BỐ CỤC ĐỀ TÀI
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Các quy định của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành
chính
1. Các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
1.1. Những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
1.2. Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
2. Các quy định của pháp luật về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
2.1. Thủ tục ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
2.2. Thủ tục thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
II. Đánh giá tính hợp lí của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm
hành chính
1. Đánh giá tính hợp lí của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính
1.1. Hợp lí
1.2. Chưa hợp lí
2. Đánh giá tính hợp lí của pháp luật về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
2.1. Hợp lí
2.2. Chưa hợp lí
III. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền
và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
1. Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
2. Về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là những vấn đề rất quan
trọng được quy định cụ thể trong Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (và
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2008) và các Nghị định hướng dẫn thi hành của
Phính phủ. So với Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 1995 thì các quy định về
thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính của Pháp lệnh hiện hành trong
phạt tiền tổng hợp đối với các cá nhân, tổ chức này vượt quá mức mà pháp luật quy
định cho thẩm quyền của người xử phạt. Về nguyên tắc, nếu tất cả các vi phạm đó
đều thuộc thẩm quyền xử phạt của người có thẩm quyền thì dù mức phạt tổng hợp có
lớn hơn mức quy định cho thẩm quyền của người xử phạt, vụ việc đó vẫn thuộc
thẩm quyền xử phạt của người này. Trường hợp nếu có một vi phạm hành chính mà
2
mức phạt tiền được pháp luật quy định vượt quá thẩm quyền của người xử phạt thì
vụ việc đó phải chuyển cho người khác có thẩm quyền xử phạt.
1.2. Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Để khắc phục việc thiếu tính rõ ràng trong các quy định về thẩm quyền xử phạt
như đã phân tích ở trên và bảo đảm cho việc thực hiện đúng thẩm quyền xử phạt,
Điều 42 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2008)
quy định nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể là:
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điều từ
Điều 31 đến Điều 40d của Pháp lệnh này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý.
- Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều
người, thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.
- Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các điều từ Điều 28
đến Điều 40d của Pháp lệnh này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm
hành chính. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ
vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.
- Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành
chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây:
+ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều thuộc
thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;
+ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi
vượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến
hình sự có thẩm quyền giải quyết. Pháp luật nghiêm cấm việc giữ lại các vụ vi phạm
có dấu hiệu tội phạm để xử lí hành chính.
2.2. Thủ tục thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày kí, trừ trường hợp trong quyết định
quy định ngày có hiệu lực khác. Quyết định này phải được gửi cho tổ chức, cá nhân
vi phạm hành chính và cơ quan thu tiền phạt trong thời hạn ba ngày kể từ ngày ra
quyết định. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt phải tự nguyện thi hành quyết định xử phạt
trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao quyết định xử phạt trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác. Cá nhân, tổ chức bị phạt tiền có thể nộp tiền phạt tại chỗ cho
người có thẩm quyền xử phạt hoặc nộp tại kho bạc nhà nước. Hết thời hạn tự nguyện
thi hành quyết định xử phạt mà tổ chức, cá nhân không thi hành quyết định xử phạt
thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định
xử phạt buộc tổ chức, cá nhân đó phải thi hành, bao gồm:
- Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại
ngân hàng;
- Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;
- Áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt.
II. Đánh giá tính hợp lí của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm
hành chính
1. Đánh giá tính hợp lí của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính
1.1. Hợp lí
- So với quy định của Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh xử
lí vi phạm hành chính năm 2002 (khi chưa được sửa đổi, bổ sung năm 2008) thì số
lượng các chức danh thuộc các cơ quan quản lí hành chính nhà nước có thẩm quyền
chung và chuyên ngành từ cấp trung ương đến cấp cơ sở có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính lớn hơn nhiều và phạm vi thẩm quyền cũng được mở rộng hơn
nhiều. Ví dụ như, so với Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 (khi chưa
được sửa đổi, bổ sung năm 2008) thì thẩm quyền phạt tiền của thủ trưởng các cơ
quan chuyên ngành (thuế, hải quan, kiểm lâm, quản lí thị trường, thanh tra chuyên
Tuy nhiên, trên thực tiễn thi hành, Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002
(sửa đổi, bổ sung năm 2008) thời gian qua đã bộc lộ những bất cập cúa các quy định
về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:
- Điểm bất cập lớn nhất và thể hiện phổ biến, rõ ràng nhất là các quy định về thẩm
quyền xử phạt của các chức danh trong pháp lệnh, nhất là các chức danh ở cấp cơ sở
quá thấp, dẫn đến rất nhiều vụ việc vi phạm hành chính không thể xử phạt được
ngay tại cấp cơ sở mà phải chuyển lên trên mặc dù tính chất và mức độ vi phạm của
vụ việc cũng không có gì là lớn hoặc phức tạp. Ví dụ như nhiều vụ vi phạm hành
chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ, về an nhinh, trật tự an toàn xã hội (như
vi phạm về trật tự công cộng, vi phạm quy định giữ gìn vệ sinh chung, về giữ gìn sự
yên tĩnh chung, vi phạm quy định về quản lí hộ khẩu, hộ tịch, mua bán, sử dụng
rượu bia…) có tình tiết đơn giản, rõ ràng nhưng mức phạt tiền tối đa đối với hành vi
đó trên 200.000 đồng là phải chuyển lên cấp trên có thẩm quyền xử phạt của người
trực tiếp thi hành công vụ. Trong tình hình lạm phát, giá cả liên tục tăng nhanh từng
5