Việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong xử lý tài liệu và biên mục tại các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN

VIỆC ÁP DỤNG CÁC CHUẨN NGHIỆP VỤ
TRONG XỬ LÝ TÀI LIỆU VÀ BIÊN MỤC TẠI
CÁC THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA
BÀN HÀ NỘI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Vũ Dương Thúy Ngà
SINH VIÊN THỰC HIỆN: Trần Thị Nga
LỚP: Thư viện 37B
HÀ NỘI – NĂM 2009
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT AACR2 : Quy tắc biên mục Anh – Mỹ ấn bản lần 2
BBK : Khung phân loại thư viện thư mục
CSDL : CSDL
DDC : Khung phân loại thập phân Dewey
ISBD : Mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế

liệu và biên mục đối với các thư viện Việt Nam 17
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CHUẨN NGHIỆP VỤ
TRONG CÔNG TÁC XỬ LÝ TÀI LIỆU VÀ BIÊN MỤC TẠI CÁC THƯ
VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 20
2.1 Xu hướng áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong xử lí tài liệu và biên mục ở
Việt Nam 20
2.2 Thư viện trường Đại học với việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong xử lí
tài liệu và biên mục 24
2.3 Thực trạng việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong công tác xử lí tài liệu
và biên mục tại một số thư viện trường Đại học trên địa bàn Hà Nội 27
2.3.1 Thực trạng việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong công tác xử lí tài
liệu 27
2.3.1.1 Mô tả tài liệu 27
2.3.1.2 Phân loại tài liệu 31
2.3.1.3 Định chủ đề tài liệu 36
2.3.1.4. Định từ khoá tài liệu 40
2.3.2 Thực trạng việc áp dụng chuẩn nghiệp vụ trong công tác biên mục 43
2.3.2.1 Tổ chức mục lục truyền thống 43
2.3.2.2 Biên mục đọc máy 45
2.4 Đánh giá về thực trạng áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong công tác xử lí
tài liệu và biên mục tại các thư viện trường Đại học trên địa bàn Hà Nội 48
2.4.1 Ưu điểm 48
2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 51
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG
CƯỜNG VIỆC ÁP DỤNG CÁC CHUẨN NGHIỆP VỤ TRONG CÔNG
TÁC XỬ LÝ TÀI LIỆU VÀ BIÊN MỤC TẠI CÁC THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 53
3.1 Một số kiến nghị đề xuất với cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động thư
viện 53
3.2 Một số giải pháp đối với các thư viện trường Đại học 55


tiên quyết đặt ra là tiêu chuẩn hóa, bởi vì tiêu chuẩn hóa đảm bảo sự thống
nhất và hợp lý hóa các quy trình, sản phẩm, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt
động thông tin tư liệu, bảo đảm mối liên hệ giữa hoạt động này với các nhiệm
vụ, đẩy mạnh tiến bộ khoa học và công nghệ, góp phần hoàn thiện việc tổ
chức, quản lý hoạt động thông tin tư liệu, nâng cao năng suất lao động và chất
lượng lao động của cán bộ thông tin tư liệu. Để Thư viện các trường đại học
thực sự đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, hệ thống này cần đẩy mạnh
hoạt động nghiệp vụ của mình để nhằm đạt tới sự chuẩn hóa, hội nhập và liên
thông Thư viện.
Ngày 7 tháng 5 năm 2007, Bộ Văn hoá thông tin (nay là Bộ VHTT –
DL) đã có văn bản số 1598/BVHTT, theo đó, từ ngày 1 tháng 6 năm 2007 tất
cả các Thư viện công cộng, Thư viện chuyên ngành, đa ngành đều được
khuyến cáo nên áp dụng 3 chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động của Thư viện đó
là AACR2, DDC, MARC21.
Với những lý do ở trên em đã chọn đề tài “Việc áp dụng các chuẩn
nghiệp vụ trong xử lí tài liệu và biên mục tại các thư viện trường đại học
trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài khóa luận của mình. Tuy nhiên, do hạn chế
về vốn tư liệu và trình độ bản thân nên em không có tham vọng trình bày toàn
cảnh vấn đề, mà chỉ đi vào một số vấn đề của đề tài đó là việc mô tả, phân
loại, định chủ đề, định từ khóa, công tác tổ chức mục lục truyền thống và biên
mục đọc máy tại Thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu hiện trạng áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong xử lý tài liệu và
biên mục tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội. Trên cơ sở đó đưa ra các
kiến nghị nhằm tăng cường áp dụng các chuẩn nghiệp vụ, góp phần nâng cao
3

