Sang kien kinh nghiem doi moi pp day tap doc lop 3 - Pdf 28

Kinh nghiệm sáng kiến" Đổi mới phơng pháp dạy tập đọc lớp 3 "
A/ phần mở đầu
I. Đặt vấn đề:
Đất nớc ta đang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn kinh tế mở cửa có sự
điều tiết của nhà nớc. Trớc yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi nền giáo
dục phải thay đổi mục tiêu đào tạo, xét lại nội dung và phơng pháp dạy học. Đó là
việc là rất bức xúc và cần thiết hiện nay.

Dạy môn Tiếng Việt ở nhà trờng nói chung và môn Tập đọc ở Tiểu học nói
riêng đang là một vấn đề đợc các nhà trờng quan tâm. Biết đọc là có thêm một công
cụ mới để học tập, để giao tiếp, để nắm bắt đợc mọi thông tin diễn ra hằng ngày trong
xã hội. Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chơng, con ngời không chỉ đợc thức tỉnh về
nhận thức mà còn rung động về tình cảm, nảy nở những ớc mơ tốt đẹp, đợc khơi dậy
năng lợc hành động, sức mạnh cũng nh đợc bồi dỡng tâm hồn. Với t cách là một phân
môn thuộc bộ môn Tiếng Việt Tiểu học, tập đọc giữ vai trò cực kỳ quan trọng, trớc hết
giúp học sinh rèn luyện kỹ năng đọc (đọc đúng, đọc diễn cảm) một văn bản. Xét về
tính mục đích, dù trong khuôn khổ của chơng trình cấp học, đọc vẫn là một hình thức
chiếm lĩnh tác phẩm. Đọc để giải mã các tín hiệu ngôn ngữ, để cảm, hiểu tác phẩm.
Hay nói rộng hơn đọc để tiếp cận thế giới nghệ thuật mà nhà văn xây dựng.
Chính vì vậy dạy đọc có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học, nó trở thành một đòi hỏi cơ
bản đầu tiên đối với mỗi ngời đi học. Nó là công cụ để học tập các môn khác. Học
sinh đọc tốt, đọc một cách có ý thức sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, bồi dỡng các
em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng nh có
hình ảnh. Những kỹ năng này các em sẽ sử dụng suốt đời. Nh vậy dạy đọc có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dỡng, giáo dục và phát triển. Vì
những lý do nêu trên và do những yêu cầu của giáo dục Tiểu học, tôi xin mạnh dạn
trình bày một vài quan điểm của bản thân về đổi mới phơng pháp dạy tập đọc lớp 3 ở
trờng Tiểu học.
II. Mục đích chuyên đề:
1. Tìm hiểu yêu cầu nhiệm vụ của phân môn Tập đọc ở lớp 3.
2. Nêu thực trạng và một số định hớng khắc phục.

đoán đúng đắn, phải phát triển nhân cách. Hãy tìm ra phơng pháp cho phép giáo viên
dạy ít hơn, học sinh nhiều hơn."
II. Tình hình thực tế "những mặt còn hạn chế"
1. Học sinh: (Nơi điều tra)
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, học sinh Tiểu học còn nhỏ, sự tự giác trong
học tập cha cao, trình độ học còn yếu (cha rành mạch, còn ấp úng, nhát gừng, cha thật
thông hiểu văn bản). Các em còn có thói quen đọc thiếu ý thức (đồng thanh nhiều, ít
đợc nhắc nhở, uốn nắn nên đọc ê a nh "cầu kinh", liến thoắng, vội vã, hấp tấp).
- Do ảnh hởng của phơng ngữ vùng nông thôn tại tỉnh nhà thờng mắc các lối
nh:
+ Phát âm không chuẩn xác một số phụ âm đâu: l/n; ch/tr.
+ Đọc và dùng từ địa phơng: chổi/ chủi; bảo/ bẩu; ổi/ ủi; sổi/ sủi, nhiều/ nhều, từng/
tình; nổi/ nủi.
+ Lẫn dấu thanh: sắc/ ngã. VD: Cúng/ cũng, thể dục/thễ dục.
2. Giáo viên:
- Quá xa vào giảng văn - Lúng túng trong sử lý phần tìm hiểu bài. Đây là điểm
vớng mắc khá phổ biến mà nhiều giáo viên vẫn cha tìm ra cách gỡ. một sốgiáo viên
lúc nào họ cũng thấy giảng cha đủ để học sinh hiểu, mà quên rằng học sinh Tiểu học
"tiêu hoá" kiến thức ít hơn học sinh THCS.
- Phân luyện đọc nhiều giáo viên cho là dễ, nhng thực chất đây là phần khó
nhất, phần trọng tâm của bài giảng. ở phần này giáo viên ít mắc lỗi về thao tác kỹ
htuật nhng lại không biết dạy nh thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học
sinh, cha chú ý đến tốc độ đọc của học sinh theo yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cơ
bản phù hợp với từng khối lớp.
- Phần hạn chế thờng gặp nhất là giáo viên phân bố thời gian cha hợp lý. Có
những phần dạy quá sâu hoặc giông dài, không cần thiết. Có phần lại hời hợt ch đủ độ
"cần" của bài giảng. Thờng thấy nhất là hiện tợng học sinh không còn thời gian luyện
đọc, dẫn đến hiệu quả dạy đọc không cao, không sửa đợc lỗi phát âm sai của học sinh.
- Một hạn chế rất phổ biến ở giáo viên khi dạy đọc Tập đọc là không phân biệt
đợc sự khác nhau giữa tiết Tập đọc và tiết Tập đọc - học thuộc lòng. Nhiều giáo viên

