Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại Thương Ba Đình” - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Mỗi nền kinh tế vận hành và phát triển đều phải dựa trên một hệ thống các nguồn
lực trong đó vốn là nguồn lực không thể thay thế. Vốn ở đây bao gồm tiền tệ, vật tư, kỹ
thuật, tri thức, khoa học. Trong cơ chế thị trường với các quan hệ kinh tế được tiền tệ
hoá thì tiền tệ trở thành nguồn vốn quan trọng nhất.
Vì vậy việc tìm kiếm những giải pháp huy động vốn cho sự nghiệp Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa rất quan trọng. Một trong các nguồn huy động
vốn cơ bản là từ dân cư được thực hiện bởi các Ngân hàng thương mại.
Là một Ngân hàng thương mại lớn nhất tại Việt Nam, vấn đề Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) hết sức quan tâm là làm thế nào để huy động
tối đa nguồn vốn trong dân cư nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của đất nước.
Vì vậy sau 3 tháng thực tập tại chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Ba
Đình (Vietcombank Ba Đình), kết hợp với lý luận được học tại Học viện Ngân hàng,
bản thân thấy sáng tỏ thêm nhiều vấn đề nên em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số
giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn trong dân cư tại Ngân hàng
Thương Mại Cổ phần Ngoại Thương Ba Đình”.
2. Mục đích của chuyên đề.
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm lý luận, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa
lý luận và thực tiễn về công tác huy động vốn.
- Khẳng định vai trò của nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
- Đánh giá thực trạng nghiệp vụ huy động vốn (chủ yếu là bằng VND) tại chi
nhánh Vietcombank Ba Đình.
- Nghiên cứu giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại chi
nhánh
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
1

1.1. NHTM và hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
1.1.1. Khái niệm NHTM.
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói
chung và đối với từng cộng đồng dân cư nói riêng. Có thể định nghĩa Ngân hàng theo
nhiều cách tiếp cận khác nhau, qua chức năng, qua các nghiệp vụ hoặc qua vai trò mà
ngân hàng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên các yếu tố trên luôn không ngừng
thay đổi. Trong thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính đang cố gắng cung cấp các dịch vụ
của Ngân hàng, và để đối phó với các đối thủ cạnh tranh cũng như đáp ứng được xu thế
phát triển chung của thế giới, các Ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi cung cấp dịch
vụ của mình như bất động sản, môi giới chứng khoán và tham gia hoạt động bảo
hiểm…Cách tiếp cận thận trọng nhất là định nghĩa Ngân Hàng trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì
tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.”
Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng dễ dàng nhận thấy các NHTM
có chung một tính chất, đó là: Việc huy động tiền gửi (không kì hạn và có kỳ hạn) để sử
dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính
Ngân hàng.
1.1.2. Chức năng của NHTM.
Đặc trưng của Ngân hàng được thể hiện rõ nhất ở loại hình NHTM thông qua 3
chức năng sau:
• Chức năng làm thủ quỹ xã hội.
Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các doanh
nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu rút tiền và
chi tiền của họ. Chức năng này xuất phát từ nhu cầu muốn bảo đảm an toàn cho tài sản
và mong muốn tích lũy giá trị của công chúng và các doanh nghiệp trong xã hội.
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
3

NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. Xuất
phát từ một trung gian tài chính, NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tạm thời của mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế trong xã hội. Thông qua
nghiệp vụ tín dụng, NHTM cung cấp vốn cho hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn
kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Như vậy, với khả năng cung ứng vốn, NHTM đã trở
thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Thứ hai: NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp sẽ
phải đối mặt với một môi trường năng động và có sự cạnh tranh gay gắt. Để có thể tồn
tại và phát triển thì doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới trang thiết bị, phát huy
sáng kiến cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ công nhân và trình độ quản lý doanh
nghiệp. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng về tài chính để
thỏa mãn các yêu cầu trên, do vậy buộc họ phải tìm kiếm vốn phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng sẽ giúp doanh
nghiệp có đủ khả năng thỏa mãn nhu cầu tối đa của thị trường trên nhiều phương diện:
giá cả, chất lượng. chủng loại, thời gian, địa điểm…NHTM sẽ là cầu nối giữa doanh
nghiệp và thị trường gần hơn cả về không gian và thời gian.
Thứ ba: NHTM góp phần quản lý doanh nghiệp có hiệu quả.
Khi tham gia vào quan hệ tín dụng, doanh ngiệp vay vốn và ngân hàng đều phải
quán triệt nguyên tắc tín dụng. Việc cho vay vốn của Ngân hàng được thực hiện theo 3
nguyên tắc sau:
- Tiền vay được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
- Tiền vay được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn.
- Việc đảm bảo tiền vay được thực hiện theo quy định của Chính phủ và của
NHTW.
Việc tuân thủ theo các nguyên tắc trên đòi hỏi doanh nghiệp phải hạch toán kinh

