1
1
MỤC LỤC
2
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TMCP : Thương mại cổ phần
KHCN : Khách hàng cá nhân
VIB : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
NQH : Nợ quá hạn
PB : Khối khách hàng cá nhân.
CB : Khối khách hàng doanh nghiệp.
1
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sau khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế và gia nhập WTO, các doanh
nghiệp Việt Nam có thuận lợi để tiếp cận những quan điểm, mô hình kinh
doanh mới từ các nước phát triển, từ các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt
động tại Việt Nam.
Là một phần của nền kinh tế thế giới, xu hướng phát triển tất yếu của
ngành ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới sẽ phát triển theo mô hình
ngân hàng bán lẻ. Hoạt động cho vay cá nhân là một phần trong hoạt động
bán lẻ của ngân hàng, nó tạo ra khoản thu nhập lớn và ổn định dựa trên số
đông người sử dụng, đồng thời tăng hình ảnh của ngân hàng trong con mắt
người dân, góp phần vào sự phát triển bền vững, lâu dài của ngân hàng.
Hiện nay đó là định hướng lâu dài của đa số các ngân hàng cổ phần Việt
Nam. Thể hiện rõ nhất là các Ngân hàng ACB, Ngân hàng Đông Á. Các ngân
hàng nước ngoài như ANZ, HSBC sau khi thành lập ngân hàng 100% vốn
nước ngoài cũng muốn tham gia thị trường còn sơ khai này. Hoạt động cho
thời gian năm 2006 đến nửa năm 2008.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, suy luận logic,
phương pháp so sánh thống kê, toán học, phân tích kinh tế… khi nghiên cứu
đề tài này.
5. Những đóng góp của luận văn.
Khẳng định xu hướng tiếp cận khách hàng cá nhân, trong đó có cho vay
tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Dựa trên phân tích số liệu qua
3
3
các năm và nền tảng công nghệ hiện có đưa ra một số chính sách nhằm phát
triển đa dạng sản phẩm cho vay đáp ứng nhu cầu khách hàng cá nhân tại VIB.
6. Bố cục luận văn.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, kết cấu chính của luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về cho vay đối với KHCN của NHTM.
Chương 2: Thực trạng cho vay đối với KHCN của VIB.
Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay đối với KHCN tại VIB.
4
4
Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
1.1.1 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Các ngân
hàng có thể được định nghĩa qua chức năng hay các dịch vụ mà chúng thực
hiện trong nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày càng có
nhiều các tổ chức tài chính khác nhau cung cấp các dịch vụ ngân hàng như
cho vay, uỷ thác đầu tư, nhận tiền gửi, ngược lại các NHTM cũng đang mở
chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hoá tài sản. Ngân hàng giữ
nhiều loại chứng khoán, có thể xếp loại theo nhiều tiêu thức, ví dụ như theo
tính thanh khoản, theo chủ thể phát hành, theo mục tiêu nắm giữ,…Theo chủ
thể phát hành có thể chia thành: chứng khoán của Chính phủ Trung ương
hoặc địa phương (do kho bạc Nhà nước phát hành); chứng khoán của các
ngân hàng khác, các công ty tài chính (bao gồm các cổ phiếu và các giấy nợ
khác do các ngân hàng, các công ty tài chính phát hành hoặc chấp nhận thanh
toán); chứng khoán của các công ty khác. Ngân hàng giữ chứng khoán vì
chúng mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi để gia tăng ngân quỹ
khi cần thiết.
Các hoạt động khác bao gồm một số hoạt động như: mua bán ngoại tệ,
bảo quản vật có giá, cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán,
quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, bảo lãnh, cho thuê
thiết bị trung và dài hạn, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp
6
6
dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung
cấp các dịch vụ đại lý.