học thông thờng trong tiết tập đọc là tranh phóng to minh hoạ của SGK, hay một số
vật thật hoặc mô hình để giảng từ và ý. Ngoài ra, nếu có điều kiện trong tiết tập đọc
cũng có thể sử dụng các trang thiết bị hiện đại nh máy chiếu, băng hình để nghe, xem,
minh hoạ cho nội dung bài tập đọc. Tuy nhiên không nên lạm dụng cần thiết, làm mất
thới gian trong tiết dạy.
- Soạn bài trớc ngày dạy (ít nhất 3 ngày). Phần giới thiệu bài cần gây bất ngờ,
cuồn hút sự chú ý học tập của các em ngay từ phút đầu. Trong bài soạn có thể dự kiến
một số trờng hợp có thể xảy ra. Ngoài ra ngời giáo viên cần phải đọc bài tập đọc
nhiều lần để tìm ra cách đọc hay nhất.
- Nghiêm túc thực hiện chơng trình giảm tải của Bộ GD & ĐT.
- Đặc biệt chú ý đến việc bố trí, phân phối thời gian cho từng phần, từng bớc để
tiết dạy hợp lý và không kéo dài quá 40 phút.
- Giáo viên thờng xuyên và không ngừng học hỏi để tự nâng cao trình độ học
vấn. Học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyện môn. Dạy thật tốt
cả 9 môn học để góp phần nâng cao chất lợng giảng dạy. Giáo viên phải sử dụng ngôn
ngữ trong sáng, gần gũi dễ hiểu.
- Thờng xuyên tổ chức chuyên đề trong đó có chuyên đề tập đọc. Thờng xuyên
tổ chức dự giờ, thăm lớp, hội giảng. Rút kinh nghiệm sau mỗi chuyên đề, tiết dự và
thảo luận về phơng pháp dạy học để tìm ra phơng pháp tối u trong việc rèn đọc và
phát triển t duy cho học sinh qua tiết dạy.
IV. Đề xuất hớng đổi mới:
Để đổi mới phơng pháp dạy Tập đọc Tiểu học nói chung, Tập đọc lớp 3 nói
riêng, mỗi giáo viên Tiểu học phải năm vỡng:
1. Yêu cầu của phân môn tập đọc:
- Tập đọc là phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình
thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc đợc tạo nên từ 4 kỹ năng, cũng là 4
yêu cầu của chất lợng đọc, đó là: Đọc đúng, đọc nhanh (Lu loát, trôi chảy), đọc có ý
thức (thông hiểu đợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc
diễn cảm. Bốn kỹ năng này đợc hình thành trong hai hình thức đọc: Đọc thành tiếng
và đọc thầm. Chúng đợc rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một