Về thực chất, thì nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân
tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng, mà người chủ sở hữu
để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng. Và như vậy ngân hàng đã thực
hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, tăng nhanh quá trình
luân chuyển vốn, phục vụ kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển.
1.2.2. Phân loại nguồn vốn của ngân hàng thương mại.
 Vốn tự có
• Vốn điều lệ
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Là số vốn lớn hơn hoặc bằng số vốn pháp định (vốn tối thiểu để thành lập một
ngân hàng), được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Đối với Ngân hàng Quốc
doanh thì nguồn vốn này do Nhà nước cung cấp. Nếu là Ngân hàng cổ phần thì nguồn
vốn được hình thành từ sự đóng góp từ các cổ đông.
• Vốn tích luỹ (quỹ dự trữ)
Là số vốn do ngân hàng tạo ra từ kết quả kinh doanh tổng hợp và các hoạt động
của ngân hàng. Theo pháp lệnh của Ngân hàng và dự thảo luật Ngân hàng thì mọi Ngân
hàng thương mại hoạt động ở Việt Nam đều phải thành lập quỹ dự trữ sau:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Theo quy định của Nhà nước, hàng năm ngân
hàng phải trích 5% trên lợi nhuận ròng để lập quỹ này. Quỹ được lập cho đến khi bằng
50% vốn điều lệ tại thời điểm trích lập quỹ.
- Quỹ dự trữ đặc biệt: Là bộ phận quỹ dùng để dự phòng bù đắp cho các rủi ro
trong quá trình hoạt động, được trích lập hàng năm bằng 10% lợi nhuận ròng. Quỹ này
được trích lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ thực có tại thời điểm trích lập quỹ.
Ngoài ra vốn tích luỹ còn bao gồm: lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do
đánh giá lại tài sản, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
 Vốn huy động
Vốn huy động là phương tiện tiền tệ do các ngân hàng quản lý và huy động từ

hàng chủ yếu được hình thành từ nguồn vốn huy động trong quá trình tập trung một bộ
phận tiền tệ của khu vực dân cư, của các tổ chức kinh tế. Nguồn vốn này là nền tảng cơ
bản nhất để Ngân hàng cấp tín dụng cho nền kinh tế. Do đó Ngân hàng cần có những
biện pháp thích hợp để huy động được nhiều nhất, đặc biệt từ khu vực dân cư, với chi
phí bỏ ra là thấp nhất mà vẫn đem lại hiệu quả cao.
1.2.3. Một số nội dung về huy động vốn trong dân cư.
1.2.3.1. Vai trò của vốn huy động từ dân cư đối với hoạt động kinh doanh của
NHTM.
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng của Ngân hàng thì nguồn vốn nói
chung và nguồn gửi tiền nói riêng không những giữ vai trò quan trọng mà còn mang
tính chất quyết định đến hoạt động kinh doanh của một Ngân hàng. Vì vậy việc quan
tâm, chăm lo công tác huy động vốn để khơi tăng tạo thêm ngày càng nhiều nguồn gửi
tiền làm cho nguồn vốn tăng trưởng đều và ổn định sẽ góp phần tích cực vào việc mở
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rộng đầu tư tín dụng nhằm đa phương hoá, đa dạng hoá kinh doanh phù hợp với định
hướng phát triển của ngành. Vốn tham gia hoạt động kinh doanh của Ngân hàng bao
gồm nhiều nguồn, một trong những nguồn vốn được coi là yếu tố tạo ra mặt bằng vốn
ổn định và có tiềm năng tăng trưởng mạnh, đó là nguồn vốn huy động.
Trong công tác huy động vốn cho nền kinh tế thì huy động vốn dân cư là một
kênh huy động vốn rất quan trọng, là nền tảng vốn vững chắc, mặt khác nó có tác dụng
phát huy nọi lực kinh tế.
Nguồn vốn huy động từ dân cư tuy lẻ tẻ, phân tán, khó huy động nhưng là nguồn
vốn có tiềm năng lớn. Qua điều tra của Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, Tổng cục hệ thống cho
thấy:
- 44% tiền để dành của dân là để mua vàng và ngoại tệ.
- 20% tiền để dành của dân là để mua nhà, đất và cải thiện điều kiện sinh hoạt.
- 17% tiền để dành của dân là để gửi tiết kiệm (chủ yếu là tiết kiệm ngắn hạn).