hiệu quả hoạt động trong các thư viện trường Đại học đáp ứng yêu cầu của
thực tế.

Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường việc
áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong công tác xử lí tài liệu và biên mục tai các
thư viện trường Đại học trên địa bàn Hà Nội

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.s Vũ Dương Thúy
Ngà, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện
đề tài khoá luận. Em xin chân thành cám ơn các cán bộ thư viện tại các TTTT
– TV nơi em tiến hành khảo sát vì những ý kiến đóng góp quý báu và sự tạo
điều kiện thuận lợi cho em khi tiến hành khảo sát, cám ơn sự động viên, hỗ
trợ của gia đình, bạn bè trong quá trình em hoàn thành khoá luận. Do thời
gian nghiên cứu có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế vì vậy khóa luận tốt
nghiệp của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Em kính mong
nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, sự chia sẻ của bạn bè để khoá
luận có thể hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Nga
5

Chương 1
VAI TRÒ CỦA VIỆC CHUẨN HÓA TRONG CÔNG TÁC
XỬ LÝ TÀI LIỆU VÀ BIÊN MỤC

1.1 Tổng quan về công tác xử lí tài liệu
Công tác xử lí tài liệu là một khâu công tác kỹ thuật cơ bản và phức tạp
trong dây chuyền TV thông tin. Việc tiến hành lựa chọn và xử lý những thông
tin chính xác, khoa học để đưa vào lưu trữ không thể làm một cách tuỳ tiện
mà phải tuân theo một trật tự có tính nguyên tắc và lôgic.
Xử lí tài liệu là quá trình phân tích, lựa chọn và trình bày những yếu tố

thế nhìn chung không có sự khác biệt nhiều giữa AACR2 và ISBD về 8 vùng
mô tả và các dấu phân cách, tuy nhiên AACR2 tạo nhiều điểm truy cập và
quy định khá chi tiết trong lập tiêu đề, cũng như trong một số yếu tố mô tả.
1.1.2 Phân loại tài liệu
Phân loại là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội
và nhiều ngành khoa học. Phân loại hiểu theo nghĩa rộng là việc sắp xếp, tổ
chức các sự vật, hiện tượng và toàn bộ tri thức hoặc thông tin theo một trật tự
có hệ thống. Đây là một hoạt động cơ bản, một hoạt động trí tuệ của con
người. Để nhận biết và nghiên cứu về các sự vật hiện tượng, con người đã tiến
hành việc phân loại với nhiều mục đích khác nhau.
7

Phân loại tài liệu là quá trình xử lí nội dung tài liệu nhằm xác định đề
tài chủ yếu của tài liệu và phản ánh thông tin về nội dung theo các môn ngành
tri thức dưới dạng ký hiệu phân loại theo một bảng phân loại cụ thể.
Phân loại tài liệu là khâu công tác được các TV và cơ quan thông tin ở
Việt Nam và trên thế giới hết sức quan tâm. Phân loại tài liệu là một khâu
quan trọng giúp cho việc kiểm soát thư mục, góp phần thúc đẩy việc khai
thác, trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Ngoài việc ứng dụng trong nhiều khâu công tác của hoạt động TV
thông tin nhằm mục đích kiểm soát thư mục, tổ chức bộ máy tra cứu theo
phân loại thì phân loại tài liệu còn giúp cho việc biên soạn thư mục, tổ chức
kho mở, phục vụ việc tìm tin trở nên dễ dàng. Nhiều nhà TV học trước đây đã
khẳng định: Cơ sở của TV là sách, nền tảng của nghề TV là phân loại. Với
việc xử lí tài liệu theo phân loại, chúng ta có thể tổ chức các phương tiện tra
cứu theo phân loại: mục lục phân loại và các CSDL. Ở các nước phương tây,
ngay từ cuối thế kỷ XIX, phân loại đã được sử dụng như là một công cụ chủ
yếu để xếp giá trong hầu hết các TV. Nhiều bảng phân loại đã được sử dụng
nhằm mục đích này: bảng phân loại thập phân Dewey (DDC),bảng phân loại
thập phân bách khoa quốc tế (UDC), bảng phân loại TV thư mục (BBK), bảng

