ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
MÃ THANH CAO
BẢN SẮC DÂN TỘC
TRONG HỘI HỌA MIỀN NAM
GIAI ĐOẠN 1954-1975 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2015
Thành phố Hồ Chí Minh, 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án Bản sắc dân tộc trong hội họa miền Nam giai đoạn
1954 – 1975 là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng lắp, sao chép
của bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác giả
khác. Tác giả luận án
Mã Thanh Cao
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1. BSDT: Bản sắc dân tộc
2. BSVHDT: Bản sắc văn hóa dân tộc
3. BTMT: Bảo tàng Mỹ thuật Thanh phố Hồ Chí Minh
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
………………………………………………………………………
BẢN VIẾT TẮT ………………………………………………………………
MỤC LỤC
………………………………………………………………………………….
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………
1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………
4
4
4
7
7
7
8
9
9
9
9
10
10
10
11
12
21
21
33
46
1.3.1. Tiêu chí nhận diện bản sắc dân tộc qua nội dung
1.3.2. Tiêu chí nhận diện bản sắc dân tộc qua hình thức
………………….
Tiểu kết ………………………………………………………………………
CHƯƠNG 2: BẢN SẮC DÂN TỘC THỂ HIỆN QUA NỘI DUNG TÁC
PHẨM HỘI HỌA ……………………………………………………………
2.1. Bản sắc dân tộc thể hiện qua nội dung hội họa vùng giải phóng………
2.1.1. Bản sắc dân tộc thể hiện qua chủ đề hội họa vùng giải phóng …………
56
56
56
62
76
87
87
98
110
116
118
118
118
131
134
134
145
163
165
171
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA ……………………………………… 180
trong sáng tác và nghiên cứu phê bình văn học nghệ thuật. Sự nghiệp cách mạng vẻ
vang của dân tộc, chiến thắng hào hùng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ, c
ũng như những thành quả đáng tự hào trong công cuộc đổi mới, nhưng
cho đến nay chúng ta “có rất ít tác phẩm đạt đỉnh cao tương xứng với sự nghiệp cách
mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc và thành quả đổi mới” [61, tr.44]. 2
Trong một bộ phận công chúng xuất hiện “tệ sùng bái nước ngoài, coi thường
những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo thị hiếu và lối sống thực dụng” [61, tr.46].
Nguy hiểm hơn nữa có những lúc còn “nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành
tựu văn hóa cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn xã hội
với thái độ bi quan, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức nă
ng giáo dục
tư tưởng và thẩm mỹ của văn học nghệ thuật bị suy giảm” [48, tr.48].
Nghiên cứu mỹ thuật nói chung và hội họa nói riêng là một trong những đề tài
đang được nhiều người yêu nghệ thuật, nhiều cơ quan chức năng quan tâm, đặc biệt
trong giới mỹ thuật. Hội họa Việt Nam thế kỷ XX đã bước sang một giai đoạn mới
với những thành t
ựu quan trọng, từ việc thành lập các trung tâm đào tạo nghệ sĩ
chính quy, tiếp thu những kiến thức khoa học của hội họa phương Tây, duy trì, phát
huy những loại hình, chất liệu của nghệ thuật truyền thống; đến những nét mới trong
mục đích, yêu cầu, nội dung và phong cách thể hiện. Hội họa đã được hình thành,
phát triển qua các giai đoạn gắn liền với những sự kiệ
n lịch sử quan trọng của dân tộc
và phản ánh sinh động đời sống xã hội. Trong giai đoạn từ 1954 – 1975, hội họa Việt
Nam phát triển khá đặc biệt, gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả dân tộc; khi
miền Bắc vừa xây dựng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội vừa là hậu phương vững chắc cho
cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, còn ở miền Nam là th
vì cho rằng hội họa ở khu vực này bị ảnh hưởng nặng nề của hội họa phương Tây,
mang tính chất thực dân, không thể so sánh với hội họa ở miền Bắc về chất lượng
nghệ thuật, nội dung không sát với đời sống thực tế, không quan tâm đến v
ấn đề dân
tộc.