lớn, nhưng có ưu điểm hơn so với các tài khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ: số dư này ít
biến động. Chính vì vậy, đối với loại tiền gửi này, các Ngân hàng thường phải trả lãi
suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán. Song, khác với tiền gửi không kỳ hạn là tiền
gửi tiết kiệm không kỳ hạn không được ký phát séc để thanh toán. Ngày này, ở các
Ngân hàng tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có xu hướng giảm vì người dân đã
chuyển sang mở tài khoản tiền gửi cá nhân để tiện lợi hơn trong thanh toán.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được rút ra sau một thời hạn nhất
định. Tuy vậy, khách hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn cùng có thể được đáp ứng với
mức lãi suất được hưởng thấp hơn hoặc thậm chí không được hưởng lãi.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn
nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Người dân tham gia hình thức này ngoài việc hưởng
lãi còn được Ngân hàng cho vay bổ sung thêm vốn để mua, xây nhà với lãi suất ưu đãi.
• Huy động qua phát hành các giấy tờ có giá.
- Phát hành kỳ phiếu:
Việc phát hành kỳ phiếu có cùng bản chất với việc huy động tiền gửi có kỳ hạn,
nhằm huy động tiền vốn nhàn rỗi của mọi tầng lớp dân cư. Song, đứng trên quan điểm
của Ngân hàng (người huy động vốn) thì việc phát hành kỳ phiếu là loại chủ động thu
gom (vốn chủ động vay).
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Huy động vốn qua phát hành kỳ phiếu thường là huy động với thời hạn ngắn: 3
tháng, 6 tháng, 12 tháng và 18 tháng. Tuy hình thức này mới được áp dụng trong vài
năm trở lại đây nhưng đã sớm trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng nguồn vốn
của các Ngân hàng. Hiện nay, ở các NHTM Việt Nam thường áp dụng hình thức phát
hành kỳ phiếu theo mệnh giá ghi trên kỳ phiếu, lãi và gốc lĩnh một lần khi đáo hạn.
Riêng hình thức kỳ phiếu có thể chiết khấu đang được xem xét đưa vào sử dụng trong
thời hạn tới.
Điểm tiện lợi nổi bật của hình thức huy động này là tùy theo tình hình cân đối

khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế…Ngoài ra, trong từng thời kỳ, mục tiêu chính
cuả chính sách tiền tệ của NHTW là mở rộng hay thắt chặt cũng tác động trực tiếp đến
hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
• Sự ổn định kinh tế chính trị xã hội.
Một xã hội, một nền kinh tế được đánh giá là ổn định khi nền kinh tế phát triển
với tốc độ ổn định lâu dài và duy trì qua các năm, tỷ lệ lạm phát ở mức cho phép, có
chế độ chính trị ổn định, bền vững, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Nền kinh tế tăng
trưởng kém, lạm phát cao, thu nhập của người lao động giảm, xu hướng người dân giữ
ngoại tệ mạnh hoặc là hàng hóa thay vì gửi tiền vào ngân hàng. Điều này gây ảnh
hưởng đến nghiệp vụ huy đống vốn của NHTM.
• Tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt của dân cư.
Hoạt động huy động vốn của NHTM chủ yếu được hình thành từ việc huy động
các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, do đó công tác huy động vốn của Ngân hàng chịu
ảnh hưởng rất lớn của nhân tố này. Việc người dân có gửi nguồn tiền nhàn rỗi của mình
vào Ngân hàng hay không lại phụ thuộc vào tâm lý thói quen của họ. Nếu họ có thói
quen tích trữ tiền mặt hay mua vàng, bất động sản do tâm lý không tin tưởng vào Ngân
hàng, lo sợ giá tri của đồng tiền không ổn định thì việc huy động vốn của Ngân hàng sẽ
gặp khó khăn. Mặt khác thói quen thanh toán tiền mặt từ lâu đời cũng ảnh hưởng đến
lượng tiền gửi vào ngân hàng.
1.3.2. Nhân tố chủ quan.
• Chính sách lãi suất của NHTM.
Lãi suất là mối quan tâm hàng đầu chủ yếu khi một cá nhân hay một tổ chức
kinh tế nào đó muốn gửi tiền vào Ngân hàng. Chính vì vậy để tạo được nhiều vốn, đáp
ứng được các nhu cầu sử dụng của mình, các Ngân hàng phải hoạch định chính sách lãi
suất linh hoạt, phù hợp với tín hiệu thị trường, kích thích người gửi tiền. Mức lãi suất
huy động phải thấp hơn lãi suất cho vay để đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng nhưng
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368

