skkn sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử việt nam giai đoạn 1954 – 1975 ở trường trung học phổ thông - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân

Người thực hiện: Trần Ngọc Bình
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục
Phương pháp giảng dạy bộ môn

X

Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác.

Có đính kèm:
Mô hình

Phần mềm

Phim ảnh

Năm học 2012 - 2013

Hiện vật khác


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI

Thống Nhất, ngày 13 tháng 3 năm 2013.

Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
hiệu quả trong phạm vi rộng:
Tốt
Khá
Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
( Ký tên và ghi rõ họ tên)

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
( Ký tên và ghi rõ họ tên)


SƠ YẾU LÍ LỊCH KHOA HỌC
I

THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN.

- Họ và tên: TRẦN NGỌC BÌNH
- Sinh ngày: 10 - 11 -1978
- Địa chỉ: E4/002 – Nam Sơn – Quang Trung – Thống Nhất
- Điện thoại: 0988325295
- Chức vụ: Giáo viên
- Đơn vị công tác: Trường THPT Kiệm Tân
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO.
- Học vị: Cử nhân khoa học
- Năm nhận bằng: 2003
- Chuyên ngành đào tạo: Lịch Sử
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC:
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Lịch Sử

Có thể nói rằng, một trong những phương pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng
dạy lịch sử việc sử dụng tài liệu văn học (TLVH) cũng là một cách để tạo nên sự
hứng thú trong học sinh. Sử học và văn học có mối quan hệ khăng khít với nhau,
Macxim Goocky đã từng nói: “Sức mạnh của văn học xét cho cùng không nằm ngoài
sự đóng góp thực tiễn của nó, tức là không nằm ngoài mối liên hệ của nó với cuộc
sống đấu tranh chung cho sự tiến bộ của xã hội… Văn học nghệ thuật không thể thay
thế được vũ khí trong cuộc đấu tranh, cũng không tự nó làm nên cách mạng. Tuy
nhiên, với khả năng cảm hóa và giáo dục của nó, văn học đã góp phần không nhỏ
cho việc sản sinh những con người biết cầm vũ khí và biết sang tạo cho xã
hội”(10;26). TLVH đã góp phần rất lớn trong việc tái hiện lịch sử một cách sinh
động, truyền cảm. Dạy học lịch sử kết hợp với việc sử dụng TLVH quả thực là một
điều rất cần thiết cho việc giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông.
2


Xuất phát từ những lý do đó, cùng với những kinh nghiệm khi giảng dạy lịch sử
tại trường, tôi xin được giới thiệu đề tài “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch
sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình
chuẩn)” .
2. Lịch sử vấn đề
Sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử Việt Nam không phải là đề tài mới mà đã
được đề cấp trong tài liệu tập huấn đổi mới phương pháp giảng dạy cho giáo viên
Trung học phổ thông bộ môn lịch sử, bên cạnh đó cũng có một số nhà nghiên cứu đề
cập đến như:
- Các tài liệu Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Viêt Nam
lấn thứ VIII (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001). Các tài
liệu này đã chỉ rõ đường lối chiến lược về giáo dục của Đảng từ năm 2001 – 2010,
việc đổi mới phương pháp dạy học…
- Các giáo trình: “Phương pháp dạy học lịch sử” Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình
Tùng, Nguyễn Thị Côi với giáo trình Nxb Đại học sư phạm 2002; “Phương pháp

Để đạt được mục đích đó đề tài có nhiệm vụ:
- Tiến hành điều tra thực tế việc sử dụng TLVH đối với giáo viên và học sinh lớp 12
trường THPT.
- Sưu tầm, lựa chọn TLVH phù hợp với nội dụng bài học.
- Đề xuất các biện pháp sử dụng TLVH để giảng dạy lịch sử giai đoạn 1954 – 1975 ở
lớp 12 trường THPT (Chương trình chuẩn).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài lý là luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về dạy học nói chung và về dạy học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông nói riêng.
- Nghiên cứu nội dung SGK lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975, lựa chọn các
đoạn tài liệu văn học tiêu biểu, phù hợp với nội dung giai đoạn lịch sử đó.
- Nghiên cứu lý luận dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng và các tài liệu văn
học để xậy dựng nội dung đề tài.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện tốt các biện pháp sử dụng TLVH như đề tài đề xuất, thì sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 lớp 12 ở
trường THPT.
4