hoạt của các em thiếu nhi cũng đợc tô đậm trong các bài: Mình bận học, bài tập làm
văn, Mùa thu của em, Chim lộc thua.
3. Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc lớp 3:
việc dạy tập đọc ở lớp 3 cần đạt đợc các yêu câu nh:
- Trau dồi vốn Tiếng việt và Văn học cho học sinh, giúp học sinh mở rộng hiểu
biết về cuộc sống và phát triển t duy.
- Bối dỡng t tởng, tình cảm, mĩ cảm cho học sinh.
- Đọc đợc 1 bài khoảng 150 chữ trong thời gian 2-3 phút.
- Đọc rõ ràng, rành mạch từng câu, từng đoạn trong bài tập đọc (thơ hay văn
xuôi), biết đọc rõ và nghỉ hơi ở dấu chấm, ngắt hơi ở dấu phẩy.
- Đọc thầm, hiểu nội dung bài đọc ở lớp 3. Nếu đợc ý nghĩa của đoạn, bài đã
đọc, trả lời đợc những câu hỏi về nội dung, ý nghĩa của bài đọc.
- Có giọng đọc phù hợp với thể loại và nội dung bài đã học thuộc lòng (bài thơ
khoảng 10-12 dòng, văn xuôi khoảng 80 chữ).
- Thông qua các bài tập đọc, một mặt học sinh đợc cung cấp thêm vốn kiến từ
ngữ cơ bản theo chủ đề, mặt khác vốn trí thức về cuộc sống của các em cung đợc mở
rộng và năng cao.
- Dạy bài tập đọc, giáo viên cần hiểu mổi quan hệ qua lại giữa hai hoạt động
chính của tiết học là luyện đọc và tìm hiểu bài, trong đó việc; luyện đọc đợc coi là
trọng tâm. Hai hình thức luyện đọc chủ yếu mà giáo viên cần lu ý quan tâm là đọc
thành tiếng (trong đó chú ý yêu cầu đọc đúng, rõ ràng, rành mạch) và đọc thầm. Giữa
hai hình thức này có một hình thức đọc mang tính chất chung gian là đọc nhẩm (Có
mấp máy môi, âm thanh phát ra rất khẽ, không rõ tiếng).
- Khi học sinh luyện đọc, giáo viên cần giúp học sinh luyện đọc đúng những từ,
cụm từ, câu khó đọc trong bài, hớng dẫn các em ngắt, nghỉ hơi (nhất là đối với các
câu dài). Trình độ (đọc mẫu) của giáo viên có ảnh hởng đáng kể đến kết quả bài dạy.
Do đó giáo viên cần rèn luyện để có trình độ đọc tốt, góp phần làm cho giờ tập đọc
đạt hiệu quả cao.
- Mỗi bài tập đọc là một tác phẩm nghệ thuật. Vì vậy cần rèn đọc và khai thác
đều phải chú ý tính nghệ thuật, ngoài chức năng dạy đọc, nó còn chau dồi cho học

d, Phân loại các dạng câu hỏi khi khai thác bài văn:
- Câu hỏi làm tái hiện nội dung chính của bài (Loại câu hỏi này dùng để giảng
từ và ý)
- Câu hỏi bắt buộc học sinh phải so sánh, liên tởng thực tế.
- Câu hỏi khai thác các hình thức nghệ thuật của bài.
- Câu hỏi mở rộng.
Hệ thống câu hỏi đạt ra phải đợc nâng bậc từ thấp đến cao và cuối cùng chốt lại
ở phần tổng kết bài, mở rộng và liên hệ thực tế, giáo dục đạo đức cho học sinh.
Ví dụ 1:
Đối với bài tập đọc :"Bàn tay mẹ" - Lớp 3 tập 1
Tôi thay đổi hệ thống câu hỏi nh sau:
+ Qua đoạn 1, em cho biết bàn tay mẹ Bình nh thế nào?
(Bỏ câu hỏi vì sao Bình rất thích 2 bàn tay mẹ?)
+ Em hãy kể những công việc trong nhà phải nhờ đến bàn tay mẹ?
+ Vì sao khi mẹ xoa má, Bình rất thích?
+ Trớc sự vất vả và tấm lòng đầy yêu thơng của mẹ, Bình muốn làm gì?
+ Bình đã làm gì để thực hiện ớc muốn đó?
+ Suy nghĩ về việc làm đó thể hiện tình cảm gì của Bình đối với mẹ?
+ Vì sao Bình lại áp hai bàn tay mẹ lên má?
Nêu câu hỏi thăm dò:
+ Khi đọc bài này em thích nhất đoạn nào? Vì sao? Hãy đặt tên cho đoạn đó?
(Bỏ câu hỏi: em hãy tìm trong bài 3 từ láy tả bàn tay mẹ Bình?)
+ Hằng ngày em đã làm đợc những việc gì để giúp đỡ mẹ?
Ví dụ 2:
Đối với bài "Chiếc võng của bố" - Tập đọc lớp 3 tập 1 tôi đa ra hệ thống câu
hỏi nh sau:
+ Vì sao bạn nhỏ có đợc chiếc võng màu xanh lá cây?
+ Bạn nhỏ đợc bố cho chiếc võng vào dịp nào?
+ Vì sao bố bạn lại có chiếc võng ấy?
+ Tìm từ tả những chuyển động của võng khi bạn nhỏ nằm lên?

