Phương pháp xếp hạng khách hàng của phòng Dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội - Pdf 28


LỜI MỞ ĐẦU
Tính cầp thiết của đề tài
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế toàn cầu.
Với hoạt động chính là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận, việc sử
dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của Ngân hàng
trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan trọng nhất. Hoạt
động tín dụng (là quan hệ vay mượn gồm cho vay và đi vay) là hoạt động sinh
lời lớn nhất, song đi kèm với nó là rủi ro cao nhất cho các NHTM. Đối với hệ
thống Ngân hàng Việt Nam, kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường đã không
ngừng lớn mạnh và thu được những thành tựu nhất định, nhưng trong quá
trình đó các Ngân hàng đã vấp phải không ít những rủi ro trong hoạt động
kinh doanh gây tổn thất nặng nề. Nên đánh giá rủi ro tín dụng là khâu đầu
tiên, là điều kiện tiên quyết trước khi cho vay.
Sau một thời gian thực tập, em thấy việc xếp hạng khách hàng doanh
nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, bởi vì
thông qua xếp hạng doanh nghiệp các Ngân hàng có thể xác định mức lãi suất
cho vay đối với từng doanh nghiệp, xác định được rủi ro của doanh nghiệp
nhằm phòng ngừa rủi ro tạo điều kiện ổn định nền kinh tế. Vì vậy em đã chọn
đề tài:
“Phương pháp xếp hạng khách hàng của phòng Dịch vụ ngân hàng
doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Hà
Nội”
Đề tài của em gồm ba phần:
Chương 1: Lý thuyết về rủi ro trong hoạt động Ngân hàng và thực
trạng rủi ro tín dụng ở Việt NamChương 2 : Nghiệp vụ xếp hạng khách hàng tại ngân hàng TMCP Kỹ
Thương Việt Nam

Em xin vô cùng biết ơn thầy PGS.TS Hoàng Đình Tuấn - khoa Toán
Kinh Tế đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình lựa chọn đề tài, xác
định hướng nghiên cứu, sửa chữa và hoàn thiện luận văn. Em cũng xin cảm
ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Toán Kinh Tế đã dạy dỗ chỉ bảo
em trong quá trình học tập tại trường.CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN
HÀNG VÀ THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
1.1 Rủi ro trong hoạt động Ngân hàng và thực trạng rủi ro tín dụng ở
Việt Nam
1.1.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến. Vì vậy trong bất kỳ
lĩnh vực nào của đời sống đều có thể xảy ra rủi ro. Đối với cuộc sống đời
thường rủi ro có thể là những điều hết sức đơn giản chẳng hạn như bị mất
cắp....; đối với các ngân hàng thương mại luôn luôn phải đối mặt với các loại
rủi ro đó có thể là rủi ro do khách hàng trả nợ không đúng hạn, cũng có thể là
do ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền của người gửi tiền……
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá đặc
biệt – hàng hoá tiền tệ, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đa phần trong đó là các khoản
tiền gửi phải trả khi có yêu cầu. Nguồn tiền của các ngân hàng thương mại
đang có thay đổi mạnh mẽ do sự gia tăng cạnh tranh trong hệ thống ngân
hàng, giữa các ngân hàng với các tổ chức tài chính dưới ảnh hưởng của công
nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hoá. Các nguồn tiền của cá nhân và
doanh nghiệp dễ dàng di chuyển hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn. Điều này tạo
thuận lợi cho ngân hàng trong việc tìm kiếm nguồn tiền song lại làm tăng tính
kém ổn định của cả hệ thống. Mặt khác tài sản của các ngân hàng chủ yếu là
các động sản tài chính (các khoản cho vay, chứng khoán) với tính rủi ro thị
trường, rủi ro tín dụng rất cao. Công nghệ của Ngân hàng ngày càng phát triển

