Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 1
Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
I. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng
1. Định nghĩa Ngân hàng Thương mai
Theo luật các tổ chức Tín dụng ở Việt Nam: Ngân hàng Thương mại là một
doanh nghiệp được thành lập theo luật các tổ chức Tín dụng và các quy định
khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với
nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng,
cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động khác có liên quan.
2. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại
Tín dụng Ngân hàng Thương mại là một quan hệ giao dịch giữa Ngân hàng
với doanh nghiệp, cá nhân và Chính phủ trong đó Ngân hàng chuyển giao quyền
sử dụng tiền cho họ với những điều kịên thỏa thuận nhất định (thời gian, lãi suất,
khối lượng, điều kiện đảm bảo…)
Quan hệ tín dụng ngân hàng có thể diễn tả theo sơ đồ sau:
Trong đó:
T: Số tiền Ngân hàng cho phép người vay sử dụng trong khoảng thời gian
từ t
1
đến t
2
.
T’: Số tiền người vay trả cho Ngân hàng tại thời điểm t
2
Ngân hàng Khách hàng
Tại thời điểm t
2
(t
2
nhanh.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, sử dụng để
cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn
như cơ sở hạ tầng,…
2.1.3. Theo bảo đảm:
Tín dụng không có bảo đảm: Là hình thức cho vay chỉ dựa trên uy tín của
người vay, thường chỉ cấp cho những khách hàng truyền thống và có uy tín.
Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức cho vay có bảo đảm bằng tài sản cầm
cố, thế chấp của khách hàng vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Trong trường
hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền bán,
chuyển nhượng tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ hoặc yêu cầu người bảo
lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
2.2. Vai trò tín dụng của Ngân hàng.
2.2.1. Đối với Ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng thương mại thực chất cũng là một
doanh nghiệp. Vì vậy, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng luôn đặt mục
tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Để tạo ra được lợi nhuận và thu nhập cho Ngân
hàng thì các Ngân hàng thương mại phải biết sử dụng và khai thác nguồn vốn
một cách triệt để và có hiệu quả. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng bao
gồm: hoạt động cho vay, đầu tư, phục vụ nhu cầu chi trả của khách hàng…
Trong bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng, khoản mục cho vay thường
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Đây là khoản mục có tính lỏng kém và rủi
ro vỡ nợ cao. Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của Ngân hàng và là nghiệp
vụ mang lại lợi tức cao nhất cho Ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng
luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nghiệp cj của Ngân hàng. ậ Việt Nam tỷ
lệ này là 85 – 95%, còn ở Hoa Kỳ – quốc gia có công nghiệp Ngân hàng phát
triển vào loại nhất nhì- thì tỷ trọng này là 60%-70%. Như vậy, cho vay vẫn là
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoạt động cơ bản của các Ngân hàng thương mại. Thông qua hoạt động cho vay,
2.2.3. Đối với nền kinh tế.
+Tín dụng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân, hoạt động tín
dụng Ngân hàng làm nhiệm vụ thông dòng để vốn vay chảy từ nơi thiếu vốn
sang nơi thừa vốn.
Tín dụng Ngân hàng chuyển vốn từ nơi chưa có nhu cầu sử dụng sang nơi
có nhu cầu sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh làm cho nền kinh tế phát
triển, đời sống xã hội ngày càng cao. Có thể khẳng định rằng: tín dụng Ngân
hàng luôn luôn tồn tại và nhanh chóng phát triển, nó là nhân tố để thúc đẩy.
Tín dụng có tác dụng quản lý tích cực đối với nền kinh tế. Ngoài việc tích
luỹ, tập trung vốn, tạo ra tính xã hội hoá trong sản xuất, đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển vốn thông qua việc huy động toàn bộ vốn nhàn rỗi đưa vào sử dụng, nó
còn là công cụ điều hành lưu thông, là công cụ kiểm soát các hoạt động của cac
doanh nghiệp, các đơn vị kinh doanh.
+ Tín dụng đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, góp phần đầu tư phát triển
kinh tế.
Nguyên tắc có hoàn trả tín dụng, Ngân hàng biến các phương tiện nhàn rỗi
thành phương tiện hoạt động có hiệu quả, động viên vật tư lao động và các tiềm
năng sẵn có khác đưa vào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất, lưu thông làm
tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong xã hội, góp phần đẩy nhanh quá
trình tái sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Việc phân phối tín dụng góp phần điều hoà vốn giúp cho quá trình sản xuất
được liên tục. Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là phương tiện đáp
ứng nhu cầu vốn cho đầu tư.