nhiệm vụ của tiết học bằng cách trực tiếp hay gián tiếp. Song bằng hình thức nào vẫn
thể hiện sự gò bó về ý thức nhận biết nhiệm vụ tiết học. Để giúp học sinh nhận biết
nhiệm vụ tiết học hay từng phần của giờ học, sau khi nghe giáo viên đọc hớng mẫu
lần 1, học sinh khá đọc, lớp đọc thầm, giáo viên có thể định hớng cho học sinh tham
gia đặt câu hỏi để học sinh nhận biết nhiệm vụ học tập của mình.
Lu ý giáo viên phải thể hiện vai trò chủ đạo tổ chức cho học sinh tham gia đặt
câu hỏi theo hớng trọng tậm của bài.
Ví dụ 1: Bài :"Tiếng hát ngời làm gạch" TV3 - Tập 2 học sinh có thể đặt câu
hỏi:
- Đọc bài này với giọng đọc nh thế nào?
(Giọng vui có âm điệu lời ca)
- Hãy tìm những tiếng khó phát âm dễ lần?
(Lặng, xôn xao, lắng, dẻo, nên, dài lâu, đất nâu)
- Nội dung bài nói lên điều gì?
(Niềm vui xây dựng và sáng tạo trong phong trào thi đua lao động của ngời
công nhân làm gạch).
c- Câu hỏi tìm hiểu nội dung bài:
Ngoài việc tổ chức cho học sinh tham gia đặt câu hỏi ở phần kiểm tra bài cũ và
phần nhận biết nhiệm vụ gì học, tôi tạo cơ hội để các em đợc tham gia đặt câu hỏi để
tìm hiểu nội dụng bài đọc tập đọc.
Ví dụ: Bài :"Nói với sông Đơ-nhi-ep" TV3- Tập 2.
- Con ngời nói gì với sông Đơ-nhi-ép ?
(Sẽ chắn ngang sông bằng tờng thép)
- Bị chắn ngang sông bằng tờng thép sông Đơ-nhi-ép mang lại lợi ích gì cho con
ngời.
(Tàu chạy, máy chạy chuyện trở hàng hoá đi các nơi dễ dàng. Mang nớc tới
đồng ruộng, có điện cho nhân dân).
- Vì sao sông Đơ-nhi-ép mang lại những lợi ích kể trên?
(Vì ngời ta chinh phục dòng sông và xây dựng ở đó một nhà máy thuỷ điện).
d- Câu hỏi nhờ giải thích:

cho học sinh khó hiểu. Theo tôi để giải nghĩa từ "áp" giáo viên có thể hỏi:
- Câu nào trong đoạn văn có từ "áp".
(Bình rất thích áp hai bàn tay của mẹ vào má).
- Cho học sinh quan sát tranh (SGK) rồi giải thích rõ thêm "áp" nghĩa là đặt sát hai
bàn tay mẹ vào má mình.
- Từ tranh minh hoạ giáo viên làm nổi bật tình cảm của hai mẹ con Bình.
* Giải thích thêm từ: ram ráp, nhóm bếp.
Tóm lại: Trong quá trình truyền thụ kiến thức mới để học sinh nắm bắt đợc nội
dung của bài ngời giáo viên phải vận dụng linh hoạt nhiều phơng pháp . Không có ph-
ơng pháp nào là vạn năng , tuyệt đối. Cần lựa chọn các phơng pháp sao cho phù hợp
với từng bài nhng vẫn đảm bảo tính khoa học và vừa sức.
4. Coi trọng việc rèn luyện đọc cho học sinh:
Đọc có nhiều hình thức: Đọc trơn, đọc diễn cảm, đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm,
đọc cá nhân, đọc hiểu. Kỹ năng đọc của học sinh lớp 3 cha thật hoàn thiện nên trong
việc rèn đọc yêu cầu đọc đúng và tiến tới đọc hay là chủ yếu. Trong việc rèn đọc cần
luôn luôn gắn với yêu cầu cảm thụ văn học.
a- Hỡng dẫn đọc thành tiếng:
Muốn học sinh đọc tốt, trớc hết cần rèn cho học sinh phát âm đúng, rõ ràng. ở
lớp 3 tôi thấy đầu năm học sinh phát âm sai rất nhiều, chủ yếu là phát âm sai phụ âm
đầu: l/n, s/x; phát âm sai theo thói quen địa phơng Hải Dơng.
Để khắc phục tình trạng trên, tôi đã tiến hành nh sau:
+ Điều tra phân loại lỗi ngay từ đầu năm cho từng em, từng nhóm đế có kế
hoạch bồi dỡng, uốn nắn.
+ Khi hớng dẫn phát âm, tôi phân tích cho các em thấy sự khác biệt của phát
âm đúng với phát âm sai mà các em mắc phải. Đi sâu vào phân tích, có khi dùng hình
vẽ để minh hoạ cho các em thấy đợc hệ thống môi, răng, lỡi khi phát âm. Giáo viên
dùng trực giác hay nghe nhìn để hớng dẫn cho các em nghe, nhìn khuôn miệng của cô
giáo đánh vần (Các bộ phận cấu âm) để học sinh đọc thầm theo mẫu.
Ví dụ:
- Âm N: Đầu lỡi và mặt sau của răng cửa hàm trên tạo nên điểm cấu âm cho âm N,

Câu 1: Bàn tay của mẹ Bình thế nào? Vì sao tay của mẹ Bình lại thế?
Câu 2: Bình suy nghĩ gì về mẹ?
Câu 3: Vì sao Bình rất thích áp hai bàn tay mẹ vào má?
Câu4: Em hãy đặt những tên khác cho bài tập đọc trên?
* Phiếu dành cho học sinh trung bình, yếu:
Câu 1: Em hãy kể những công việc ở nhà phải nhờ đến bàn tay mẹ?
Câu 2: Thấy mẹ vất vả, Bình muốn làm gì? và đã làm gì để thực hiện ớc muốn
đó?
Câu 3: Đánh dấu x vào lý do em chọn:
Bình rất thích áp hai bàn tay của mẹ vào má vì:
Bàn tay của mẹ Bình ram ráp.
Bàn tay của mẹ mềm mại, dễ chịu.
Bình yêu mẹ nên muốn đợc mẹ âu yếm.
6. Tổ chức các trò chơi luyện đọc:
Nên tổ chức trò chơi vào cuối tiết học (nếu còn thời gian) để tạo không khí vui
tơi, hồn nhiên, nhẹ nhàng. Có thể tổ chức các trò chơi dới các hình thức sau:
- Thi đọc nhanh, thuộc giỏi.
- Thi đọc tiếp sức.
- Thả thơ.
- Đọc thơ truyện điện.
- Chọn ngời uyên bác.
7. Liện hệ thực tế:
Để giáo dục đạo đức, t tởng, tình cảm, tạo vốn sống lành mạnh cho các em (có
thể giáo dục dân số nếu phù hợp). ở phần này giáo viên nên lu ý bài tập đọc đó thuộc
chủ đề gì để giáo dục đạo đức cho học sinh theo chủ đề.
Ví dụ:
Khi dạy bài: Bàn tay mẹ - (chủ đề gia đình) nên giáo dục cho học sinh về tình
cảm gia đình. Có thể tổng kết bài bằng vài câu nh sau: "Sở dĩ bàn tay mẹ gầy gầy, x-
ơng xơng vì mẹ sẻ nửa bàn tay ấy cho các con. Mẹ cho con gái mình bàn tay trắng
hồng, mũm mĩm. Mẹ cho con trai mẹ đôi bàn tay khoẻ mạnh rắn chắc. Mẹ cho các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status