thất dự kiến, Ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lý.
1.1.2.2 Rủi ro lãi suất
Khi huy động vốn của doanh nghiệp hoặc dân cư, Ngân hàng sẽ phải trả lãi. Còn khi tài trợ, Ngân hàng sẽ thu lãi. Lãi suất của các khoản cho vay, tiền
gửi và chứng khoán thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận
cho Ngân hàng, ngược lại cũng có thể gây tổn thất cho Ngân hàng. Như vậy
rủi ro lãi suất là khả năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm, khi lãi
suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến. Rủi ro lãi suất có thể có một số hình
thức khác nhau như rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất thay
đổi, rủi ro tương quan lãi suất, và rủi ro quyền chọn đi kèm.
• Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất có thể gồm:
- Do sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản, và chế độ lãi
suất cố định.
- Do sự thay đổi của lãi suất thị trường ngoài dự kiến.
Rủi ro lãi suất là một loại rủi ro thị trường quan trọng, đặc biệt trong
điều kiện lãi suất thay đổi như hiện nay. Vì vậy, việc thực hiện các biện pháp
để hạn chế rủi ro lãi suất cũng là một nội dung quan trọng trong quản lý rủi ro
của Ngân hàng thương mại.
• Các giải pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất:
- Phải duy trì cân đối các khoản vay nhạy cảm với lãi suất bên tài sản
nợ và tài sản có.
- Sử dụng một chính sách lãi suất linh hoạt, đặc biệt với những khoản
vay lớn, thời hạn dài cần tìm kiếm nguồn vốn tương xứng, hoặc thực hiện cơ
chế lãi suất thả nổi.
- Sử dụng các công cụ tài chính mới để hạn chế rủi ro ngoại bảng, như
sử dụng các nghiệp vụ kỳ hạn về lãi suất, nghiệp vụ kỳ hạn về tiền gửi,
nghiệp vụ kỳ hạn về lãi suất tiền vay, thực hiện hợp đồng tương lai do không
cân xứng tài sản nợ và tài sản có; thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất, quyền
Tài sản Có trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, làm cho Ngân hàng
không có đủ tiền để thực hiện các cam kết với khách hàng hay nói cách khác
Ngân hàng không có khả năng thanh toán các giao dịch của khách hàng theo
các cam kết (thiếu hoặc mất khả năng thanh toán).
Rủi ro thanh khoản có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như:
- Do Ngân hàng sử dụng vốn để đầu tư, cho vay nhưng chưa thu hồi
được vì chưa đến kỳ hạn khách hàng trả nợ, nhưng Ngân hàng phải thanh toán
các khoản nợ đến hạn (do sự biến động của tài sản Nợ và Tài sản Có trong quá
trình hoạt động).
- Do có nhiều khoản vay kém chất lượng nên Ngân hàng không thu
được nợ làm cho Ngân hàng không có đủ tiền để thực hiện các cam kết với
khách hàng hay nói cách khác Ngân hàng không có khả năng thanh toán các
giao dịch của khách hàng theo các cam kết (thiếu hoặc mất khả năng thanh
toán).
- Do những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở Ngân
hàng ngay lập tức. Hoặc có dòng tiền lớn rút ra đột ngột do yếu tố mất ổn định
vĩ mô, do thông tin bất lợi cho Ngân hàng.
Thiếu khả năng thanh toán là thiếu tiền theo dự kiến, điều này đòi hỏi
Ngân hàng phải bù đắp lượng tiền thiếu với chi phí cao hơn bình thường dẫn
đến làm giảm lợi nhuận. Khi lợi nhuận giảm qua số cân bằng thu chi làm cho
NH bị lỗ trong kinh doanh. Nếu số lỗ này không được bù đắp và ngày càng
tăng lên do việc huy động vốn đảm bảo khả năng thanh toán sẽ dẫn đến việc
NH bị phá sản. Ngược lại khi Ngân hàng thừa khả năng thanh toán (tức là duy
trì số tiền không sinh lời hoặc sinh lời thấp quá lớn để đảm bảo khả năng thanh
toán) cũng sẽ dẫn đến thu nhập thấp, giảm khả năng sinh lời của Ngân hàng.
Trường hợp mất khả năng thanh toán cũng dẫn đến việc NH bị phá sản
vì mọi khách hàng là chủ nợ của NH sẽ cùng rút tiền ồ ạt (kể cả những khoản