BTMT là một trong những nơi rất chú trọng đến việc sưu tầm những tác phẩm
hội họa giai đoạn này, nhất là những tác phẩm ra đời ở mảnh đất phương Nam trong
những năm tháng chiến tranh ác liệt. Bởi đây là một nét riêng và cũng là thế mạnh
của bảo tàng mỹ thuật duy nhất của khu vực phía Nam với chức năng sưu tầm,
nghiên cứu, lưu giữ bảo quản và trưng bày giới thiệu những di sản nghệ thuật tạo
hình của khu vực Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận. Nhưng
công việc làm hồ sơ, cung cấp thông tin, tư liệu về tác giả, tác phẩm còn gặp rất
nhiều khó khăn vì còn quá ít công trình nghiên cứu về hội họa giai đoạn này.
Xuất phát từ những yêu cầu trên, đặc biệt là những yêu cầu về vi
ệc khẳng định
giá trị của hội họa Nam bộ giai đoạn 1954-1975; cũng như khuyến khích sự đầu tư
sáng tác những tác phẩm hội họa có giá trị tương xứng mang đậm BSDT nên chúng
tôi chọn vấn đề “Bản sắc dân tộc trong hội họa miền Nam giai đoạn 1954-1975” làm
đề tài luận án của mình. 4
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề BSDT trong hội họa Việt Nam đã được đề cập trong một số công trình
nghiên cứu, bài viết về văn hóa cũng như các công trình nghiên cứu về mỹ thuật.
2.1. Sách, công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về văn hóa
Tác giả Đào Duy Anh trong cuốn sách “Việt Nam văn hóa sử cương” (Thiên
thứ tư, mục XI. Nghệ thuật), đã viết: “Nghệ thuật Vi
ệt Nam đã nhờ ảnh hưởng của
Tàu và tinh thần dân tộc mà gây dựng ra một lối đặc biệt” [1, tr. 317]. Vào đầu thế kỷ
rằng: “Mỹ thuật Việt Nam là đứa con đĩnh ngộ của lịch sử ấy. Nó cũng là dòng chảy
soi bóng chân thực nhất diễn trình lịch sử ấy” [90, tr.4].
Tác giả Huỳnh Hữu Ủy là một trong những người quan tâm nhiều đến mỹ
thuật Sài Gòn trước năm 1975 ở góc độ lịch sử
mỹ thuật và mỹ học. Trong cuốn sách
“Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại” (phần về mỹ thuật Sài Gòn 1954-1975), tác
giả đã cố gắng bám sát các sự kiện, cung cấp thông tin về một số khuynh hướng nghệ
thuật, một số họa sĩ có vị trí quan trọng trong hội họa và cung cấp một số hình ảnh
tác phẩm tiêu biểu.
Trong cuốn sách “Nghệ -thuật Việt-Nam hiệ
n đại”, tác giả Nguyễn Văn
Phương đã giới thiệu hình ảnh chọn lọc những tác phẩm hội họa và điêu khắc của mỹ
thuật Sài Gòn trước năm 1975. Ở phần Dẫn từ (Lời Giới thiệu), tác giả khái lược các
xu hướng mỹ thuật phương Tây và sự du nhập của một số xu hướng nghệ thuật Sài
Gòn trước năm 1975.
Nhà nghiên cứu lịch s
ử mỹ thuật Bội Trân đã bảo vệ luận án tiến sĩ tại Úc về
mỹ thuật Việt Nam sau năm 1925, trong đó bao gồm mỹ thuật giai đoạn 1954-1975
với đề tài “Thẩm mỹ Việt Nam sau năm 1925” (Vietnamese Aesthetics from 1925
onwards). Tác giả luận án cho rằng, trong quá trình tiếp xúc với nghệ thuật thế giới,
mỹ thuật Việt Nam đã thay đổi bằng cách tiếp thu có chọn lọc nhữ
ng yếu tố ngoại lai
để phát triển và hội nhập. Tác giả Bội Trân khẳng định sự tác động đáng kể của kiến
trúc, hội họa, điêu khắc và trang phục đối với sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam.
