L. Tolstoi trong sự tiếp nhận của độc giả miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 - Pdf 28

L. Tolstoi trong sự tiếp nhận của độc giả miền Nam giai đoạn 1954 –
1975
(Trần Thị Quỳnh Nga)

Ở miền Nam trước năm 1975, văn học Nga tuy không được dịch rộng rãi như văn học Anh, Pháp, Mĩ, Trung Quốc,
Đài Loan, Hồng Kông… nhưng nền văn học này cũng có một vị trí đáng kể. Có thể thấy sự hiện diện của các tác giả
Nga như L. Tolstoi, F. Dostoievski, A. Chekhov, M. Gorki, M. Cholokhov, B. Pasternak, A. Soljenitsyn… qua các bản
dịch hoặc các bài nghiên cứu của giới phê bình Sài Gòn. Tuy nhiên, bằng ấy tên tuổi, dù tiêu biểu, chưa đủ để hình
thành khái niệm về một nền văn học Nga toàn diện.
Trên phương diện thể loại, văn đàn Sài Gòn chỉ có sự xuất hiện truyện ngắn, tiểu thuyết Nga. Di sản thơ ca của các
nhà thơ Nga như A. Puskin, M. Lermontov, N. Nekrasov, và cả các nhà thơ Xô viết như A. Blok, X. Esenin, V.
Maiakovski… vẫn còn là "khoảng trống" trong tiếp nhận của độc giả miền Nam. Kịch cổ điển, hiện đại Nga càng xa lạ
với công chúng, có lẽ vì truyền thống sân khấu Nam Bộ luôn ưa thích cải lương hơn kịch nói.
Theo số lượng sách được xuất bản tại Sài Gòn thì L. Tolstoi, F. Dostoievski, A. Soljenitsyn là những tác giả có đầu
sách dịch vượt trội.
Hầu hết tác phẩm của các nhà văn này đều được chuyển dịch sang tiếng Việt, không ít trong số đó trước năm 1975
chưa được ra mắt bạn đọc miền Bắc. Đây cũng là ba trường hợp tiêu biểu cho xu hướng tiếp cận văn học Nga của
độc giả miền Nam.
Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập vài nét khái quát tình hình dịch thuật, nghiên cứu sáng tác của L. Tolsoi ở
miền Nam giai đoạn 1954 – 1975.
Theo Trần Phong Giao, trước 1945 đã có một số bản dịch cùng một số sách viết về L. Tolstoi. Tuy nhiên, đây là “Việc
làm lẻ tẻ và chú trọng tới tính bác ái của tác giả nhiều hơn là nhằm giới thiệu những giá trị văn chương tư tưởng” (1)
. Những sách báo ấn hành trước năm 1945 vốn đã ít, ngay sau đó lại trở nên hiếm hoi, khó tìm kiếm. song dù sao,
con đường để Tolstoi đến với công chúng độc giả miền Nam cũng đã mở.
Trên tư liệu dịch thuật, độc giả miền Nam làm quen với Tolstoi vào cuối những năm 50, khi trên các Tạp chí Văn hoá
ngày nay, Bách khoa giới thiệu tác phẩm Một bản đàn, đoạn trích Cái chết của An-Đễ, Tâm trạng một thương binh
(trích Chiến tranh và hoà bình) qua bản dịch của Bảo Sơn. Song trong thực tế, nhiều trí thức Sài Gòn đã biết đến tên
tuổi, tác phẩm của Tolstoi qua vốn kiến thức ngoại ngữ của họ trước cả thời gian lần đầu chuyển ngữ tác phẩm.