7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm
ba chương:
Chương I: Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt nam giai đoạn
1954 – 1975 ở lớp 12 trường Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn) – Lý luận và
thực tiễn.
Chương II: Tài liệu văn học được sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam giai
đoạn 1954 – 1975 ở lớp 12 trường Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)
Chương III: Các biện pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt
Nam giai đoạn 1954 – 1975 ở lớp 12 trường Trung học phổ thông (Chương trình

cao chất lượng day học.
Đặc trưng lịch sử là các sự kiện, nhân vật lịch sử…đều diễn ra trong quá khứ,
muốn tái hiện cần dựa vào các tài liệu. Vì thế, tài liệu càng đầy đủ thì tri thức càng
chính xác, phong phú và sâu sắc. Với ý nghĩa việc sử dụng TLVH để giảng bài trên
6


lớp cũng như cung cấp kiến thức mới, ôn tập, làm bài kiểm tra hay các hoạt động
ngoại khóa ….thông qua hình tượng văn học, thông qua những áng văn thơ tuyệt tác
dễ đi vào lòng học sinh. TLVH sẽ góp phần khôi phục, làm sáng tỏ lịch sử và đáp ứng
nhu cầu giáo dục, giáo dưỡng và phát triển trong việc dạy học lịch sử hiện nay.
1.2. Quan niệm chung về tài liệu văn học
Những tác phẩm phản ánh đời sống con người trong quá khứ, có giá trị sử dụng
cho mục đích nghiên cứu, dạy học lịch sử …được gọi là TLVH. Tác phẩm văn học
phản ánh đúng thực tế cuộc sống xã hội loài người dưới những góc độ khác nhau,
thông qua lăng kính thẩm mỹ của tác giả, tất cả đã được hư cấu, sự thật ngoài đời
được chuyển vào những trang văn thơ lấp lãnh, sinh động. Có thể nói rằng: “Tác
phẩm văn học là bức tranh sinh động và phong phú về đời sống xã hội. Trong khi xây
dựng tác phẩm, xây dựng nhân vật văn học, tác giả đã dựa vào tư liệu thực tế đời
sống và những tư liệu của sử học… Vì vậy, qua tác phẩm văn học có thể trực tiếp
hoặc gián tiếp thấy được các tư liệu khác về vật chất và tinh thần của xã hội… thấy
được những hiện tượng văn hóa sống động trong xã hội, trong những cuộc đời, tức là
những hiện tượng văn hóa gắn với cách ứng xử của những cộng đồng người và của
từng con người đang đấu tranh cho vận mệnh của mình” (14, 72, 73)
Tác phẩm văn học thể hiện phản ảnh xã hội thông qua hệ thống ngôn từ, chứa
đựng yếu tố chủ quan của tác giả, bởi thế trong TLVH bao hàm cả sự thật cuộc sống
và hư cấu nghệ thuật. Khi sử dụng TLVH cần sàng lọc để nhìn thấy sự thật lịch sử
được phản ánh trong đó.
TLVH có nhiều loại: thơ, văn xuôi, ca dao, tục ngữ… mỗi thể loại có những
đặc điểm riêng, song tất cả đều góp phần phản ánh lịch sử một cách sinh động, phong

chứng tỏ văn học là những tài liệu quý, rất hữu ích cho việc dạy lịch sử ở trường phổ
thông. Vì vậy, cần phải tích cực khai thác các nguồn TLVH đề nhằm làm cho bài
giảng thêm phong phú, giúp học sinh hiểu được bài sâu hơn.
1.3. Mối quan hệ giữa tài liệu văn học và tri thức lịch sử
Các tác phẩm văn học từ xưa đến nay, trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế
giới có vai trò to lớn trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
8


