối kỳ.
- Kiểm toán viên cũng có thể so sánh giữa các kỳ để phát hiện những tài khoản
có thể bị sai lệch. Thí dụ, số vòng quay của hàng tồn kho giảm đột ngột có thể
phản ánh những sai lệch trong số dư hàng tồn kho, hoặc hàng hóa bị ứ đọng
hay mất phẩm chất. Việc so sánh cũng có thể được tiến hành trên các đối tượng
chi tiết của tài khoản, hoặc sự biến động chi tiết giữa các kỳ trong tháng, quý,
năm.
♦ So sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoach, dự toán
hạch toán nghiệp vụ, thống kê… cung cấp. Giữa các thông tin này và thông tin
tài chính có những quan hệ nhất định, nên kiểm toán viên có thể phát hiện
được những sai sót nhờ dựa trên mối quan hệ hợp lý giữa chúng với nhau. Thí
dụ, đối chiếu giữa chi phí tiền lương và số lượng công nhân để xem mức lương
bình quân có hợp lý hay không ; so sánh giữa lượng tồn kho của một số loại
vật tư với khả năng chứa đựng kho hàng… khi sử dụng những thông tin phi tài
chính, kiểm toán viên cũng cần chú ý kiểm tra độ chính xác của chúng.
- Trong quá trình so sánh, nếu phát hiện được các biến động bất thường, chẳng
hạn như khi có những sai biệt lớn, các tỷ lệ ngoài dự kiến, những thông tin tài
chính không nhất quán với các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được…,
kiểm toán viên cần tiến hành điều tra xác minh bằng cách :
Phỏng vấn người quản lý đơn vị, hoặc xác minh lại các giải trình của đơn
vị.
Cân nhắc và sử dụng các thủ tục kiểm toán khác để có thể có được kết
luận hợp lý.
Thủ tục phân tích được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của quy trình kiểm toán
♦ Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, phân tích giúp xác minh nội dung, thời gian
và phạm vi của các thủ tục kiểm toán ; đồng thời hướng dẫn sự chú ý của kiểm
toán viên đến những bộ phận cần phải điều tra đặc biệt.
♦ Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, phân tích là một loại thử nghiệm cơ bản, nó
cung cấp bằng chứng về sự hợp lý của những khoản mục trên báo cáo tài chính,
hoặc các thông tin tài chính riêng biệt.
♦ Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán, phân tích được sử dụng để xem xét lại tổng
thể lần cuối về toàn bộ số liệu đã được kiểm toán nhằm củng cố thêm cho kết luận
đã được đề ra, hoặc giúp nhận thấy những vấn đề cần phải tiến hành thêm các thủ
tục kiểm toán thì mới có thể kết luận.
Phân tích được đánh giá là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả vì thời gian ít, chi
phí thấp, mà lại có thể cung cấp những bằng chứng về sự đồng bộ, hợp lý chung về các số
liệu kế toán; đồng thời giúp đánh giá được những nét tổng thể và không sa vào các
nghiệp vụ cụ thể. Tuy nhiên, khi áp dụng thủ tục này cần phải chú ý về những vấn đề
2.1.1.3 Phân loại
2.1.1.3.1 Phân tích xu hướng
Phân tích xu hướng là quá trình phân tích những thay đổi của một số dư tài khoản
hoặc một loại hình nghiệp vụ giữa kỳ hiện tại và những kỳ trước đó hoặc qua nhiều kỳ kế
toán. Chẳng hạn như biến động của doanh thu, chi phí, số dư một khoản mục giữa các
tháng trong năm hiện hành so với năm trước…
Phương pháp thực hiện.
Khi phân tích xu hướng, kiểm toán viên có thể áp dụng các phương pháp sau:
• Tính toán chênh lệch so năm trước
Theo phương pháp này, kiểm toán viên lập một bảng phân tích ngang, tính toán
khoản chênh lệch giữa số liệu năm hiện hành so với số liệu đã được kiểm toán năm trước.