giờ, nhiều nhà TV của Việt Nam chịu ảnh hưởng của một số nhà TV Liên Xô
cho rằng mục lục phân loại là mục lục duy nhất phản ánh nội dung kho sách
một cách khoa học. Một số TV lớn như TVQG Việt Nam, TV Khoa học Kỹ
Thuật Trung Ương, TV Khoa học Xã hội chỉ tổ chức mục lục phân loại và
không tổ chức mục lục chủ đề nữa.
9

Từ năm 1980 đến nay việc tổ chức mục lục chủ đề lại được quan tâm.
Tuy nhiên, tại các TV chuyên ngành do tính chất và đặc thù và mục đích phục
vụ cho các cán bộ, sinh viên nghiên cứu thuộc các ngành chuyên môn khác
nhau, việc sử dụng ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề cũng không hoàn toàn thống
nhất. Có một số TV tự biên soạn bảng danh mục chủ đề cho TV mình, ví dụ:
TV trường Đại học Y, TV trường Đại học Dược (trước đây). Có một số TV
khác sử dụng các bảng đề mục chủ đề của nước ngoài và dùng luôn thuật ngữ
bằng các tiếng nước ngoài đó mà không cần phải dịch chuyển sang tiếng Việt.
Ví dụ: Trung tâm TV Y học Trung Ương sử dụng bảng đề mục chủ đề Y học
(Medical Subject Heading – viết tắt là Me.S.H) của TV Quốc gia Mỹ biên
soạn, và một số TV trường Đại học định chủ đề tự do.
1.1.4 Định từ khoá tài liệu
Định từ khoá tài liệu là quá trình phân tích nội dung mô tả tài liệu và
mô tả nội dung chính của tài liệu đó bằng một hay một tập hợp các từ khoá
nhằm mục đích lưu trữ và tìm tin tự động hoá hoặc tạo ngôn ngữ tìm tin
trong các bảng tra ấn phẩm thông tin. Mỗi từ khoá là một điểm tiếp cận tìm
tin độc lập. Kết quả của quá trình định từ khoá là tạo ra một tập hợp từ khoá
mô tả đầy đủ các khía cạnh nội dung của tài liệu (còn được gọi là mẫu tìm).
Đó chính là các dấu hiệu tìm tin trong CSDL của TV.
Vào những năm 1990, cùng với xu hướng tin học hoá TV, công tác
định từ khoá được triển khai rộng rãi trong các TV và cơ quan thông tin ở
Việt Nam. Thời gian đầu các TV tiến hành định từ khoá tự do. Chất lượng của
các từ khoá chưa thật đảm bảo và hiện tượng nhiễu tin còn phổ biển gây