1.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Như đã trình bày ở phần trên, Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho
khách hàng vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong
khoảng thời gian xác định. Phân tích khách hàng trong quan hệ cho vay này
chính là phân tích cho vay. Bởi vì cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song
rủi ro cao nhất cho NHTM nên để có một món cho vay đạt chất lượng thì các
NHTM thường đưa ra một qui trình phân tích khách hàng chặt chẽ. Rủi ro từ
cho vay có rất nhiều nguyên nhân đều có thể gây ra tổn thất, làm giảm thu
nhập của ngân hàng. Có nhiều khoản cho vay mà tổn thất có thể chiếm phần
lớn vốn của chủ, đẩy n gân hàng đến phá sản. Do vậy các ngân hàng thường
cân nhắc kĩ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi quyết định cho
vay. Đó chính là quá trình phân tích trước và trong khi cho vay.
vay của ngân hàng, hoặc cũng có thể phụ thuộc vào sự thoả thuận của khách
hàng và ngân hàng. Về tài sản đảm bảo cho khoản vay bao gồm bất động sản
(nhà, đất,…), động sản (hàng hoá, máy móc thiết bị,…), số dư tài khoản tiền
gửi, các chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác, tài sản có giá trị khác.
1.2 Cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân
Nếu phân loại hoạt động cho vay theo đối tượng khách hàng thì hoạt
động này bao gồm cho vay doanh nghiệp, cho vay các tổ chức tài chính và
cho vay khách hàng cá nhân như đã trình bày ở trên. Do đối tượng nghiên cứu
của đề tài là hoạt động cho vay KHCN của NHTM nên ta sẽ xem xét về hoạt
động này. Cho vay KHCN là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các
8
8
khách hàng là cá nhân: “Đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng
chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều
kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích
của khách hàng.”
Đặc điểm cho vay KHCN: Cho vay KHCN có những đặc điểm riêng
thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác như sau:
Đối tượng cho vay là cá nhân và các hộ gia đình.
Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ
nhưng số lượng khoản vay lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá
nhân và các hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh
nhỏ, nên quy mô của một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân
hàng, số lượng các khoản vay lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá
nhân và các hộ gia đình với số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng.
Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh
doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào
tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Khi nền kinh tế có sự
tăng trưởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ
nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các
khoản cho vay khác hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường,
như vậy với cho vay KHCN ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí
huy động vốn tăng lên. Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá
rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi
suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể
thì hầu hết các khoản cho vay KHCN mới không mang lại lợi nhuận. Nguồn
10
10
thu nhập càng ổn định, ngân hàng có khả năng kiểm soát thì lãi suất áp dụng
cho khách hàng sẽ giảm đi, do rủi ro từ việc cho vay đã được hạn chế.
Hạn mức cho vay KHCN: là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách hàng
vay. hạn mức cho vay KHCN được xác định dựa trên các yếu tố như: nhu cầu
vốn của khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị của tài sản đảm bảo.
Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy định các hạn mức
khác nhau dựa trên giá trị tài sản đảm bảo hoặc nhu cầu vay hợp lý. Thông
thường, cho vay cầm cố có hạn mức cao nhất, chẳng hạn như nếu khách hàng
cầm cố sổ tiết kiệm, trái phiếu hay chứng chỉ tiền gửi có thể được cấp một
hạn mức bằng 90% giá trị tài sản cầm cố. Để có thể xác định được hạn mức
tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo của khách hàng, các ngân hàng cần phải
định giá chính xác tài sản đó. Nếu định giá quá thấp sẽ làm giảm số tiền vay
của khách hàng, nếu định giá quá cao sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
Cuối cùng, ngân hàng sẽ so sánh nhu cầu vay hợp lý (Nhu cầu vay hợp
lý của khách hàng = nhu cầu vốn hợp lý - vốn tự có của khách hàng - vốn
khách hàng vay mượn từ nguồn khác) và hạn mức tín dụng, từ đó xác định số
tiền cho vay. Nếu nhu cầu vay hợp lý > hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ
cho khách hàng vay theo hạn mức tín dụng, nếu nhu cầu vay hợp lý < hạn
mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay số tiền theo nhu cầu vay
hợp lý của khách hàng. Như vậy, sẽ vừa thoả mãn nhu cầu vay của khách
hàng vừa để đảm bảo an toàn cho ngân hàng.
và được dùng để chi trả cho các chuyến đi nghỉ, mua các dụng cụ gia đình
hoặc sửa chữa ô tô, nhà ở… Rủi ro các món vay này là không lớn lắm.