Khi phát hiện được các biến động lớn, sẽ tìm hiểu nguyên nhân và thu thập bằng chứng
để hỗ trợ cho những giải thích đề ra.
• Sử dụng biểu đồ, đồ thị
Để xem xét về tính hợp lý và các biến động bất thường, kiểm toán viên có thể sử
dụng biểu đồ hay đồ thị. Biểu đồ hay đồ thị phản ánh sự thay đổi hay biến động của một
khoản mục hay số dư trong một thời kỳ và so với kỳ trước.
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 14
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
Cần lưu ý là nếu xu hướng kỳ trước không liên quan đến kỳ này thì việc tập trung
xem xét biến động theo thời gian sẽ đưa đến những nhận định không đúng. Do đó, để
tránh nhận định sai lầm, chỉ nên sử dụng phân tích xu hướng khi xu hướng biến động
giữa các kỳ có liên quan với nhau.
2.1.1.3.2 Phân tích tỷ số
Là việc tính toán các tỷ số dựa trên thông tin tài chính và phi tài chính của kỳ hiện
tại, đối chiếu với các tỷ số này của các kỳ trước, của các đơn vị cùng ngành hay bình
quân ngành … để nhận diện những điểm điểm bất thường, những biến động lớn cần tập
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
Tỷ số nợ = Tổng nợ / Tổng tài sản
Tỷ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn
Tỷ số đầu tư = Tài sản dài hạn / Tổng tài sản
Tỷ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay / Lãi vay
• Nhóm tỷ số về hoạt động
Phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh của đơn vị. Các tỷ số này cũng được sử dụng trong cả ba giai đoạn của quá trình
kiểm toán. Việc so sánh tỷ số tính toán được với số bình quân ngành hay số năm trước sẽ
giúp kiểm toán viên ghi nhận những biến động bất thường, đó có thể là dấu hiệu của các
sai lệch trọng yếu hoặc một tình trạng cần lưu ý ( thí dụ ứ đọng hàng tồn kho hay khả
năng thu hồi của nợ phải thu ). Sau đây là các tỷ số có thể sử dụng :
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay nợ phải thu khách hàng = Doanh thu thuần / Số dư nợ bình quân nợ phải
thu khách hàng
Số ngày thu tiền bình quân = 360 / Số vòng quay nợ phải thu trong năm
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần / Tài sản cố định
Vòng quay tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản
• Nhóm tỷ số về doanh lợi
Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo ra lợi nhuận của đơn vị. Việc phân
tích các tỷ số này trong giai đoạn lập kế hoạch giúp kiểm toán viên nhận diện những vùng
rủi ro tiềm ẩn và định hướng cho việc xác định thời gian, nội dung và phạm vi các thủ tục
kiểm toán cho các khoản mục doanh thu và chi phí trong giai đoạn thực hiện kiểm toán.
Dưới đây là một số tỷ số thông dụng :
Tỷ lệ lãi gộp = (Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán ) / Doanh thu thuần
Lợi nhuận trên tài sản = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu
Cần lưu ý là khi áp dụng phương pháp này, kiểm toán viên phải hiểu rõ mối quan
hệ của các yếu tố cấu thành nên tỷ số và phải lựa chọn các tỷ số phù hợp với từng mục
- Ước tính chi phí khấu hao năm hiện hành dựa vào chi phí khấu hao năm trước,
mức khấu hao tăng ( dựa trên giá trị tài sản tăng ) và mức khấu hao giảm ( dựa
trên giá trị tài sản giảm ) trong kỳ.
• Xây dựng mô hình dự đoán với những biến số cần thiết : theo phương pháp này,
kiểm toán viên có thể ước tính số dư tài khoản hay khoản mục bằng cách kết hợp
với một số tài khoản hay khoản mục khác có liên quan để tính toán số liệu ước
tính, thí dụ như :
- Ước tính chi phí lãi vay bằng cách nhân số dư nợ vay hàng tháng với lãi suất
bình quân.
- Ước tính giá trị hàng tồn kho xuất trong kỳ dựa vào giá trị hàng tồn đầu kỳ,
lượng hàng mua và tồn kho cuối kỳ.