Giữa văn học và sử học có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tuy chức năng và
nhiệm vụ của mỗi ngành khác nhau, nhưng tất cả đều phục vụ cho xã hội và cuộc
sống của con người, đều phản ánh mọi hoạt động của con người và xã hội trong sinh
hoạt, trong lao động và đấu tranh chống thiên tai, đấu tranh chống ngoại xâm. Đó là
những điểm thống nhất giữa văn học và sử học.
TLVH được thể hiện dưới nhiều thể loại, mỗi thể loại có một nội dung, nghệ
thuật khác nhau. Trong khi sáng tác một tiểu thuyết (lịch sử hay tâm lý xã hội), nhà
văn phải nghiên cứu các tài liệu lịch sử. Do đó, chính TLVH đã phần nào phản ánh
lịch sử. Cũng có không ít tác phẩm văn học mang tính chất, ý nghĩa của một tư liệu
lịch sử, như “Hịch tướng sỹ” của Trần Hưng Đạo, “Cáo bình ngô” của Nguyễn Trãi,
“Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh… đây là những tác phẩm có giá trị
lịch sử cao có tính chính xác và khoa học. Song nhìn chung, tài liệu văn học về tính
chính xác khoa học của lịch sử không cao. Vì văn học phản ánh xã hội thông qua
nghệ thuật ngôn từ, lăng kính thẩm mỹ chứa đựng yếu tố chủ quan của tác giả, vì thế
TLVH bao hàm cả sự thật cuộc sống và hư cấu nghệ thuật. Khi sử dụng cần phải sàng
lọc để nhìn thấy sự thật lịch sử được phản ánh trong đó.
Tác phẩm văn học thực sự là nguồn tài liệu quý trong tìm hiểu và giảng dạy
lịch sử. Tri thức lịch sử là những sự kiện, nhân vật lịch sử, những biến cố lịch sử…
(Cả nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghiã, bài học kinh nghiệm, quy luật lịch sử)
được diễn ra ở một phạm vi nào đó ở một địa phương, một dân tộc, các khu vực trên
thế giới. Đây là những sự kiện, biến cố lịch sử có thật, có tính khoa học chính xác

Ví dụ: Khi dạy bài 21 mục V.1 “Chiến lược chiến tranh đặc biệt” của đế quốc
Mỹ ở Miền Nam”. Để giúp học sinh hiểu được chính sách thực dân kiểu mới của đế
quốc Mỹ khi xâm lược Việt Nan như thế nào, giáo viên có thể tạo hứng thú cho học
sinh khi vào bài này bằng việc đọc cho học sinh nghe đoạn thơ của nhà thơ Chế Lan
Viên:
“Ghê thay! Chúng vấn có mặt người
Đúc như ta bằng chất vàng đẹp nhất
Dệt như ta tấm lụa của đời
Mặt kẻ giết người lại giống người bị giết
10


… Mặt kẻ thù ta là gương mặt hay cười” (19;68)
Tiếp theo giáo viên đặt câu hỏi: Đoạn thơ trên nói lên điều gì? Em có nhận xét
gì về đoạn thơ trên? Nếu HS trả lời được câu hỏi, có nghĩa là học sinh hiểu được bản
chất, bộ mặt thật của kẻ xâm lược, đó chính là âm mưu của đế quốc Mỹ khi vào xâm
lược miền Nam Việt Nam thực chất là thực hiện âm mưu thực dân kiểu mới của mình
đó chính là bộ mặt “giấu mặt trá hình” của chúng.
Như vậy việc sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử không những góp phần
minh họa sự kiện lịch sử, giúp học sinh hiểu được bản chất của sự kiện, mà chính
TLVH là nguồn sử liệu giúp các em hiểu sâu hơn sự kiện đó. Sử dụng TLVH trong
dạy học lịch sử còn góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho học sinh và lòng đam
mê, ham học hỏi đối với môn lịch sử.
* Về giáo dục:
Nhiệm vụ quan trọng của môn học lịch sử ở trường phổ thông là giáo dục trí
tuệ, tư tưởng chính trị và tình cảm đạo đức cho học sinh. Thực hiện nhiệm vụ đó, tức
là làm tốt ba yếu tố có mối quan hệ với nhau:
- Trình bày đúng sự kiện
- Rút ra kết luận khoa học
- Sử dụng tri thức lịch sử để chứng minh, giải thích lý tưởng, tiến hành