Nguyễn Hiến Lê nhớ lại: “Lần đầu tiên tôi đọc Chiến tranh và hòa bình là hồi 15 hay 16 tuổi… Lần thứ nhì tôi đọc lại
là vào năm 1950, cũng lại là một bản cắt bớt gồm sáu cuốn của nhà Bibliothèque Mondiale. Lần này tôi cũng say mê
như lần trước, hiểu tác phẩm hơn hồi trẻ và hiểu hơn thì lại càng thấy thú vị hơn. Năm sáu năm sau, tôi mới kiếm

ngắn hay nhất thế giới (Nguyên Hùng tuyển dịch, NXB Sống Mới, 1970) in truyện Lạc giữa đồng tuyết (Ông chủ và
người làm công). Có bản dịch vừa xuất bản đã có tiếp một bản dịch khác, chẳng hạn: Những người Kodac của Tolstoi
do Nguyễn Trọng Đạt dịch (NXB Trí Đăng, 1970) với nhan đề Sơn lâm êm đềm, đến năm 1973, NXB Đất Sống giới
thiệu bản dịch của Mặc Đỗ dưới một nhan đề khác: Vùng đất hoang vu…
Tần số xuất hiện không quá khiêm tốn các bản dịch tác phẩm Tolstoi ở miền Nam vào những năm 60 và đầu những
năm 70 có nhiều nguyên nhân. Đây là thời kì chính quyền Sài Gòn đang cố sức du nhập sự đa nguyên về tư tưởng
để quảng bá cho “chế độ tự do” của Việt Nam Cộng Hòa. Việc du nhập sự đa nguyên, “tự do” về tư tưởng ấy được
triển khai rất rộng rãi ở hoạt động dịch thuật. Trong đống hỗn độn những văn hóa phẩm của gần 150 nhà xuất bản
có nhiều tác phẩm là tinh hoa văn học thế giới, trong đó có tác phẩm của Tolstoi. Một điểm nữa cần lưu ý là các nhà
xuất bản ở Sài Gòn mang tính chất tư nhân, kinh doanh cạnh tranh. Bị chi phối bởi quy luật kinh tế thị trường nghiệt
ngã, các nhà xuất bản luôn và buộc phải chú ý thị hiếu bạn đọc. Tác phẩm có người hâm mộ, bán chạy, họ mới cho
in sách. Nhiều hiện tượng văn học trở thành “mốt” thời thượng như tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, tiểu thuyết tình
cảm Quỳnh Dao…thu hút đông đảo độc giả. Việc chọn dịch tác phẩm của nhà văn tầm cỡ thế giới như L. Tolstoi
không ngoài mục đích vừa đáp ứng nhu cầu độc giả, vừa trông mong thành công lợi nhuận. Tình trạng nhiều nhà
xuất bản cùng đổ xô dịch tác phẩm của Tolstoi là điều dễ hiểu. Cũng có trường hợp, chẳng hạn NXB Lá Bối in tác
phẩm của Tolstoi để “như muốn ghi nhận mối tha thiết của L. Tolstoi đến đạo Phật và ghi nhận sự đồng điệu giữa
trường phái Tolstoi, chủ nghĩa bất bạo động của Tolstoi với thuyết Phật giáo”(6).
Có thể nói, những bản dịch tác phẩm L. Tolstoi, tại miền Nam trước 1975 đã góp phần giới thiệu sáng tác của cây
bút văn xuôi cổ điển Nga. Bên cạnh bản dịch thành công như Chiến tranh và hoà bình của Nguyễn Hiến Lê thì chất
lượng nhiều bản dịch cần cân nhắc, kiểm định lại . Hầu hết các bản dịch đều được dịch qua ngôn ngữ trung gian
(tiếng Anh, tiếng Pháp), không có sự đối chiếu với bản tiếng Nga. Hơn nữa, sự phát triển như thác chảy về mặt số
lượng các bản dịch, tất nhiên không thể đảm bảo chất lượng của chúng. Về điều này, N. Nikulin nhận xét : “Dù chỉ
mới xem sơ qua một số bản dịch, cũng đã có một ấn tượng đáng buồn. Ví dụ, lật bản dịch Phục sinh của Tolstoi do
NXB Phù Sa, Sài Gòn in năm 1973, ta sẽ thấy ngay sự nghèo nàn về ngôn từ, sự thiếu chính xác, không tương xứng
về văn phong. Người dịch đã dịch từng chữ, nên đã chia nhỏ những “trường đoạn” ngôn ngữ nổi tiếng của Tolstoi
thành những câu ngắn nát vụn” (7). Ngoài ra, có hiện tượng một số dịch giả miền Nam tuỳ tiện thay đổi nhan đề tác
phẩm. Chẳng hạn : Bản sonat tặng Kreutzer thành Một bản đàn, Khúc nhạc mê li; Phục sinh thành Vùng đất hồi