mẫu MARC đầu tiên là khổ mẫu biên mục đọc máy của TV Quốc hội Mỹ.
MARC là từ viết tắt từ thuật ngữ tiếng Anh là: “Machine Readable
Cataloguing”, dịch sang tiếng Việt là: “ Biên mục có thể đọc bằng máy”.
MARC đã trở thành một công cụ không thể thiếu được của hoạt động biên
mục tự động. Thực chất của hoạt động này là sử dụng một phần mềm tư liệu
hoặc sử dụng phân hệ biên mục của phần mềm quản trị TV để tạo lập các biểu
ghi cho một CSDL thư mục và tạo ra các mục lục thích hợp.
Để quản lý tài liệu bằng máy tính các TV đều phải xây dựng các CSDL.
Trong đó, các thông tin thư mục được mã hoá và mã số dưới dạng dữ liệu mà
máy tính có thể thao tác được. Cấp tổ chức cao nhất của dữ liệu là các CSDL.
CSDL tập hợp các dữ liệu về các đối tượng cần được quản lý, được lưu trữ
đồng thời trên các vật mang tin của máy tính và được quản lý theo một cơ chế
thống nhất, nhằm giúp cho việc truy nhập và xử lý dữ liệu được nhanh chóng.
Các chương trình quản trị CSDL văn bản TV thường có 3 loại khổ mẫu: khổ
mẫu hiển thị và in ấn, khổ mẫu nhập tin, khổ mẫu trao đổi. Trên thế giới đã
từng tồn tại nhiều các khổ mẫu khác nhau như: UKMARC, USMARC,
AUSMARC, INTERMARC, CAN MARC,…Trước sự phát triển của nhiều
khổ mẫu, các TV, cơ quan thông tin cũng đã và đang chuẩn hoá để có thể tạo
ra được một khổ mẫu chung, có thể phổ biến rộng rãi trên thế giới nhằm tạo
điều kiện để trao đổi, chia sẻ tài liệu đã được biên mục. Trên con đường hoàn
thiện để trở thành khổ mẫu chung của thế giới, cùng với UNIMARC,
MARC21 đã ra đời trên cơ sở của USMARC và CANMARC. Cấu trúc biểu
ghi MARC21 bao gồm 3 thành phần:
Phần 1: Đầu biểu (Leader) là một trường dữ liệu đặc biệt có độ dài cố
định 24 ký tự chứa các thông tin về quá trình xử lý biểu ghi
12
Phần 2: Thư mục hay còn gọi là danh mục(directory) là phần tiếp ngay
sau đầu biểu. Gồm một loạt nhóm dữ liệu chỉ dẫn về các trường dữ liệu
có trong biểu ghi.
Phần 3: Các trường dữ liệu: là những trường của biểu ghi chứa các dữ

Giá tiền, số bản in.
- AACR2: Là quy tắc biên mục Anh – Mỹ do các nước nói tiếng Anh
biên soạn tra, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1967. Đến năm 1978 với sự
hợp tác của TV Quốc gia của Anh, Mỹ và Canada, quy tắc biên mục AACR2
được xuất bản và nhanh chóng được áp dụng. Năm 1998, AACR2 được in lại.
Sau này AACR2 còn được tái bản và cập nhật vào các năm 1999, 2001, 2002,
2004.
AACR2 có 8 vùng dữ liệu
Vùng 1: Nhan đề và xác minh về trách nhiệm
Vùng 2: Lần xuất bản
Vùng 3: Vùng đặc biệt
Vùng 4: Vùng xuất bản
Vùng 5: Vùng mô tả vật lý
Vùng 6: Vùng tùng thư
14
Vùng 7: Vùng ghi chú
Vùng 8: Vùng tiêu chuẩn (ISBN, ISSN, điều kiện có được tài
liệu)
Với việc ra đời và áp dụng các quy tắc mô tả theo chuẩn cho các loại
hình tư liệu của TV đã tạo điều kiện giao lưu quốc tế về thông tin thư mục:
cho phép các nước trao đổi các biểu ghi thư mục xuất phát từ những nguồn
khác nhau, khắc phục hàng rào địa lí, khắc phục hàng rào ngôn ngữ nhờ hệ
thống các dấu phân cách. Qua đó tạo điều kiện dễ dàng chuyển đổi các biểu
ghi thư mục sang các dữ liệu đọc bằng máy. Các quy tắc mô tả cũng giúp
thống nhất việc mô tả tài liệu tại các TV, tránh tình trạng mỗi TV có một cách
mô tả khác nhau.
 Khung phân loại
Khung phân loại là một hệ thống được trình bày dưới dạng sơ đồ nhằm
phản ánh mối qua hệ logic, đẳng cấp theo thứ bậc giữa các khái niệm môn
ngành tri thức nhằm mục đích áp dụng vào việc phân loại tài liệu. Trong