hợp lý.
- Đối tượng điều tra GV dạy lịch sử và học sinh lớp 12 Trung học phổ thông.
- Phương pháp tiến hành: Trực tiếp gặp gỡ trao đổi với GV và học sinh, sau đó
phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến.
1.5.2. Nội dung điều tra
- Đối với giáo viên: Tôi đưa ra một số câu hỏi để biết được quan điểm của giáo
viên về việc sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử, cũng như đề xuất của giáo viên
trong việc sử dụng TLVH nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung và dạy
học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975.
- Đối với học sinh: Tôi đưa ra một số câu hỏi để học sinh phản ánh tình hình
học tập môn lịch sử, việc GV có thường xuyên sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử
giai đoạn 1954 – 1975.
12


1.5.3. Kết quả điều tra
- Đối với giáo viên:
Qua thực tế điều tra 4 GV cho thấy, tất cả GV điều nhận thức thấy mức độ cần
thiết phải sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử Việt
Nam giai đoạn 1954 – 1975 ở lớp 12 trường Trung học phổ thông. Qua đó GV cũng
thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sử dụng TLVH đó là: “TLVH đã phản ánh
các sự kiện, hiện tượng lịch sử, các tiết học này trở nên sinh động hơn, gây được sự
hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em hiểu và nắm được bản chất của các sự
kiện lịch sử tốt hơn, nhận thức bài học lịch sử sâu sắc hơn”.
Về phương pháp sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử dân tộc, có 4 giáo viên
sử dụng để minh họa, cụ thể các sự kiện, nhân vật lịch sử. Có 3 GV sử dụng TLVH
để tái hiện lịch sử, giải thích một sự kiện, chỉ 1 GV sử dụng TLVH để rút ra nguyên
nhân, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm và chưa có GV nào sử dụng TLVH để ra
bài tập về nhà và tổ chức trò chơi lịch sử cho học sinh.
Về tình sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975

Khi hỏi, trong lúc sử dụng TLVH trong dạy học thì GV có đặt câu hỏi cho các
em trả lời không thì có 35 học sinh (17.5%) trả lời là thường xuyên, 130 học sinh
(65%) trả lời là thỉnh thoảng và có 25 học sinh (17.5%) trả lời là rất ít.
Như vậy, qua điều tra thực tế ở trường THPT Kiệm Tân, tôi thấy hầu hết các
GV đã nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc sử dụng TLVH trong dạy học
lịch sử. Tuy nhiên, do một số điều kiện khách quan và chủ quan nên việc thực hiện
chưa đầy đủ, toàn diện và chưa đem lại hiệu quả cao.
Từ thực tiễn ấy cho thấy, nếu GV có tâm huyết, chú ý đầu tư sưu tầm, biết lựa
chọn TLVH hợp lý, tiêu biểu và phù hợp với nội dung bài học, có phương pháp tốt và
sử dụng thường xuyên thì sẽ giúp học sinh học môn lịch sử có hiệu quả hơn.

14


Chương 2: TÀI LIỆU VĂN HỌC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975 Ở TRƯỜNG THPT
(CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
2.1. Một số nguyên tắc khi lựa chọn tài liệu văn học
Tài liệu văn học có liên quan đến tri thức lịch sử khá phong phú trong kho tàng
tri thức. Vì vậy, để lựa chọn được TLVH đưa vào dạy học lịch sử Việt Nam nói
chung và giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 nói riêng có hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu
quả chất lượng dạy học bộ môn, đòi hỏi người GV phải tuân thủ một số nguyên tắc
sau:
2.1.1. Tài liệu văn học phải chính thống và có giá trị phản ảnh lịch sử cao
Đây là một yêu cầu rất quan trọng vì nó đảm bảo độ tin cậy cũng như chất
lượng của tài liệu sử dụng. Giá trị lịch sử ở đây được hiểu là những nhân vật, sự kiện
lịch sử được phản ánh trong các tác phẩm văn học, sau khi loại bỏ phần hư cấu sẽ
đúng hoặc gần đúng với thực tế sự kiện lịch sử diễn ra. Nhân vật, sự kiện lịch sử là có
thật, đã diễn ra, nhà văn chỉ dùng công cụ ngôn ngữ và biện pháp nghệ thuật để xây
dựng thành hình tượng văn học. Như vậy giá trị lịch sử ở đây là cốt yếu, là “bộ