Tác giả luận án đã giành chương 4 (38 trang) để tìm hiểu, đánh giá về môi trường xã
hội, môi trường văn chương, kiến trúc, hội họa, điêu khắc và trang phụ
c ở miền Nam,
trong đó tập trung ở mối tương tác và những ảnh hưởng của nghệ thuật thế giới đối
với nghệ thuật miền Nam giai đoạn từ 1954 đến 1975.
Trong công trình “Mỹ thuật đô thị Sài Gòn – Gia Định từ 1900 đến 1975”, với
t về mỹ thuật thường được in trong
một số báo, tạp chí như: “Tạp chí Bách Khoa”, “Ánh đèn dầu”, “Tạp chí Văn
hóa”…. Trong “Tạp chí Bách Khoa” tại Sài Gòn, trước năm 1975 thường có các bài
chuyên sâu của tác giả Đoàn Thêm, sau này gom in thành sách “Tìm hiểu hội họa”
năm 1962, tại số 3 Nguyễn Siêu, Sài Gòn. Tác giả phân tích các xu hướng, điều kiện
phát triển, một số loại hình hội họa và hướng dẫn phân tích một số
tác phẩm của các
họa sĩ, bày tỏ quan niệm về nội dung hội họa, quan hệ giữa họa sĩ và công chúng….
Những ký họa chiến trường miền Nam trong những năm chống Mỹ đã gây
tiếng vang lớn ngay khi lần đầu tiên xuất hiện và triển lãm tại Hà Nội năm 1967, sau
đó trưng bày ở một số nước xã hội chủ nghĩa. Các ký họa được in thành các bộ có lời
giới thi
ệu chung với khoảng 400 từ. Sau triển lãm đã xuất hiện một số bài viết đăng
trên tạp chí và một số báo như “Ký họa miền Nam” của Thái Hanh đăng trên báo 7
Văn nghệ ngày 14/10/1996, “Ký họa chiến trường” của Thu Thủy đăng trên báo
Nhân dân ngày 2/4/2000, “Một thuở hào hùng của tranh ký họa” của Hồng Chinh
Hiền đăng trên Tạp chí Mỹ thuật 4-2002, “Tranh ký họa kháng chiến” của Đặng Thế
Minh đăng trên tạp chí Mỹ thuật số 8 năm 2002.
Sau năm 1975 có một số bài viết về hội họa miền Nam trong các báo, một số
Tạp chí Mỹ thuật c
ủa Hội Mỹ thuật Việt Nam, Viện Mỹ thuật, Cục Mỹ thuật, Nhiếp
ảnh và Triển lãm, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật của Viện Văn hóa….
Mảng hội họa miền Nam nói chung và Nam bộ nói riêng giai đoạn 1954-1975
hiện chưa được nghiên cứu sâu và ít được đề cập hay đề cập chưa đủ, thiếu khách
quan, với những nhận xét thiên lệch trong một số sách, tư liệu v
ề lịch sử mỹ thuật
Việt Nam. Vấn đề này chưa trở thành đối tượng trình bày trong một công trình
trong hội họa Nam bộ giai đoạn 1954 – 1975.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành, nhất là phân tích mỹ thuật học để làm cơ sở
cho quá trình phân tích, so sánh ở các chương tiếp theo.
- Phương pháp thực nghiệm: với thuậ
n lợi về vị trí công tác nên trực tiếp xem,
nghiên cứu các bộ sưu tập tranh của BTMT, các trưng bày chuyên đề tại đây
trong hơn 20 năm qua.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu các tác giả.
4.2. Nguồn tư liệu
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam, đặc biệ
t là những tác phẩm ra đời tại
miền Nam trong giai đoạn 1954 -1975. Các tác phẩm này đã được in trong các
sách xuất bản trước và sau năm 1975 và trưng bày tại các bảo tàng, phòng tranh
hoặc các triển lãm nhóm, cá nhân.