khung phân loại đáp ứng tốt yêu cầu phân loại tài liệu, song so với DDC thì
UDC ít được sử dụng hơn.
- LCC: Là khung phân loại TV Quốc hội Mỹ gồm 20 lớp cơ bản. Các
lớp cơ bản của khung phân loại của TV Quốc hội được thể hiện bằng chữ cái
từ A đến Z. Tuy là một khung phân loại mang nặng tính dân tộc và tính quốc
gia, song khung phân loại của TV Quốc hội Mỹ vẫn có một ưu thế riêng. Tại
nhiều nước, LCC được sử dụng trong các trường Đại học.
16
Ở Việt Nam ngoài các khung phân loại ở trên, các TV, cơ quan thông
tin còn sử dụng bảng phân loại 19 lớp, bảng phân loại dùng trong trường phổ
thông, khung đề mục quốc gia,…
 Khổ mẫu biên mục
Khổ mẫu biên mục là một tập hợp các quy định, quy định cấu trúc biểu
ghi của một CSDL, cách trình bày sắp xếp dữ liệu trong biểu ghi đó; đưa ra
phương pháp mã hóa thông tin rộng rãi dựa trên cơ sỏ phân tích sâu sắc các
yếu tố thư mục.
Hiện nay trên thế giới hình thành 2 khổ mẫu là UNIMARC và MARC
21. Cho đến nay MARC là khổ mẫu được sử dụng thông dụng hơn trong biên
mục tự động.
Khổ mẫu biên mục là công cụ cần thiết để chuẩn hoá biên mục, chuẩn
hoá việc tổ chức lưu giữ dữ liệu. Khổ mẫu MARC cho phép máy tính sắp xếp
và lựa chọn dữ liệu biên mục theo một quy tắc thống nhất. Dữ liệu biên mục
có thể in ra được các dạng thức khác nhau như: mục lục chủ đề, tác giả, các
sản phẩm thông tin thư mục,…Các sản phẩm này phù hợp và thuận lợi trong
việc tổ chức và trao đổi dữ liệu thư mục. Do vậy khổ mẫu MARC có ý nghĩa
quan trọng trong việc thống nhất hoạt động biên mục, tạo điều kiện trao đổi
dữ liệu thư mục trong mạng lưới trên toàn thế giới một cách dễ dàng. Trước
thực tế trong một thời gian dài ở Việt Nam chưa có sự thống nhất trong việc
sử dụng các khổ mẫu MARC, nhiều TV đã tự biên soạn MARC của Việt
Nam, cộng đồng TV Việt Nam đã thống nhất lựa chọn MARC 21 là khổ mẫu