ngữ hàm súc cô đọng nhưng giàu hình tượng. Lợi điểm này, câu thơ dễ tác động trực
tiếp ngay lập tức đến người đọc, người nghe, dễ thấm vào lòng người. Mặt khác thơ
có vần điệu suôn sẽ (ngoại trừ thể thơ tự do), đặc biệt là thơ lục bát truyền thống của
dân tộc nên dễ đọc, dễ nhớ và nhớ lâu. Không phải ngẫu nhiên mà ông bà, cha mẹ
chúng ta không biết chữ mà vẫn thuộc Truyện Kiều của Nguyễn Du và hàng trăm câu
ca dao. Văn xuôi với ưu thế về dung lượng ngôn từ, về bố cục, về nghệ thuật đắc
trưng như miêu tả, phép tu từ…sẽ có lợi thế trong việc tường thuật diễn biến, cung
cấp số liệu, sự kiện, nhân vật lịch sử một cách cụ thể, chi tiết, giúp học sinh nhận thức
dễ dàng hơn. Vì vậy, để sử dụng TLVH một cách có hiệu quả, GV phải trang bị cho
mình một số “vốn” văn học tương đối toàn diện, đầy đủ thể loại: thơ, tiểu thuyết,
truyện, ký sự, hồi ký…Sẽ là phiến diện, bị động nếu GV chỉ thiên về một lợi thế nào
đó, vì như vậy sẽ không phát huy được tính da dạng, phong phú của TLVH. Đương
nhiên trong thực tế, không phải lúc nào các dòng văn học cũng phát triển đầy đủ các
thể loại.
16


2.1.4. Tài liệu văn học phải có giá trị giáo dưỡng, giá trị giáo dục và giá trị văn
học
Tài liệu văn học mà GV sử dụng phải là tài liệu giúp cho học sinh nhận thức
bài học lịch sử được toàn diện, sâu sắc hơn. Thông qua việc cung cấp tài liệu của GV
trong bài giảng, học sinh sẽ ghi nhớ sự kiện, nhân vật lịch sử bền vững hơn. Bức
tranh lịch sử trong quá khứ được khôi phục rõ nét hơn. Từ chỗ “biết”, “ghi nhớ”,
TLVH phải giúp cho học sinh “hiểu” được lịch sử. Tiến lên một bước cao hơn, thông
qua phương pháp này, trường hợp sử dụng tài liệu của GV, học sinh sẽ có nhận thức
đúng đắn về nội dung lịch sử, mối liên hệ bản chất của các sự kiện lịch sử. Những nội
dung có tính khái quát cao cũng sẽ được sáng tỏ hơn sau khi sử dụng TLVH. Đó
chính là giá trị giáo dưỡng của TLVH.
Về giá trị giáo dục, cũng như tài liệu lịch sử, TLVH có nguồn tri thức góp phần
trong nhiệm vụ giáo dục. Thông qua những áng văn, thơ ngợi ca về đất nước, về vị

sau Hiệp định
Giơnevơ

1954

về Đông Dương - Mĩ : Âm mưu thay chân Pháp ở
miền Nam, dựng lên chính quyền - GV sử dụng bài thơ: Cầu
tay sai Ngô Đình Diệm, hòng chia Hiền Lương
cắt Việt Nam thành thuộc địa kiểu

(Xem phụ lục III.2)

mới.
Đặc điểm thình hình nước ta
sau Hiệp định Giơnevơ:
- Đất nước ta bị chia cắt làm 2
miền với 2 chế độ chính trị xã hội
khác nhau :
II.1.Hoàn
thành cải cách
ruộng đất, khôi