- Các sách chuyên khảo, những công trình nghiên cứu, các tạp chí chuyên ngành,
các bài viết của các tác giả Việt Nam và nước ngoài về văn hóa, bản sắc văn hóa,
nghệ thuật học, mỹ thuật học và lịch sử mỹ thuật.
- Những thông tin lư
u lại từ các cuộc phỏng vấn sâu do lợi thế là người trực tiếp
làm công tác nghiên cứu, sưu tầm nhiều năm tại BTMT, được tiếp xúc với hầu
hết các họa sĩ kháng chiến và nhiều cơ hội gặp các tác giả trong những sự kiện tại
đơn vị.
- Nguồn tư liệu trên mạng internet gồm: các bài viết, video về chuyên ngành văn
hóa học, mỹ thuật học
9
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN
1.1. Dân tộc, bản sắc, bản sắc dân tộc
1.1.1. Dân tộc
Khái niệm dân tộc (nation) có mối quan hệ với khái niệm tộc người (ethnic
group).
Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người.
Tộc người theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành về
mặt lịch sử trên mộ
t lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những
đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội là ngôn
ngữ); có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với các tộc
người khác (nói ngắn gọn là ý thức tộc người).
Trong 3 yếu tố: 1/ ngôn ngữ, 2/ lãnh thổ, 3/ ý thức tộc ngườ
i gắn với tộc danh
thì yếu tố thứ ba có vai trò đặc biệt. Ý thức tự giác của tộc người gắn với tộc danh
không chỉ là là yếu tố cần thiết mà còn là yếu tố đầy đủ để hình thành bản sắc tộc
người. Khi có dấu hiệu thay đổi về ý thức tự giác của tộc người thì sẽ xuất hiện dấu
hiệu thay đổi thành phần tộ
c người.
Ở góc độ triết học, vấn đề tộc người không chỉ gói gọn trong quá trình thu
thập, phân tích các dữ liệu nhân chủng học một cách trực quan mà còn phải nghiên
cứu những nhân tố tự nhiên và lịch sử xã hội để làm rõ quá trình phát sinh của một
tộc người.
Tộc người với các hình thái kinh tế - xã hội như một cơ thể xã hội gồm tập thể
những con ng
ười luôn thống nhất, có tên tự gọi (tên chính trị), chiếm một lãnh thổ
nhất định (khởi nguyên là quyền sở hữu đất đai của một cộng đồng) và cùng có
trường sống
Xác định
chủ quyền
lãnh thổ
Phân li và hợp nhất các hình thái
cộng động người từ các nguyên
nhân kinh tế, chính trị, văn hóa
Dân tộc
Như vậy, “Dân tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên những
mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh
hoạt văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành
phần tộc người và tên gọi của mình” [41, tr.23].
Khi nghiên cứu dân tộc tính, tác giả công trình này có thiên hướng
đi vào bản
chất của tộc người để làm rõ tính dân tộc trong hội họa. Điều này dễ hiểu bởi đi tìm
thuộc tính dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc trong hội họa là điều không dễ, nếu
không nói là cực kì phức tạp. Hội họa Nam bộ có sự tham gia của nhiều họa sĩ thuộc
các tộc người trong khu vực Nam bộ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, tác
giả tập trung sử d
ụng những tác phẩm của các tác giả người Việt. Vì vậy dân tộc tính
được thể hiện trong công trình này chủ yếu là Việt tính. Trên định hướng này, khi
truy tìm dân tộc tính trong công trình này, chúng tôi tập trung vào tộc người Việt. Từ
đây trở đi, khái niệm dân tộc (Việt Nam) trong hội họa Nam bộ được hiểu theo tinh
thần này.