- Ước tính chi phí tiền lương dựa vào số nhân viên bình quân và mức lương bình
quân.
- Ước tính doanh thu của trường học dựa vào số học viên bình quân và mức học
phí bình quân.
- Ước tính doanh thu cho thuê phòng dựa vào đơn giá phòng và hiệu suất cho
thuê.
Để có những ước tính hợp lý, kiểm toán viên cần :
• Xây dựng mô hình hay thiết lập công thức thích hợp
Cần đảm bảo rằng đã đưa vào mô hình tất cả những ảnh hưởng hoặc ít nhất là
những ảnh hưởng quan trọng nhất. Nếu mô hình không thể hiện đầy đủ những biến quan
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 17
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
trọng thì thủ tục phân tích không thể giúp dự đoán chính xác và đáng tin cậy. Ngoài ra,
cần xác định các biến tài chính, biến hoạt động và mối quan hệ giữa chúng. Thí dụ, chi
phí tiền lương có thể ước tính dựa vào các biến sau : giờ công, đơn giá tiền lương và số
lượng nhân viên.
Việc kết hợp càng nhiều biến độc lập và có liên quan, sẽ cung cấp nhiều thông tin
cân đối kế toán. Bởi vì có nhiều khoản mục trên bảng cân đối kế toán như khoản mục
tiền, khoản đầu tư … thường bị ảnh hưởng rất nhiều yếu tố nên khó có thể hình thành
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 18
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
một ước tính đáng tin cậy. Những khoản mục khác trên bảng cân đối kế toán cũng khó
phân tích vì chúng rất nhạy cảm với những quyết định quản lý. Ví dụ như những khoản
phải thu, phải trả, hàng tồn kho … có thể bị ảnh hưởng về sự thay đổi chính sách tín
dụng, về mô hình dự trữ hàng tồn kho theo yêu cầu của công tác quản lý.
2.1.2.2 Bản chất của cơ sở dẫn liệu
Thủ tục phân tích có thể cung cấp bằng chứng thuyết phục cho một số cơ sở dẫn
liệu này nhưng không thể cho những cơ sở dẫn liệu khác. Chẳng hạn, kiểm toán viên có
thể thực hiện thủ tục phân tích hơn là thử nghiệm chi tiết nhằm chứng minh cơ sở dẫn
liệu đầy đủ của doanh thu bởi vì họ đang quan tâm đến các nghiệp vụ bán hàng không
được ghi nhận. Tuy nhiên, thủ tục phân tích có thể bị giới hạn khi chứng minh cho cơ sở
dẫn liệu hiện hữu và phát sinh của nghiệp vụ bán hàng: liệu nghiệp vụ bán hàng có được
phê chuẩn hay không?
2.1.2.3 Độ tin cậy của thông tin độc lập
Thông thường thủ tục phân tích bao gồm việc so sánh số dư tài khoản trên báo cáo
với giá trị dự toán trên cơ sở thông tin tài chính và phi tài chính. Vì thế, muốn kết quả
phân tích đạt hiệu quả cao thì nguồn thông tin phục vụ cho thủ tục phân tích phải có độ
tin cậy cao. Tuy nhiên trong quá trình thu thập bằng chứng phục vụ cho thủ tục phân tích
bao gồm nguồn thông tin độc lập ( thông tin bên ngoài và có độ tin cậy cao ) và nguồn
thông tin từ nội bộ doanh nghiệp ( đây là nguồn thông tin mà kiểm toán viên cần phải
xem xét đến hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán của doanh nghiệp).
2.1.2.4 Tính độc lập của các thủ tục
Để làm tăng tính hiệu quả của thủ tục phân tích, kiểm toán viên nên tránh sự trùng
lắp giữa thủ tục phân tích mà họ đang thực hiện với các thủ tục phân tích khác, và với
những thử nghiệm kiểm soát hay thử nghiệm chi tiết. Ví dụ, việc so sánh một tài khoản
liên tục của công ty khách hàng.