----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thu hút được khách hàng. Bên cạnh đó, thái độ phục vụ của cán bộ Ngân hàng cũng là
yếu tố tác động đến quy mô tiền gửi. Nhân viên Ngân hàng cởi mở, nhiệt tình đối với
khách hàng, tạo thuận lợi cho khách hàng sẽ tạo được lòng tin với khách hàng, ngày
càng có nhiều khách hàng đến giao dịch gửi tiền.
• Uy tín Ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển, các NHTM phải có uy tín
trên thị trường. Uy tín được thể hiện ở khả năng sẵn sàng chi trả, thanh toán cho khách
hàng, ở chất lượng dịch vụ khách hàng. Chính vì vậy, các Ngân hàng không ngừng
nâng cao, đảm bảo uy tín của mình trên thị trường, từ đó, có điều kiện mở rộng hoạt
động kinh doanh, thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi của các cá nhân và doanh nghiệp.
TÓM TẮT CHƯƠNG I
Như vậy, trong Chương 1 của chuyên đề đã làm rõ được những vấn đề cơ bản về
huy động vốn nói chung và huy động vốn trong dân cư tại NHTM, bao gồm:
- NHTM và hoạt động huy động vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
- Hoạt động huy động vốn của NHTM.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn .
Những lý luận này sẽ là cơ sở để đánh giá thực trạng huy động vốn trong dân cư
tại Vietcombank Ba Đình trong Chương 2, từ đó nêu các giải pháp, kiến nghị trong
Chương 3.
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG DÂN CƯ CỦA NGÂN HÀNG
NGOẠI THƯƠNG BA ĐÌNH

Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lượng sản xuất, củng cố và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tình hình mới…đã
tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh, phát triển cho các doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh nói chung và chi nhánh VCB Ba Đình nói riêng.
* Khó khăn:
- Chịu rất nhiều sức ép cạnh tranh từ những ngân hàng khác cùng địa bàn.
- Quận Ba Đình là trung tâm chính trị của Hà Nội, do vậy mật độ dân cư tham gia hoạt
động kinh doanh thương mại không nhiều so với các quận khác.
Ý thức được những thuận lợi và khó khăn trên, tập thể lãnh đạo và cán bộ công
nhân viên chi nhánh VCB Ba Đình luôn nỗ lực phấn đấu hết mình, thực hiện hoàn
thành vượt mức các mục tiêu kinh doanh đề ra, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế của
quận phát triển.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển.
2.1.2.1. Quá trình hình thành.
Tổng quan về Vietcombank:
Thành lập ngày 01/04/1963, Vietcombank được nhà nước xếp hạng là một trong
23 doanh nghiệp đặc biệt, giữ vai trò chủ lực trong Hệ thống Ngân hàng tại Việt Nam.
Sau 44 năm hoạt động Ngân hàng đã có vị thế vững chắc trong lĩnh vực ngân
hàng, bán buôn với nhiều khách hàng truyền thống là các tổng công ty và doanh nghiệp
lớn bên cạnh đó Ngân hàng còn xây dựng thành công nền tảng phân phối rộng lớn và đa
dạng phục vụ hoạt động ngân hàng bán lẻ và phục vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(kinh doanh vốn, tài trợ thương mại….). Thông qua các công ty con, Ngân hàng còn
đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác như: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản,
phát triển cơ sở hạ tầng…
Mạng lưới hoạt động của Vietcombank rộng khắp và đa dạng đáp ứng nhu cầu của
từng nhóm đối tượng khách hàng cụ thể gồm có:
 01 Sở giao dịch, 58 chi nhánh và 87 Phòng giao dịch trên toàn quốc;
 4 Công ty con ở trong nước:

Những thay đổi về quản trị ngân hàng hiện đại theo thông lệ quốc tế, mở rộng
loại hình kinh doanh, phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, đầu tư vào
công nghệ sẽ góp phần trong việc VCB Việt Nam thực hiện mục tiêu trở thành một
trong những tập đoàn tài chính đa năng hàng đầu trong khu vực trong giai đoạn năm
2015 – 2020.
Quá trình hình thành và phát triển của VCB Ba Đình:
Ngày 15/09/2004, NHTM CP Ngoại Thương Việt Nam đã khai trương chi nhánh
cấp II Ba Đình (có địa chỉ tại 39 Đào Tấn - Ba Đình - Hà Nội), đây là Chi nhánh cấp II
thứ 4 trên địa bàn Thủ đô trực thuộc Chi nhánh NHTM CP Ngoại Thương Hà Nội
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(Vietcombank Hà Nội). Và tới ngày 17/01/2007. chi nhánh cấp II Ba đình đã được điều
chỉnh và nâng cấp thành các chi nhánh trực thuộc Vietcombank Việt Nam (tức là trở
thành chi nhánh cấp I.)
Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Ba Đình cung cấp tới khách hàng các sản
phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại, đa năng, có chất lượng cao, bao gồm: huy động
tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, thanh toán trong nước trực tuyến và thanh toán quốc tế,
cấp tín dụng và bảo lãnh, mua bán ngoại tệ, phát hành và thanh toán các loại thẻ tín
dụng, thẻ rút tiền tự động, trả lương tự động…và đặc biệt giao dịch sẽ được thực hiện
thuận tiện, nhanh chóng hơn khi được giải quyết chỉ tại một cửa. Mọi giao dịch của chi
nhánh Ba Đình đều được xử lý trực tuyến bằng hệ thống công nghệ ngân hàng hiện đại,
kết nối với hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trên cả nước
Ngày 7/8/2007, Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh Ba Đình (Vietcombank Ba
Đình) đã khai trương Phòng giao dịch Trần Duy Hưng tại số 148 Trần Duy Hưng, quận
Cầu Giấy, Hà Nội và ngày 18/12/2007, khai trương Phòng giao dịch Tây Hồ tại địa chỉ
98 - 100 Nghi Tàm, Phường Yên Phụ, Quận Tây Hồ, Hà Nội. Cả hai địa bàn này đều
có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, là khu vực đông dân cư với trình độ dân trí cao,
sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để huy động vốn và phát triển mở rộng các sản phẩm

+ Bộ phận “ Xử lý nghiệp vụ chuyển tiền”: thực hiện các giao dịch chuyển tiền.
+ Bộ phận “Quản lý tài khoản”: Quản lý toàn bộ tài khoản khách hàng và các tài
khoản nội và ngoại bảng tổng kết tài sản.
+ Bộ phận “Quản lý chi tiêu nội bộ”: Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến chi
tiêu nội bộ và các nghiệp vụ khác.
+ Bộ phận “Thông tin khách hàng”: Phục vụ tài khoản khách hàng là tổ chức
kinh tế.
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
Giám đốc chi
nhánh
Phó giám đốc
Phòng quan
hệ khách
hàng
Phòng hành
chính nhân
sự và tin
học
19
Phòng kể
toán thanh
toán và
dịch vụ
Phòng
Ngân quỹ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Bộ phận “Kế toán giao dịch”: Xử lý các giao dịch liên quan đến tài khoản của
các khách hàng là tổ chức kinh tế.
*Đối với dịch vụ ngân hàng:

20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Tổng nguồn vốn huy động.
Bảng 1: Tình hình nguồn vốn huy động của VCB Ba Đình.
(Đơn vị: VND)
Năm
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
Tổng vốn huy động 488.846.581.997 673.583.023.906 1.64.860.411.156
Tốc độ phát triển định
gốc
100% 138% 238.3%
Tốc độ phát triển liên
hoàn
100% 138% 172.93%
(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007)
Trong giai đoạn 2005-2007, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất
trong nước và trên thị trường quốc tế, tình hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn
giữa các TCTD trong nước gây ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của các NHTM
nói chung và hệ thống Vietcombank Việt Nam nói riêng, đặc biệt là giai đoạn cuối năm
2007 có sự biến động rất lớn về lãi suất tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân
hàng. Trước các biến động về giá huy động vốn trên thị trường, Vietcombank Ba Đình
đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường,
tích cực cải thiện chênh lệch lãi suất cho vay – huy động, cải thiện quản trị thanh khoản
dựa trên hệ thống thông số an toàn và phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới
(chứng chỉ tiền gửi, lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bảo an...). Các
biện pháp chủ động và linh hoạt trong điều chỉnh lãi suất đối với cá nhân, doanh nghiệp
cả VND và ngoại tệ đã góp phần giảm thiểu tác động thị trường đối với việc huy động
vốn, nâng cao hệ số sử dụng vốn, chất lượng quản trị vốn và sau cùng là hiệu quả kinh
doanh của ngân hàng.

Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Cơ cấu theo kỳ hạn 488,846,581,997 100.0% 673,583,023,906 100.0% 1,164,860,411,156 100.0%
Huy động Không kỳ
hạn
41,893,142,897 8.6% 95,943,675,862 14.2% 353,115,455,655 30.3%
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vốn HĐ có kỳ hạn
< 12 tháng
206,067,536,522 42.2% 299,416,130,567 44.5% 480,677,308,052 41.3%
Vốn HĐ có kỳ hạn
>= 12 tháng
240,885,902,577 49.3% 278,223,217,477 41.3% 331,067,647,449 28.4%
Tổng vốn huy động
có kỳ hạn
446,953,439,099 91.4% 577,639,348,044 85.8% 811,744,955,501 69.7%
(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2005-2007)
Bảng 2 cho thấy nguồn vốn huy động không kỳ hạn của VCB Ba Đình chiếm tỷ
trọng không lớn trong tổng nguồn vốn huy động nhưng là nguồn vốn huy động có sự
tăng trưởng qua các năm, đặc biệt là năm 2007, nguồn vốn huy động không kỳ hạn
chiếm 30,3% trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2005 nguồn vốn huy động không
hỳ hạn là 41.893142.897 VND, chiếm tỷ trọng 8,6%. Năm 2006 nguồn vốn này là
95.943.675.862 VND, chiếm tỷ trọng 14,2%, tăng 129,02% so với năm 2005. Đến năm
2007 nguồn tiền này là 257.171.779.793 VND tăng 3,7 lần so với năm 2006. Nguồn

sự tăng trưởng nhiều về tỷ trọng mà có sự ổn định nhưng xét trên giá trị huy động thì có
sự tăng đáng kể. Năm 2005: 206.067.536.522 VND; năm 2006: 299.416.130.567 VND
và năm 2007 đạt giá trị: 480.677.308.052 VND. Nguồn vốn huy động có kỳ hạn > 12
tháng tuy có sự tăng về giá trị nhưng tỷ trọng huy động vốn > 12 tháng có xu hướng
giảm trong thời gian vừa qua, năm 2005: 240,885,902,577 VND chiếm 49.3% trong
tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng, năm 2006: 278,223,217,477 VND, chiếm
41.3% ; năm 2007 đạt 331,067,647,449 VND chiếm 28.4%. Tỷ trọng vốn huy động
giảm xuống có nguyên nhân do sự biến động về lãi suất huy động trong hệ thống ngân
hàng (lãi suất cơ bản và lãi suất huy động chung trên thị trường) đặc biệt là khoảng thời
gian 6 tháng cuối năm 2007, cuộc chạy đua giữa các ngân hàng về lãi suất nhằm tăng
lượng vốn huy động dẫn đến tâm lý của người dân, khách hàng gửi tiền ở mức kỳ hạn
ngắn để có thể thay đổi kỳ hạn dễ dàng. Nguồn vốn huy động có kỳ hạn > 12 tháng tuy
có tính ổn định cao nhưng chí phí huy động vốn lớn nhất, nên việc giảm tỷ trọng nguồn
vốn này trong tổng nguồn vốn cũng không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng VCB Ba Đình.
Nhìn vào bảng số liệu trên, ta cũng nhận thấy tỷ lệ huy động vốn theo kỳ hạn
của Ngân hàng VCB Ba Đình khá hợp lý với nguồn vốn huy động < 12 tháng là chủ
yếu, nguồn vốn không kỳ hạn có sự tăng trưởng và chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong
tổng nguồn vốn huy động, nguồn vốn huy động có kỳ hạn trên 12 tháng giảm dần về tỷ
trọng nhưng vẫn có sự tăng trưởng giá trị huy động cho thấy chính sách huy động vốn
của ngân hàng linh hoạt, hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thị trường trong từng thời kỳ
qua đó thu hút một lượng vốn rất lớn trong nền kinh tế (đạt hơn 1.100 tỷ trong năm
2007).
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguyễn Ngọc Phương - Lớp NHB_CĐ22
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Biểu đồ biểu thị nguồn vốn huy động theo kỳ hạn của VCB Ba Đình.
Biểu đồ tỷ trọng nguồn vốn huy động năm 2007
• Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thành phần kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status