1.1.2. Bản sắc
Thuật ngữ bản sắc được giải thích khá thống nhất trong các từ điển Hán -Việ
t,
từ điển tiếng Việt. Theo đó, bản là gốc, cái thuộc về phần mình, gốc đầu mọi việc;
đặc biệt lưu ý đến vai trò của ý thứ
c tộc người. Ý thức tộc người có quá trình hình
thành phát triển gắn với quá trình sáng tạo, giao lưu, tiếp biến, giữ gìn, phát triển của
dân tộc. Dân tộc nào có một quá trình hình thành phát triển lâu dài, được nhân loại
thừa nhận về mặt lịch sử, chắc chắn dân tộc đó có đủ “nội lực” để hình thành BSDT. 13
BSDT là những yếu tố ổn định, ít biến đổi nhất. Nếu nó biến đổi với biên độ
và tần số cao, theo những chiều hướng trái ngược nhau thì dân tộc đó trở thành
không có bản sắc. Sự “ổn định, ít biến đổi” này cũng chỉ nằm trong một khoảng
không gian và thời gian nhất định. Trong thực tế, đa số các dân tộc trên thế giới đã tự
“siêu chỉ
nh” tính cách qua quá trình giao lưu và tiếp biến. Nói là “siêu chỉnh” bởi lẽ,
đây là sự vận động nội tại, vận động chậm, quá trình vận động làm xuất hiện những
biến đổi rất tinh tế, rất tự nhiên trong quan điểm và tư duy của chủ thể. Sự biến đổi
dưới hình thức “siêu chỉnh” là biến đổi tích cực. Những biến đổi tích cực sẽ giúp chủ
thể luôn có diệ
n mạo mới nhưng không đánh mất bản sắc của mình. BSDT không thể
là cái bất biến bởi vì đã có không ít nền văn hóa tự đánh mất bản sắc của mình trước
khi bị tiêu diệt hoặc bị đồng hóa.
Tiếp cận BSDT có thể bằng nhiều cách thức khác nhau. Điều này liên quan
đến mô hình và phương pháp nghiên cứu. Một số mô hình được dùng hiện nay là: mô
hình cấu trúc chức năng, mô hình sinh thái học, mô hình sinh vật xã hội h
ọc, mô hình
cấu trúc – hệ thống, mô hình mâu thuẫn xã hội Thực tế này đã đưa đến hệ quả là
có một số lượng khá lớn định nghĩa về văn hoá và nhiều quan điểm khác nhau về
BSDT. Dù sử dụng mô hình hay phương pháp nghiên cứu nào thì đối tượng nghiên
cứu chính vẫn là con người với tư cách là chủ thể. Mọi khác biệt chỉ có thể tìm thấy
trong những hình thức “hiện thân” khác nhau của chủ th
xã hội
Đặc trưng dân
tộc
Bản sắc
dân tộc
Quá trình hình thành nhà nước, dân tộc
BSDT được nhận diện trên những bình diện nào? Đây là vấn đề không đơn
giản, bởi vì BSDT là cái thuộc “phần chìm”, là ý thức của dân tộc được hình thành
trong suốt trường kỳ lịch sử. Khi lần tìm BSDT, chúng ta chỉ có thể tập trung xem
xét những biểu hiện cụ thể về quan điểm, thái độ của chủ thể. Những biểu hiện đó
không phải do ngẫu nhiên và không có tính mục đích mà thường vận
động theo một
thiên hướng rõ ràng, gắn với những mối quan hệ cụ thể. Ẩn đằng sau những biểu
hiện về quan điểm, thái độ là cốt cách, tinh thần của dân tộc.
Ý thức tộc người bao hàm sự tự khẳng định của cộng đồng qua trường kỳ lịch
sử gồm cộng đồng ký ức, cộng đồng hiện tại và cả cộng đồng tươ
ng lai với những giá
trị chính trị, đạo đức cùng khát vọng về sự phát triển. Ý thức tộc người vừa hòa nhập
tự nhiên vào đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân vừa có khả năng tạo ra khoảng
cách để xác lập đời sống riêng của tộc người. Ý thức tộc người, do vậy, là sản phẩm
văn hóa đồng thời là điểm xuất phát củ
a sáng tạo và gìn giữ văn hóa tộc người
(cultural ethnic group). Ý thức tộc người là nhân tố trực tiếp làm nên tinh thần, cốt
cách của dân tộc. Mặt khác, BSDT là: “Tất cả những nét đặc sắc của dân tộc tạo
thành trong trường kỳ lịch sử, trong cuộc giao lưu văn hóa phức tạp, để kiên định
một bản lĩnh mà tồn tại đĩnh đạc, ta mãi là ta, ta ngày càng đậm càng sắc trong trào
lưu tiến hóa của loài người” [103, tr. 111].