+Tín dụng Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều hoà lưu
thông tiền tệ, thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Tín dụng Ngân hàng tập trung vốn nhàn rỗi nằm phân tán trong nền kinh tế,
trong các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước, cá nhân… và cho các đơn vị
kinh tế vay. Tuy nhiên, đầu tư tín dụng không rải đều cho vay đến mọi nhu cầu
mà chỉ đầu tư vào các đơn vị kinh tế hoạt động có hiệu quả, có triển vọng phát
liền với thị trường thế giới, kinh tế đóng đã nhường bước cho kinh tế mở. Tín
dụng Ngân hàng là một phương tiện nối liền kinh tế của các nước lại với nhau.
Đối với các nước đang phát triển nói chung, cũng như Việt Nam nói riêng, tín
dụng Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thương quốc tế,
xuất nhập khẩu hàng hoá và hiện đại hoá nền kinh tế.
ii. nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng mang tính rủi ro, và hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng cũng vậy. Do vậy, bất kỳ một Ngân hàng nào dù là Ngân
hàng kinh doanh có hiệu quả nhất cũng không tránh khỏi hoặc loại bỏ hoàn toàn
được rủi ro mà phải chấp nhận nó ở một mức độ nhất định. Mục tiêu đầu tiên
của phân tích nợ quá hạn là giúp Ngân hàng nhận biết và dự đoán trước các
nguyên nhân gây ra nợ quá hạn để đưa ra các phương pháp phòng ngừa hữu
hiệu, nhằm hạn chế các tác hại của nó.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Định nghĩa và đo lượng nợ quá hạn:
1.1. Định nghĩa:
Các khoản vay được phân loại dựa vào việc xác định các tiêu chí định
lượng và định tính. Mỗi một Ngân hàng có một quan điểm riêng, tuy nhiên có
thể lấy cơ sở dựa trên các gợi ý sau đây của Ngân hàng Thế giới:
- Đạt tiêu chuẩn: Là có tài sản thế chấp theo nghĩa đầy đủ hoặc không quá
hạn.
- Cận chuẩn: Là có tài sản thế chấp đầy đủ, nhưng có biểu hiện các điểm
yếu tín dụng. Những điểm này bao gồm các yếu tố chậm trễ đến việc trả lãi nợ
vay có thể trễ hơn 30 ngày nhưng chưa đến 90 ngày, nguồn vốn (luân chuyển
vốn) của người vay có biểu hiện không đủ đáp ứng cho các cam kết nợ, cần phải
có thêm nguồn vốn vay lưu động.
Mặc dù trên giấy tờ và theo thông tin mới nhất, giá trị của tài sản thế chấp
có đầy đủ, nhưng vẫn tồn tại sự không chắc chắn về hồ sơ thế chấp, khả năng
tiêu thụ trên thị trường và nguồn thông tin tài chính hiện có để biết được tình
hình thế chấp có thể được giải quyết trọn vẹn hay không khi phát mại.
1.2. Đo lường nợ quá hạn:
nợ quá hạn là biến cố xảy ra ngoài mong đợi trong hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng, ta không thể loại bỏ được nó nhưng có thể nghiên cứu nó để có
giải pháp nhằm quản lý và hạn chế nợ quá hạn, hướng tới một mức độ hợp lý có
thể chấp nhận được.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tỷ lệ nợ quá hạn/ Dư nợ:
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%
Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác tín dụng, phản ánh rủi ro tín
dụng của Ngân hàng. Tỷ lệ này phản ánh với 100 đơn vị tiền tệ Ngân hàng cho
vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà Ngân hàng không thể thu hồi đúng hạn
taịo thời điểm xác định. Nếu chỉ số này lớn hơn 7% thì Ngân hàng được xem là
yếu kém, nếu chỉ số này nhỏ hơn 5% thì Ngân hàng đó được đánh giá là Ngân
hàng có nghiệp vụ tín dụng tốt, chiến lược cho vay cao.
Tuy nhiên, dư nợ và tổng dư nợ được đo tại một thời điểm nhất định nên tỷ
lệ nợ quá hạn không phản ánh đúng thực chất chất lượng tín dụng của Ngân
hàng. Do vậy:
- Tỷ lệ này chỉ phản ánh các khoản nợ đã quá thời hạn thanh toán, chưa
phản ánh được độ rủi ro của các khoản nợ chưa đến thời hạn thanh toán. Một số
các khoản nợ loại này còn chứa đựng nhiều rủi ro hơn các khoản nợ đã được xác
định là nợ quá hạn. Chúng có thể trở thành nợ quá hạn, nợ khó đòi, thậm chí là
khoản mất vốn trong tương lai. Đó là các khoản nợ cho vay được gia hạn nhiều
lần, được dùng để trả nợ cũ cho chính bản thân Ngân hàng hoặc Ngân hàng
khác. Với các khoản nợ quá hạn thông thường, Ngân hàng có thể thu hồi được
gốc và lãi trong một thời gian tương đối ngắn kể từ khi trở thành nợ quá hạn.
- Các khoản nợ khó đòi mới là vấn đề nghiêm trọng đối với hoạt động của