Nếu quy mô khoản vay lớn sẽ có rủi ro cao, do đặc điểm của khoản vay
này là trả cuối kỳ, nguồn trả chủ yếu từ việc bán tài sản khác hoặc nguồn trả
nợ khác gặp khó khăn khi đó kế hoạch trả nợ thay đổi, điển hình khi thị
12
12
trương bất động sản biến động, hoặc nền kinh tế gặp khó khăn. Có thể thấy
điều này qua khủng hoảng thị trường tài chính của Mỹ xuất phát từ việc cho
vay dưới tiêu chuẩn.
Cho vay trả góp
Là khoản cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được thanh toán làm hai hoặc
nhiều lần liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý). Khoản cho vay được trả làm
nhiều lần theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, phương thức này
được dùng để tài trợ cho việc mua sắm các vật dụng đắt tiền như ô tô, nhà,…
hoặc để tài trợ cho các phương án sản xuất kinh doanh, thuê cửa hàng, mua
sắm các tài sản lưu động khác,… Nhìn chung, các khoản cho vay trả góp này
mang lãi suất cố định, tuy nhiên loại mang lãi suất thả nổi cũng đang dần trở
nên phổ biến. Thường thì trong tổng khối lượng cho vay tiêu dùng do các
NHTM cung cấp thì hơn 80% được thực hiện trên cơ sở trả góp. Điều này
xuất phát từ việc khả năng tài chính của khách hàng không đủ để chi trả
khoản vay một lần duy nhất thêm vào đó việc định kỳ trả nợ vào mỗi tháng
hay đến kỳ lương là thuận lợi hơn. Hình thức cho vay này lại được chia nhỏ
thành: cho vay trả gốc và lãi hàng tháng đều nhau (niên kim cố định), trả gốc
hàng tháng bằng nhau, lãi trả theo số dư gốc (niên kim không cố định), hoặc
trả lãi hàng kì còn gốc trả cuối kì.
Cho vay theo thẻ tín dụng
Thẻ tín dụng ngân hàng cũng như các loại thẻ thanh toán khác đã nhanh
chóng được chấp nhận sử dụng, thẻ tín dụng cung cấp một dòng tín dụng
thường xuyên và quay vòng mà khách hàng có thể sử dụng bất cứ khi nào họ
tạp.
Cho vay trực tiếp
14
14
Là hình thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau để
tiến hành cho vay hoặc thu nợ.
Hình thức này có những ưu điểm sau:
Việc cho vay tiến hành trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng do vậy
ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm, và kĩ năng
của cán bộ tín dụng, do đó các khoản vay này thường có chất lượng cao hơn
so với cho vay gián tiếp thông qua các doanh nghiệp bán lẻ.
Cán bộ tín dụng khi cho vay đặc biệt coi trọng đến chất lượng các khoản
vay, song doanh nghiệp bán lẻ hàng hoá, dịch vụ thường coi trọng nhiều đến
việc tăng doanh số bán hàng hơn là chất lượng các khoản vay, hơn nữa các
doanh nghiệp thường đưa ra quyết định cho vay một cách nhanh chóng, nên
dẫn đến tình trạng có những khoản cho vay cấp ra không chính đáng, ngược
lại có thể từ chối khách hàng tốt của mình, như vậy hình thức này đã khắc
phục nhược điểm này nếu cho vay gián tiếp.
Hình thức cho vay trực tiếp linh hoạt hơn hình thức cho vay gián tiếp, vì
khi quan hệ trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng sẽ xử lý tốt các phát
sinh, hơn nữa có khả năng làm thoả mãn quyền lợi cho cả ngân hàng và khách
hàng.
Cho vay trực tiếp với đối tượng khách hàng là rất rộng do đó việc đưa ra
các dịch vụ, tiện ích mới là rất thuận lợi, đồng thời là hình thức để tăng cường
và quảng bá hình ảnh của ngân hàng đến với khách hàng.