BSDT của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được hình
thành trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước và là sự kết hợp giữa các yếu tố
văn hóa của một tộc người cho phép chúng ta có những nhận định sơ bộ v
ề văn hóa
tộc người cũng như bản sắc văn hóa tộc người là: “Nói đến những khía cạnh tiêu biểu
của tộc người đó tạo nên những nét khác biệt với văn hóa các tộc người khác” [45, tr.
346]. 16
Tại Hội nghị quốc tế của UNESCO từ ngày 26/7 đến ngày 06/8/1982, văn hóa
được xem là sản phẩm vật chất và tinh thần. Sản phẩm ấy được tạo ra bằng trí tuệ và
cảm xúc, mang những đặc trưng riêng của một xã hội hay một nhóm người trong xã
hội. Các thành tố cấu thành văn hóa gồm: “Nghệ thuật và văn chương, những lối
sống, những quyền cơ bản c
ủa con người, những hệ thống những giá trị, những tập
quán và những tín ngưỡng” [80, tr.7].
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn hóa cũng đã đưa ra nhiều khái niệm,
định nghĩa về văn hóa. Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về văn hóa như sau:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa h
ọc, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ
cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [53, tr. 431].
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng văn hóa: “Là mối quan hệ giữa thế giới
biểu tượng với thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng
của một t
ộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét
khu biệt các kiểu lựa chọn làm chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác
nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà một tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có
một khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người
khác” [56, tr.105].
thành bản sắc của một nền văn hóa. BSVHDT, do vậy, là cái định hướng cho mọi
sáng tạo văn hóa, là cái ổn định nhất nhưng không phải là cái bất biến, là cái góp
phần làm nên các giá trị tinh thần và vật chất của một dân t
ộc.
Muốn định ra BSVHDT của một dân tộc đòi hỏi người nghiên cứu phải kết
hợp nhiều góc nhìn, phối hợp nhiều phương pháp khác nhau.
Ở loại hình nghệ thuật hội họa, BSDT được người nghệ sĩ thể hiện ở nội dung
và hình thức các tác phẩm.
Về nội dung, BSDT thể hiện qua chủ đề tư tưởng, qua hình tượng nghệ thuật.
Các hình tượng nghệ thuật – như đã trình bày, thể hiện lối sống, cách suy nghĩ, cách
giải quyết các quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội đã làm nên tinh thần,
cốt cách của dân tộc.
Về hình thức, BSDT thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật và bằng chất liệu hội
họa. Đó là đường nét, hình họa, màu sắc, bố cục và các vật liệu được sử dụng trong
hội họa truyền thống, là những phương thức thể hiện từng được nghệ nhân dân gian
sử dụng. Chất liệu nghệ thuật và các phương thức thể hiện mang tính truyền thống là
kết tinh s
ự lựa chọn kỹ lưỡng của nhiều thế hệ nghệ sĩ đi trước trong quá trình sáng
tạo nghệ thuật. Giá trị hội họa của một dân tộc thể hiện qua ý thức lưu giữ và phát
triển nghệ thuật truyền thống, biết tích hợp những giá trị tinh hoa của dân tộc với tinh
hoa nhân loại. 18
Khái niệm BSVHDT đã được một số nhà nghiên cứu đưa ra, trong đó đáng
chú ý là quan niệm của các tác giả: Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương, Trần Ngọc
Thêm, Phạm Quốc Sử
Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: “Bản sắc văn hóa là những nét văn hóa
riêng làm thành hệ giá trị được một dân tộc chấp nhận, được xem như phù hợp và
thích hợp, được đem vào vận hành nhằm thỏa mãn nhu cầu sống và phát triển của