♦ Đánh giá sự hiện diện các sai số có thể có trên Báo cáo tài chính của doanh
nghiệp.
Như vậy qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán, kiểm toán viên có thể xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán Báo cáo
tài chính. Mức độ, phạm vi và thời gian áp dụng các thủ tục phân tích thay đổi tùy thuộc
và quy mô và tính phức tạp trong hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Việc xây dựng các thủ tục phân tích bao hàm một số bước đặc thù như xác định
mục tiêu, thiết kế các cuộc khảo sát, tiến hành khảo sát, phân tích kết quả và đưa ra kết
luận.
Các thủ tục phân tích thường được kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bản:
Phân tích ngang (phân tích xu hướng) : là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh
các trị số của cùng một chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính.
Các chỉ tiêu phân tích được sử dụng ngang bao gồm
♦ So sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau và qua đó
kiểm toán viên thấy được những biến động bất thường và xác định được các lĩnh
vực cần quan tâm. Ví dụ : tỷ số thanh toán hiện hành giảm đột ngột với quy mô
lớn cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tình hình tài chính, khả năng
thanh toán công nợ,…
♦ So sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ước tính của kiểm toán
viên.
♦ So sánh dữ kiện của công ty khách hàng với dữ kiện chung của ngành.
Phân tích dọc (phân tích tỷ suất ) : là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ
lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên Báo cáo tài chính.
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 20
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
Các tỷ suất tài chính thường dùng phân tích dọc có thể là các tỷ suất về khả năng
thanh toán, các tỷ suất về khả năng sinh lời,…
- Các thủ tục kiểm toán khác cũng nhằm đáp ứng những mục tiêu kiểm toán.
Chẳng hạn như, các thủ tục kiểm toán khác được thực hiện nhằm kiểm tra khả
năng thu hồi được các khoản phải thu, như kiểm tra các khoản nhập quỹ, có thể
đưa ra nhận xét từ kết quả tìm được khi áp dụng thủ tục phân tích cho phần này
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 21
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
khi xem xét số dư các khoản phải thu theo thời hạn nợ ( tuổi nợ ). Điều này sẽ
phản ánh là các khoản nợ có hiện hữu và phát sinh hay không?
- Độ chính xác có thể dự kiến được của các thủ tục phân tích: Kiểm toán viên
thường phân tích đối với những khoản mục ít biến động như khi kiểm tra lãi
gộp từ niên độ này sang niên độ khác hơn là so sánh các chi phí không được dự
trù trong ngân sách như chi phí nghiên cứu hay quảng cáo.
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Ví dụ như nếu hệ thống kiểm
soát nội bộ ở khâu bán hàng tỏ ra yếu kém và do vậy rủi ro kiểm soát ở khâu
này cao thì cần phải dựa vào kiểm tra chi tiết các chứng từ nghiệp vụ và số dư
hơn là dựa vào các thủ tục phân tích để đi đến kết luận về các khoản phải thu
khách hàng.
- Kiểm toán viên cũng cần kiểm tra lại các thủ tục kiểm soát được thực hiện
khi lập các thông tin được sử dụng trong thủ tục phân tích. Ví dụ trong quá
trình kiểm toán nợ phải thu và nghiệp vụ bán hàng, kiểm toán viên cần thực
hiện thủ tục kiểm soát trong việc ghi chép hoá đơn, xem xét sự phê chuẩn
phương thức bán chịu trên các đơn đặt hàng của khách hàng, phiếu thu phải có
đầy đủ chữ ký… Trường hợp thủ tục kiểm soát này có hiệu quả, kiểm toán viên
có thể tin tưởng hơn về độ tin cậy của các thông tin này và do đó tin cậy hơn
vào kết quả phân tích. Các thủ tục kiểm soát thông tin tài chính có thể được
thực hiện cùng với các thủ tục kiểm soát lĩnh vực kế toán. Chẳng hạn khi đơn
vị thực hiện kiểm soát việc xử lý các hóa đơn bán hàng thì cũng có thể kiểm
soát luôn việc ghi chép số lượng hàng bán cùng với thủ tục kiểm tra việc xử lý
bắt đầu bằng việc yêu cầu Ban giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán
cung cấp thông tin, và tiếp theo là thực hiện các thủ tục:
♦ Kiểm tra các phúc đáp của Ban giám đốc, chẳng hạn như bằng cách đối chiếu với
những hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động của đơn vị hay với các bằng
chứng khác có được trong quá trình kiểm toán.