Tuy nhiên, hình thức cho vay này cũng có những mặt hạn chế:
Việc mở rộng và tăng doanh số cho vay không thuận lợi bằng hình thức
cho vay KHCN gián tiếp.
Do cán bộ ngân hàng phải làm việc trực tiếp với khách hàng nên Ngân
hàng tốn nhiều thời gian và chi phí so với hình thức cho vay gián tiếp, nhất là
16
Việc thế chấp bằng tài sản cho phép người nhận tài trợ tiếp tục được sử dụng
tài sản trong thời gian vay.
Loại 2 Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay. Khi
khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản
đó không đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu
cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của
ngân hàng làm vật đảm bảo. Để đảm bảo khách hàng không bán tài sản hoặc
sử dụng không cẩn thận làm giảm giá trị của tài sản, ngân hàng thường yêu
cầu khách hàng phải cam kết bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ
hưởng là ngân hàng, đồng thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng.
Cho vay không có tài sản bảo đảm
Là cho vay dựa trên uy tín (tín chấp) hoặc bảo lãnh của bên thứ ba,
không có tài sản bảo đảm. Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín và
khả năng trả nợ tốt để cho vay. Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để đáp
ứng nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tín chấp lương, chủ yếu được áp dụng
đối với khách hàng có thu nhập ổn định, thu nhập ngoài việc trang trải các chi
tiêu thường xuyên còn có một phần tích luỹ để trả nợ vay (công chức, viên
chức trong biên chế nhà nước, nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn,…),
ngoài ra thu nhập hình thành từ sản xuất kinh doanh cũng có thể được xem
xét dùng làm nguồn trả nợ. Hình thức này phù hợp với những khoản vay giá
trị không lớn, thời hạn vay ngắn.
1.2.3 Quy trình cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng
thương mại
Thực tế cho thấy việc đánh giá một khoản cho vay KHCN là không hề
đơn giản, điều này xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
Thông tin về khách hàng là không đầy đủ, khách hàng thường có hiện
tượng che giấu tình trạng tài chính, sức khỏe của họ… Thêm vào đó, các cá
17
17
tín dụng về lý do xin vay hay nhu cầu tín dụng xuất phát từ đâu. Cuộc trò
chuyện giữa cán bộ tín dụng và khách hàng là rất quan trọng bởi vì qua đó
cán bộ tín dụng có điều kiện để nhận biết tính cách cũng như mục đích xin
vay của khách hàng. Nếu cán bộ tín dụng phát hiện ra sự không trung thực
của khách hàng đối với nhu cầu vay vốn thì có nhiều khả năng hồ sơ xin vay
của khách hàng sẽ bị từ chối.
Thông thường thì những đặc điểm cơ bản của người đi vay được bộc lộ
thông qua mục đích của việc vay tiền. Cán bộ tín dụng phải hỏi xem khách
hàng sẽ dùng khoản tiền vay vào mục đích gì và liệu mục đích đó có phù hợp
với chính sách cho vay của ngân hàng hay không. Những cán bộ có kinh
nghiệm đặt câu hỏi cho khách hàng rồi tự tay điền vào trong đơn chứ không
để khách hàng tự điền.
Thẩm định tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng: Bao
gồm các công việc: xác định mức thu nhập của khách hàng, việc làm, số dư
các tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Nhân viên tín dụng phải được đảm bảo
rằng những khách hàng vay vốn ý thức rõ ràng về trách nhiệm hoàn trả đầy đủ
và đúng hạn các khoản nợ. Việc xác định nguồn thu nhập ổn định hàng tháng
của khách hàng có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là nguồn trả nợ cho ngân
hàng. Những khách hàng có thu nhập ổn định và thu nhập còn lại sau khi trừ
các khoản chi phí sinh hoạt cần thiết cao thì khả năng vay sẽ cao.