- Từ 1954 – 1956 diễn ra 6 đợt

phục kinh tế,

giảm tô và 4 đợt cải cách ruộng

hàn


khăn, tổn thất.
- Tháng 1/1959, Hội nghị Trung
Ương lần 15 hop.
* Diễn biến :
....
- Tiêu biểu nhất là ở Bến Tre.
Ngày 17/1/1960, nhân dân 3 xã
thuộc huyện Mỏ Cày, Bến Tre đã
nổi dậy, sau đó cuộc nổi dậy mau
chóng lan ra toàn tỉnh Bến Tre.
* Kết quả : cuối 1960 ta làm chủ :
600/ 1298 xã Nam Bộ, 904/ 3829
thôn trung bộ, 3200/ 721 thôn Tây
Nguyên.
* Ý nghĩa :
....
- Từ trong khí thế của phong trào, - Giáo viên trích dẫn đoạn
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền

thơ: (Xem phụ lục III.4)

Nam Việt Nam ra đời ngày
(20/12/1960.
IV.1. Đại hội - Thời gian : từ 5 – 10/9/1960 tại
đại biểu toàn

Thủ đô Hà Nội.

quốc lần thứ Nội dung :
19

truyện kể “Quê hương
năm tấn: (Xem phụ lục
III.5)

dựng...
+ Nông nghiệp: xây dựng hợp tác
xã bậc cao...
.....
- Ý nghĩa: Bộ mặt Miền Bắc có
nhiều thay đổi....
V.1. Chiến lược * Âm mưu và thủ đoạn:
“Chiến

tranh Chiến tranh đặc biệt” là hình thức

đặc biệt” của

chiến tranh xâm lược thực dân



mới, được tiến hành bằng quân



miền

Nam.

đội tay sai, dưới sự chỉ huy của cố

soát
* Trên mặt trận quân sự :
2-1-1963 quân dân ta giành thắng
lợi vang dội ở trận Ấp Bắc (Mỹ
Tho).
....
* Trên mặt trận chính trị : Phong
trào đấu tranh của nhân diễn ra sôi
nổi ở các đô thị lớn
....
2.2.2. Bài 22: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm
lược. Nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)
Mục
Kiến thức lịch sử cơ bản
I. 1. Chiến lược Âm mưu và thủ đoạn:
“Chiến
cục

bộ”

Mỹ



Nam.

tranh

Tài liệu văn học sử dụng



lùi cuộc hành quân của 9000 tên
địch ở thôn Vạn Tường (Quảng
Ngãi)
....
* Trên mặt trận chính trị :
- Phong trào đấu tranh chính trị ở - GV trích dẫn bài thơ “Ê
các đô thị dâng cao như Huế, Đà – my – ly, con” – Tố Hữu
Nẵng, Sài Gòn....

(Xem phụ lục III. 8)

* Cuộc tấn công tết Mậu Thân
1968 làm thất

bại chiến lược

“Chiến tranh cục bộ”, Mỹ chấm
dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc
và chấp nhận đến đàm phán với ta
tại hội nghị Pa-ri.
II.1. Mỹ tiến - Ngày 5/8/1964, sau khi dựng lên
hành

chiến “sự kiện vịnh Bắc Bộ”, Mĩ cho

tranh

bằng máy bay ném bom một số nơi ở


tranh” cần của Mĩ và vẫn do Mĩ chỉ huy

của Mĩ.

bằng hệ thống cố vấn.
....

III. 2. Chiến
đấu
chiến

chống *Trên mặt trận chính trị :

- Giáo viên trích dẫn một

lược - Ngày 6/6/1969 Chính phủ cách số câu ca dao

“Việt nam hóa mạng lâm thời Cộng hòa Miền
chiến

tranh” Nam Việt Nam thành lập

và“Đông

....

dương
chiến

(Xem phụ lục III. 10)


- Từ 18/12 → 29/12/1972 Mĩ tổ
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status