♦ Đánh giá xem có cần thực hiện các thủ tục kiểm toán khác hay không nếu như Ban
giám đốc vẫn không thể cung cấp được giải thích hoặc giải thích của Ban giám
đốc chưa được xem là thỏa đáng.
Ví dụ về vấn đề này như sau: trong quá trình kiểm tra các khoản mục có liên quan
như hàng tồn kho, các khoản phải trả cho nhà cung cấp, các khoản thuế và phải trả, phải
nộp cho Nhà nước, khoản tiền mặt, doanh thu, khoản phải thu… kiểm toán viên nhận
thấy rằng khoản tiền mặt trong kỳ tăng ( doanh thu trong kỳ vẫn tăng ), các khoản phải
thu cũng tăng so với năm trước, còn đối với khoản mục nợ phải trả lại giảm, hàng tồn kho
tăng nhưng thuế giá trị gia tăng phải nộp lại giảm, điều đó cho thấy các thông tin phản
ánh không phù hợp và có một sự bất thường nào đó trong các khoản mục này, từ đó kiểm
toán viên sẽ đi vào khảo sát để tìm ra nguyên nhân. Hoặc về vấn đề chi phí khấu hao,
kiểm toán viên ước tính có sự chênh lệch đáng kể đối với số trích khấu hao của khách
hàng.
Như vậy đối với các thông tin phản ánh không phù hợp với nhau, kiểm toán viên sẽ
xem xét đối với từng khoản mục. Chẳng hạn, việc hàng tồn kho tăng so với năm trước rất
nhiều, như vậy kiểm toán viên sẽ đánh giá hàng tồn kho này là hàng ứ đọng, kém phẩm
chất, từ đó mới yêu cầu ghi giảm giá trị hàng tồn kho, hoặc lập dự phòng cho những hàng
tồn kho lưu chuyển chậm hoặc gần hết thời hạn sử dụng.
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 23
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
Còn đối với chi phí khấu hao ước tính chênh lệch nhiều, kiểm toán viên sẽ chọn một
vài khoản để kiểm tra xem việc trích khấu hao có theo khung trích khấu hao của Quyết
định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ tài chính hay không? Sau
thuế xuất khẩu
- - -
1. Doanh thu thuần về bán
hàng và cung cấp dịch vụ
11,008,788,42
3
14,888,570,801
3,879,782,37
8
35.24%
2. Giá vốn hàng bán 9,281,360,354 12,811,509,401 3,530,149,047 38.03%
3. Lợi nhuận bán hàng và
cung cấp dịch vụ
1,727,428,069 2,077,061,400 349,633,331 20.24%
4. Doanh thu hoạt động tài
chính
25,178,193 61,170,466 35,992,273 142.95%
5. Chi phí tài chính 211,296,699 280,838,734 69,542,035 32.91%
Trong đó: lãi vay phải trả 13,723,114 34,406,722 20,683,608 150.72%
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 24
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GVHD: PGS.TS PHẠM VĂN DƯỢC
6. Chi phí bán hàng - - -
7. Chi phí quản lý doanh
nghiệp
655,268,213 825,171,051 169,902,838 25.93%
8. Lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh
886,041,350 1,032,222,081 146,180,731 16.50%
hàng.
Trong thực tế, việc lựa chọn thủ tục phân tích còn phụ thuộc vào xét đoán nghề
nghiệp của kiểm toán viên. Tùy vào mục tiêu cần đạt, kiểm toán viên có thể lựa chọn một
SVTH: MAI THỊ TUYẾT LAN
Trang 25