Đối với những khách hàng có chất lượng tín dụng thấp thì ngân hàng yêu
cầu phải có người đứng ra bảo lãnh về việc hoàn trả các khoản vay. Nếu
người đi vay không thanh toán cho các khoản nợ được bảo lãnh thì người
đứng ra bảo lãnh có trách nhiệm phải thanh toán. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng
chỉ xem việc có người bảo lãnh là một đảm bảo về mặt tâm lý hơn là một
19
19
nguồn đảm bảo thực sự. Người đi vay sẽ thấy có trách nhiệm hơn trong việc
hoàn trả khoản vay vì uy tín của người bảo lãnh.
Bước 3: Thẩm định tài sản đảm bảo.
không, quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu
lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ hay không, tài sản thế chấp có được giữ đảm bảo
hay không,… Quá trình này cho phép ngân hàng thu thập thông tin về khách
hàng, nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt cho thấy chất lượng tín
dụng đang được đảm bảo, ngược lại,thì chất lượng khoản cho vay bị đe dọa.
Bước 6: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới.
Đây là bước cuối cùng của quy trình cho vay KHCN. Cán bộ tín dụng
theo dõi, đôn đốc việc trả nợ của khách hàng. Quá trình này giúp ngân hàng
thu hồi gốc và lãi đồng thời xác định các nhu cầu mới của khách hàng. Nói
chung, các khoản tín dụng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng
an toàn. Nhưng trong một số trường hợp, các khoản tín dụng đã không được
hoàn trả hoặc không hoàn trả đủ, đúng hạn. Việc thanh toán nợ không đúng
hạn cho thấy các trục trặc trong hoạt động của khách hàng. Việc xem xét tìm
nguyên nhân là rất quan trọng giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định
mới để đảm bảo thu hồi khoản cho vay.
Khi phát hiện các khoản nợ có dấu hiệu xấu song khách hàng vẫn kiên
quyết tìm cách khắc phục để trả nợ, cán bộ tín dụng xem xét việc gia hạn nợ,
bổ sung các điều kiện như giảm lãi hoặc cho vay thêm.
Trong trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ nần
dây dưa hoặc làm ăn yếu kém không còn phương cách cứu vãn, ngân hàng áp
dụng phương án thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi
21
21
nợ, bao gồm phong toả và bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản tiền
gửi,…
1.2.4 Phát triển cho vay đối với khách hàng cá nhân.
1.2.4.1 Khái niệm phát triển cho vay khách hàng cá nhân.
Phát triển cho vay đối với một đối tượng khách hàng cụ thể là việc ngân
hàng tăng cường sử dụng nguồn lực của mình vào việc gia tăng hoạt động cho
vay đối với đối tượng khách hàng đó, cả về doanh số và chất lượng cho vay
đã đạt kết quả tốt. Tuy vậy, kết quả phát triển cho vay KHCN chỉ thực sự đạt
hiệu quả nếu dư nợ cho vay KHCN tăng cả về số lượng tuyệt đối, lẫn số
lượng tương đối (tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN so với tổng dư nợ).
Dư nợ
CVTD năm
nay
=
Dư nợ CVTD
năm trước
+
Doanh số
CVTD năm
nay
_
Doanh số thu
nợ CVTD năm
nay
Tốc độ tăng trưởng =
Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm này
Tổng dư nợ cho vay tại thời điểm trước
Người ta cũng có thể dùng chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN trong
tổng dư nợ cho vay của ngân hàng để đánh giá sự tăng trưởng cho vay. Nó
được tính bằng cách so sánh dư nợ cho vay tiêu dùng với tổng dư nợ cho vay
chung cùng một thời điểm.
Tỷ trọng cho vay
KHCN
=
Tổng dư nợ cho vay KHCN
Tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này cho thấy sự tăng trưởng của cho vay KHCN so với sự
Doanh thu cho vay
KHCN
=
Dư nợ cho vay
KHCN
x
Lãi suất cho vay
KHCN
Chi phí cho vay KHCN là phần chi phí bao gồm: Lãi suất huy động vốn
để đáp ứng nhu cầu vay cho các kỳ hạn vay, chi phí quảng cáo, chi phí hoạt
động… Chi phí này được phân bổ trong từng thời kỳ.
Dư nợ cho vay là số tiền khách hàng nhận nợ tại ngân hàng.