đạo Vụ thư viện – Bộ VHTT - DL, TVQG Việt Nam và các TV quan tâm nêu
18
lên từ khá sớm, từ những năm của thế kỷ trước. Điều dễ nhận thấy là, trước
năm 2000, mạng lưới TV Việt Nam tuy phát triển khá nhanh nhưng thiếu
thống nhất về tổ chức, về chuyên môn nghiệp vụ, từ phân loại tới mô tả, biên
mục,…càng thiếu thống nhất hơn, mỗi nơi thực hiện một kiểu, không theo
một chuẩn mực thống nhất nào. Tại hội thảo quốc tế “ Hệ thống và tiêu chuẩn
cho thư viện Việt Nam” họp tại Hà Nội từ ngày 26/9 đến 28/9/2001, việc áp
dụng các chuẩn nghiệp vụ trong các hoạt động TV thông tin của nước ta trong
những năm đầu thiên niên kỷ mới đã được đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học –
Công nghệ, Bộ VHTT - DL, Bộ Giáo dục – Đào tạo và Giám đốc các TV,
trung tâm thông tin Việt Nam nhất trí tán thành. Các chuẩn đó được xác định
là: Khung phân loại Dewey (DDC), khổ mẫu trao đổi thư mục MARC21 và
quy tắc biên mục Anh – Mỹ AACR2. Đặc biệt, văn bản số 1598/BVHTT ra
đời ngày 7/5/2007 với khuyến cáo cho các TV là nên sử dụng các chuẩn
nghiệp vụ như: DDC, MARC21, AACR2 trong hoạt động TV đã đánh dấu
một bước ngoặt trong hoạt động chỉ đạo nghiệp vụ của các cơ quan chức năng
trong lĩnh vực TV thông tin. Như vậy, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ
trong xử lí tài liệu và biên mục là đòi hỏi bức xúc của bản thân hoạt động TV
trong nước, vừa mang ý nghĩa to lớn, đó là:
- Đảm bảo sự thống nhất về quy trình hoạt động TV thông tin, bao gồm
sự nhất quán về hình thức và nội dung các bước, các công đoạn xử lí, lưu trữ,
phổ biến và trao đổi thông tin, nhằm tiến tới sự thống nhất về kỹ thuật xử lý
nghiệp vụ. Hoạt động TV thông tin trong nước và quốc tế mang lại hiệu quả
cao trong quá trình xử lý, khai thác và chia sẻ nguồn tin, lưu trữ và trao đổi
thông tin giữa các TV và cơ quan thông tin với nhau, đáp ứng tối đa nhu cầu
ngày càng cao của người dùng tin.
- Đảm bảo mối liên hệ tương tác giữa các cơ quan thông tin – thư viện
trong nước và quốc tế. Vai trò này càng trở nên quan trọng trong điều kiện
19

Hội nghị quốc tế tại đại học Malaya, Malaysia năm 1997 và tại Đại học
East Anglia, Anh Quốc năm 1998 đã kết luận: “ Thư viện thế giới ngày nay
nói chung và Thư viện Đại học nói riêng đang phát triển với một tốc độ nhanh
chưa từng có”.
Cùng với sự phát triển của TV, thì sự phát triển nhanh chóng của công
nghệ thông tin và viễn thông cũng đã có ảnh hưởng sâu sắc tới việc quản trị
TV. Các TV trên toàn cầu đã có thể chia sẻ tài nguyên với nhau một cách dễ
dàng. Do đó việc tiêu chuẩn hóa ở quy mô quốc gia và quốc tế là yêu cầu và
điều kiện không thể thiếu được của các hệ thống TV thông tin.
Hệ thống các tiêu chuẩn hiện có trong hoạt động TV thông tin ở nước
ta đang thu hút sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức. Sự dịch chuyển từ mô
hình hoạt động mang tính biệt lập, cát cứ sang mô hình liên kết, phối hợp với
nhau giữa các cơ quan TTTV đòi hỏi sự hình thành và việc áp dụng nhiều loại
tiêu chuẩn.
Từ khoảng đầu những năm 2000, vấn đề này đã được đặt tại trung tâm
nhiều cuộc thảo luận khoa học quy mô quốc gia và ngành. Các Hội thảo và đề
tài nghiên cứu về US MARC (2000) và liền sau đó là vấn đề về một VN
MARC có cần phải được nghiên cứu, thiết lập hay không và sự chuyển biến
21
nhanh chóng sang các dự án nghiên cứu – phiên dịch và áp dụng MARC 21
đã là các sự kiện khoa học – thực tiễn nổi bật trong toàn hệ thống các tổ chức
TV, cơ quan thông tin của nước ta gần đây.
Do xu thế gia tăng nguồn tin dạng số, ngay từ năm 2002, Doublin Core
như một chuẩn cho việc miêu tả thư mục đối với các dữ liệu dạng số đã bắt
đầu biết đến ở Việt Nam.
Các ví dụ trên cho thấy, hoạt động liên quan đến việc xây dựng, áp
dụng, phổ biến các tiêu chuẩn mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ trong
các TV và cơ quan thông tin được quan tâm, đã nhận được những nguồn đầu
tư đáng kể của Chính phủ cũng như của các tổ chức quốc tế và nước ngoài.
Cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, chuẩn hoá đã và đang trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status