sinh; Những mẩu chuyện Sevastopol thành Tình trong chiến hào; Những người Kodac thành Sơn lâm êm đềm, Vùng
đất hoang vu, Dũng sĩ miền núi; Cái chết của Ivan Ilich thành Tử thần chờ đợi … Sự thay đổi nhan đề như vậy phản
ánh phần nào cách hiểu nội dung tư tưởng và hướng tiếp cận tác phẩm của dịch giả nhưng cũng gây khó khăn cho

giá là một trong những tuyệt đỉnh của tiểu thuyết Nga, là tác phẩm bộc lộ đầy đủ, trọn vẹn nhất sức mạnh thiên tài
nghệ thuật của Tolstoi. Hoàng Vũ Đức Vân khâm phục nghệ thuật phân tích tâm lí của Tolstoi : “Mặc dù ông không
tả đời sống bên trong của các nhân vật mà chúng ta vẫn cảm thấy rõ rệt đời sống bên trong ấy như được phân tích
thật tỉ mỉ, kĩ lưỡng” (14). Nguyễn Hiến Lê thì bị thu hút bởi “những trang hay nhất trong Chiến tranh và hoà bình là
những trang tả cảnh sinh động. Có hàng trăm, hàng ngàn cảnh khác nhau mà cảnh nào cũng như đang diễn lại
trước mắt ta”(15). Mỗi người, tuỳ cách cảm, đều tìm thấy ở Tolstoi cái hay, cái đẹp của nghệ thuật văn chương đích
thực; không ít người đã dùng tác phẩm của ông để trau dồi cách viết.
Bên cạnh Chiến tranh và hoà bình, Anna Karenina cũng được coi là tiểu thuyết tâm lí xuất sắc, bức hoạ vĩ đại về thực
tại Nga thời kì biến chuyển dữ dội của lịch sử. Người đọc nhận ra ở nhân vật Levin những tương đồng với tác giả về
“sự cố gắng giúp đỡ dân quê, niềm tin vào Chúa, tình yêu nhân loại, nỗi thôi thúc suốt đời muốn sống tốt hơn lên”
và tìm thấy qua những trang tiểu thuyết này “sự phấn đấu của một tâm hồn tìm kiếm chân lí cuộc đời”(16). Dù còn
nhiều vấn đề nội dung, nghệ thuật chưa được đề cập, nhưng nhận định trên đây của nhà sách Khai Trí có thể coi
như sự trình bày quan điểm về cách hiểu, cách cắt nghĩa tác phẩm.
Lời Tựa của NXB Phù Sa cũng cho thấy cách tiếp cận phổ biến của độc giả miền Nam đối với Phục sinh, tiểu thuyết
cuối cùng của Tolstoi. Theo nhận định của NXB Phù Sa, cội nguồn sức mạnh khiến Vùng đất hồi sinh vượt được thời
gian, không gian, “sống luôn hai thế kỉ và có mặt khắp nơi trên thế giới” bởi chính những vấn đề đặt ra trong tác
phẩm. Tuy nhiên ở đây, người ta đã dùng những từ ngữ “to tát” để bàn về nội dung cuốn tiểu thuyết ; chẳng hạn,
cho rằng Vùng đất hồi sinh là “một thử thách của ý niệm khai phóng xã hội nông nghiệp, một mặc cả vô hiệu giữa
điền chủ và nông nô, những ẩn ức của kẻ làm chính trị mà không nghĩ mình làm chính trị, một sự trả giá giữa Con
người và Thượng đế”(17).
Nghiên cứu L. Tolstoi, không phải lúc nào giới phê bình Sài Gòn cũng có cái nhìn khách quan. Chẳng hạn, nhận xét
các nhân vật lịch sử trong Chiến tranh và hoà bình, Nguyễn Hiến Lê có cách hiểu chưa thấu đáo, cho rằng Tolstoi
“thâm oán Napoleon…, kẻ thù của dân tộc ông, cho nên trong Chiến tranh và hoà bình ông đã bôi nhọ Hoàng đế
Pháp” (18). Theo chúng tôi, khi phân tích, lí giải các sự kiện lịch sử cũng như các nhân vật, Tolstoi trước hết dựa trên
những chuẩn mực đạo đức mà ông nhìn thấy trong nhân dân, coi đó là thước đo hành vi, tiêu chuẩn đánh giá nhân
vật. Quan điểm này, ở mức độ đáng kể, đã quy định phương thức điển hình hoá trong sáng tác của nhà văn. Theo
Tolstoi, cái vĩ đại không thể tách rời đạo đức, “ở đâu không có sự giản dị, không có cái thiện và cái chân thì ở đấy
không thể có sự vĩ đại được”. Hình tượng Kutuzov và Napoleon được xây dựng chính trên nền tư tưởng ấy.
