Website: Email : Tel : 0918.775.368
§Ò bµi:
Phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự không thành công của
các Bản kế hoạch phát triển của Việt Nam. Hãy lý giải sự cần thiết phải
đổi mới công tác kế hoạch hoá ở nước ta và trình bày nội dung cơ bản
định hướng kế hoạch hoá của Việt Nam.
bµi lµm:
I. Kế hoạch hoá phát triển ở Việt Nam
1. Khái niệm về kế hoạch hoá phát triển
Kế hoạch hoá phát triển là sự tác động của Chính phủ vào nền kinh tế vĩ mô
thông qua việc thiết lập một cách chủ động mối quan hệ khả năng với các mục
đích nhằm đạt được các mục tiều đặt ra bằng việc sử dụng có hiệu quả nguồn
tiềm năng hiện có. Kế hoạch phát triển được xem là công nghệ của sự lựa chọn
các hoạt động hợp lý, tối ưu. Trong đó chủ yếu là:
- Lựa chọn, sắp xếp, sử dụng các nguồn lực khan hiếm
- Đưa ra các định hướng phát triển
- Xác định các cơ chế chính sách điều tiết vĩ mô
Một kế hoạch như trên là kế hoạch ở tầm vĩ mô, kế hoạch hướng dẫn và kế
hoạch dưới dạng chính sách, kế hoạch như vậy phải được tiếp cận theo hình thức
từ trên xuống. Sự khác nhau cơ bản giữa kế hoạch hoá tập trung và kế hoạch hoá
phát triền thể hiện: Một bên là tính cưỡng chế, một bên là tính thuyết phục.
Trong khi mục tiêu của kế hoạch hoá phát triển chỉ là cố gắng ngăn chặn để cho
nền kinh tế khỏi đi lạc với mục tiêu tăng trưởng và ổn định bằng những công cụ
chính sách năng động và gián tiếp thì kế hoạch hoá tập trung không chỉ tạo ra
một loạt các mục tiêu cụ thể thể hiện qua quá trình phát triển kinh tế mong muốn
mà còn cố gắng thực hiện kế hoạch của mình bằng việc khống chế trực tiếp
những hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Nội dung của công tác kế hoạch hoá
bao gồm có: Chiến lược, quy hoạch, kê hoạch và chương trình, dự án. Trong đó,
kế hoạch phát triển giữ vai trò chủ chốt trong hệ thống kế hoạch hoá.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính từ yêu cầu của vấn đề sản xuất, đời sống và hiệu quả kinh tế đã nảy
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sinh những dấu hiệu đổi mới công tác kê hoạch hoá vào những năm đầu thập
niên 80.
Kế hoạch hoá trong thời kỳ đổi mới
Tình hình kinh tế-xã hội nước ta trong các năm qua tiếp tục diễn biến
theo chiều hướng tích cực, kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối cao, cơ sở
hạ tầng và dịch vụ được tăng cường, đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải
thiện, sự nghiệp văn hoá, giáo dục và y tế thu được những thành tựu mới. Tuy
nhiên, nếu so với những mục tiêu Đại hội IX định hướng cho kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 thì một số chỉ tiêu còn đạt mức thấp và nhiệm vụ
dồn lại cho 2 năm 2004-2005 là rất nặng nề, nhất là mục tiêu tăng trưởng kinh tế và
tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu. Trong 3 năm 2001-2003 tổng sản phẩm trong
nước tăng bình quân mỗi năm mới đạt 7,06% và kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng
10,4% mỗi năm. Để hai chỉ tiêu này thực hiện được mục tiêu đề ra cho kế hoạch 5
năm 2001-2005 là tăng bình quân mỗi năm 7,5% và 16% thì 2 năm 2004-2005,
bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước phải tăng 8,17% và kim ngạch xuất
khẩu phải tăng 24,9%. Trong những năm 1992-1997 tổng sản phẩm trong nước của
nước ta đã từng đạt tốc độ tăng bình quân mỗi năm 8,77% và kim ngạch xuất khẩu
cũng tăng bình quân 28% mỗi năm, nhưng sau nhiều năm liên tục tăng trưởng với
tốc độ cao thì quy mô của nền kinh tế và theo đó là lượng tuyệt đối của 1% tăng lên
đã lớn hơn nhiều so với những năm trước đây nên việc phấn đấu thực hiện được
các tốc độ tăng trưởng nêu trên là rất khó khăn, đòi hỏi các cấp, các ngành phải có
nỗ lực vượt bậc thì mới có thể hoàn thành toàn diện các mục tiêu kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 mà Đại hội Đảng IX đã đề ra.
KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU
KINH TẾ-XÃ HỘI CHỦ YẾU 3 NĂM 2001-2003
Mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001 - 2005
Thực hiện 3 năm 2001-2003
vào năm 2005 đạt 45,0%
35,2 37,9
10. Giảm tỷ lệ sinh bình quân mỗi năm 0,06 0,04 0,04
11. Tốc độ tăng dân số đến năm 2005 còn
1,2%
1,4 1,3 1,3
II. Nguyên nhân của sự không thành công:
Việc thực hiện kế hoạch hoá (KHH) kinh tế - xã hội của Việt Nam không
thành công là do rất nhiều nguyên nhân, sau đây là mười nguyên nhân cơ bản
nhất:
1. Tăng trưởng kinh tế chưa thực sự vững chắc; chất lượng tăng trưởng
chưa cao, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế còn chậm.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, các phương thức canh tác tiên tiến chậm
được áp dụng, năng suất cây trồng vật nuôi và chất lượng sản phẩm nông nghiệp
còn thấp, hiệu quả còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chi phí sản xuất
còn lớn. Do đó giá trị gia tăng chưa tương xứng.
Chi phí sản xuất của nhiều sản phẩm công nghiệp, nhất là sản phẩm của
doanh nghiệp nhà nước còn ở mức cao. Giá thành một số sản phẩm còn cao hơn
nhiều so với sản phẩm cùng loại của của các nước trong khu vực, giá trị gia tăng
của nghành công nghiệp chưa tương ứng với tốc độ tăng của giá trị sản xuất.
Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ còn thấp; chất lượng và hiệu quả các
hoạt động dịch vụ chưa cao; phí dịch vụ còn nhiều bất hợp lý, nhìn chung là cao
hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp, lộ trình chưa rõ ràng, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá chậm, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn. Cân đối
vĩ mô trong nền kinh tế vừa hạn hẹp, chưa đủ sức cơ cấu lại nền kinh tế; vừa
không vững chắc, dễ bị phá vỡ bởi những tác động từ những yếu tố khách quan.
hoà nhập, canh tranh (trình độ thể lực, ngoại ngữ) thua kém các nước trong khu
vực. Việc giao dịch chuyển lao động không đáp ứng nhu cầu cải thiện chất
lượng lao động từng vùng, khu vực, từng ngành.
6. Chất lượng xoá đói giảm nghèo chưa vững chắc.
Tỷ lệ số hộ tái nghèo còn cao, đời sống nhân dân vùng cao, vùng xa, vùng
thường bị thiên tai, hạn hán còn nhiều khó khăn. Nhiều vùng đồng boà dân tộc ở
miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ tỷ lệ hộ nghèo còn cao, gấp 4-5
lần mức bình quân cả nước. Nhiều chính sách về hỗ trợ hộ nghèo đã được ban
hành, nhưng việc tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập.
7. Công tác chăm sóc sức khoẻ còn bộc lộ nhiều hạn chế:
Sự chênh lệch trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế giữa người giàu
và người nghèo, giữa các vùng, miền có xu hướng tăng; một bộ phận cán bộ y tế
ở các bệnh viện còn vi phạm y đức, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với
người thầy thuốc. Quản lý lĩnh vực dược đang có nhiều vấn đề bức xúc, từ sản
xuất, phân phốim lưu thông, sử dụng thuốc.
8. Các vấn đề xã hội còn nhiều bức xúc
Các hoạt động văn hoá thông tin còn chưa theo kịp với yêu cầu phát triển
của đời sống xã hội và của thị trường. Tệ nạn xã hội như mại dâm, cờ bạc, nhất
là nạn ma tuý vẫn tiếp tục gia tăng và lan rộng, đặc biệt là trong thanh niên, đang
là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong xã hội… Tai nạn giao thông xảy ra
nghiêm trọng và có xu hướng tăng nhanh. Tội phạm kinh tế, tội phạm hình sự
tuy có giảm nhưng chưa cơ bản, vững chắc. Cuộc đấu tranh chống các thói hư,
tật xấu, hủ tục mê tín, thoái hoá đạo đức,… còn mang nhiều tính hình thức,
chậm đưa lại hiệu quả thiết thực.
9. Hình thành và phát triển các loại thị trường chậm và chưa đồng bộ.
Cho đến nay, chỉ có thị trường hàng hoá dịch vụ đã được hình thành cơ
bản; các thị trường khác còn ở mức rất sơ khai. Thị trường chứng khoán bắt đầu
hoạt động từ năm 2000, nhưng đến nay vẫn rất nhỏ bé; thị trường bất động sản,
7