Những suy nghĩ của Tolstoi về cái vĩnh viễn của cuộc đời là đề tài gây chú ý giới trí thức Sài Gòn. Cái chết quả là một
bí mật mà suốt đời Tolstoi muốn khám phá, tìm hiểu, nhằm giải đáp câu hỏi quan trọng nhất của con người : Sống là

thần bác ái, về chủ thuyết bất bạo động đã lan rộng từ lâu”(21).
Cũng sẽ thú vị khi so sánh việc giới thiệu L. Tolstoi, một tác giả cổ điển với một tác giả văn học hiện đại Nga là
Soljenitsyn ở miền Nam trước năm 1975. Sau khi nhận giải Nobel năm 1970, Soljenitsyn lập tức trở thành sự kiện
trong đời sống văn nghệ thành thị miền Nam. Tên tuổi ông xuất hiện trong hàng loạt bài nghiên cứu phê bình, khảo
luận, lời giới thiệu của các tác giả nước ngoài và Sài Gòn. Soljenitsyn được coi là nhà văn duy nhất thời hiện đại sánh
cùng L. Tolstoi và Dostoievski, nhưng khi ca ngợi nhà văn này, người ta không che giấu xu hướng tuyên truyền chính
trị lộ liễu nhằm mục đích tìm kiếm cái gọi là “sự thật sau bức màn thép”. Còn đối với Tolstoi, cách đánh giá của giới
học thuật Sài Gòn có phần thuần nhất, ít bị chi phối bởi quan điểm chính trị - xã hội hơn.
Tóm lại, L. Tolstoi giữ một vị trí xứng đáng trong số các tác giả văn học nước ngoài được giới thiệu ở miền Nam
trước 1975. Có thể thấy sự thâm nhập của hiện tượng Tolstoi trong đời sống văn hoá văn nghệ miền Nam qua hàng
loạt bản dịch của các nhà xuất bản, các bài nghiên cứu của giới phê bình Sài Gòn và tác giả nước ngoài trên các tạp
chí. Những bản dịch và bài viết đã giúp người đọc phần nào hiểu được sự nghiệp sáng tác của nhà văn, giá trị nội
dung, nghệ thuật các tác phẩm lớn. Tuy nhiên ở một số bài nghiên cứu, nội dung trình bày còn nặng về tư liệu,
thiên về khai thác những chi tiết trong cuộc sống thường nhật của nhà văn, quan tâm đến những vấn đề thứ yếu mà
bỏ quên những vấn đề thực chất, căn bản (chẳng hạn, bài của Linh Khải với nhan đề: “Léon tolstoi - người chạy trốn
gia đình” trên Tạp chí Thời đại số 98/ 1963, hoặc “Những giờ phút cuối cùng của đại văn hào Léon Tolstoi” của
Hoàng Thắng trên Tạp chí Phổ thông số 139 – 140/ 1964, v.v…).
Tìm hiểu L. Tolstoi ở miền Nam trước 1975, bài viết trình bày vấn đề qua đối tượng tiếp nhận cụ thể là giới dịch
thuật, nghiên cứu phê bình. Đối tượng này đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn dư luận xã hội về văn hóa,
văn học và có ảnh hưởng quyết định đến việc tiếp nhận của các đối tượng khác. Hi vọng phần trình bày có thể tái
hiện phần nào diện mạo văn hóa cùng những khuynh hướng thẩm mĩ đặc thù, thế giới quan, tầm hiểu biết của độc
giả thành thị miền Nam trong một giai đoạn lịch sử phức tạp và đầy biến động.
Nguồn:
Văn học và Ngôn ngữ
_________


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status