mọi giấy tờ có giá mà một Ngân hàng thương mại nắm giữ đều tiềm ẩn rủi ro
này (ngoại trừ trái phiếu Chính phủ). Các Ngân hàng thưong mại có thể chọn
loại hình giấy tờ có giá để đầu tư cho phù hợp với mục đích chính của mình,
nhưng luôn phải đánh giá đúng mức rủi ro của chứng khoán đó. Việc người
phát hành không thể thanh toán được luôn gây ra những thiệt hại đáng kể đối
với các Ngân hàng; nó gián tiếp gây ra những thiệt hại đối với toàn bộ hệ
thống kinh tế quốc gia. Chính vì thế mà các quốc gia đều đặt ra những quy
định chỉ cho phép Ngân hàng thương mại được phép kinh doanh số chứng
khoán đã được xếp hạng ở một mức nào đó.
• Rủi ro nhân sự: hoạt động kinh doanh giấy tờ có giá của Ngân hàng
thương mại rất đa dạng. Nó đòi hỏi sự độc lập của các cá nhân, nhân viên
Ngân hàng. Chính vì thế mà những rủi ro phát sinh bởi chính các nhân viên
của Ngân hàng là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là trong hoạt động môi
giới đầu tư cho khách hàng.
• Rủi ro do yêu cầu thanh khoản: các Ngân hàng luôn phải đáp ứng một
nhu cầu thanh khoản nhất định và việc đầu tư vào giấy tờ có giá có thể làm
giảm khả năng thanh khoản của Ngân hàng, làm tăng rủi ro do yêu cầu thanh
khoản.
• Rủi ro khác: các rủi ro khác mà một Ngân hàng phải đối mặt trong
quản lý và kinh doanh giấy tờ có giá bao gồm những rủi ro như cháy, mất mát,
cướp…Và còn nhiều rủi ro tới từ các hoạt động khác của Ngân hàng, chúng
luôn có tác động qua lại lẫn nhau.
• Ngoài các rủi ro trên Ngân hàng còn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro
quan trọng khác như: - Rủi ro chính trị: khi xảy ra những thay đổi về pháp luật, những quy
định về luật pháp trong và ngoài nước sẽ có ảnh hưởng xấu tới thu nhập của
Ngân hàng.
- Rủi ro phạm tội: xảy ra khi những người chủ Ngân hàng, nhân viên hay các
Chúng ta thấy rằng đỉnh của đồ thị biểu diễn xác suất hoàn trả đầy đủ
cả gốc và lãi của khoản vay là tương đối cao (tuy nhiên luôn nhỏ hơn 1). Đặc
điểm luân chuyển vốn của các công ty có thể là nguyên nhân gây nên rủi ro
tín dụng ở các mức độ khác nhau. Tỷ lệ không thanh toán được một phần hay
toàn bộ tiền lãi là khoảng cách từ điểm “gốc” đến điểm “gốc và lãi”; và tỷ lệ
không thanh toán được một phần hay toàn bộ tiền gốc là từ điểm “0” đến
điểm “gốc”. Đồ thị 1.1 cũng chỉ ra rằng xác suất mà ngân hàng thu được cả
gốc và lãi là cao hơn nhiều so với trường hợp không thu được cả gốc và lãi,
điều này nói lên rằng bổn phận của Ngân hàng là phải đánh giá được mức độ
rủi ro dự tính của các khoản đầu tư và đặt yêu cầu cho phần thu nhập phụ trội
so với rủi ro tương xứng với mức độ rủi ro của các chứng khoán mà Ngân
hàng nắm giữ.

P=1
0
gốc gốc và lãi
tiền hoàn trả
P

Đồ thị 1.2: Phân bổ xác suất rủi ro đối với một danh mục đầu tư
Sự phân bổ lợi tức đối với rủi ro tín dụng đặt ra cho Ngân hàng là phải
giám sát và thu thập được những thông tin về công ty mà Ngân hàng đã đầu
tư. Nghĩa là chiến lược quản trị rủi ro tín dụng cùng với việc quản trị công ty
hiệu quả có ảnh hưởng đến đường cong phân bổ xác suất trong việc thu hồi
tín dụng. Ngoài ra, sự phân bổ rủi ro tín dụng trên Đồ thị 1.1 là trường hợp

àn

t
rả

tố
i
đ
a
tiền hoàn trả
P=1

phần hay toàn bộ số lãi và gốc. Vì vậy, mức độ thu hồi trung bình của các
danh mục đầu tư có thể nhỏ hơn so với trường hợp thu được đầy đủ cả gốc và
lãi. Kết quả của việc đa dạng hoá đầu tư là việc hạn chế được xác suất xảy ra
các hậu quả xấu trong danh mục đầu tư. Một danh mục đầu tư được đa dạng
hóa đã rút ngắn được phạm vi rủi ro tín dụng. Trong thực tế, đa dạng hoá
danh mục đầu tư chỉ có thể giảm được rủi ro tín dụng đặc thù riêng của các
ngành kinh tế, tuy nhiên rủi ro có tính chất hệ thống, chung cho cả nền kinh tế
có ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh tế thì không thể loại trừ được.
1.2.2 Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Nợ có vấn đề
Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, các Ngân hàng thương mại đều mong
muốn rằng khoản cho vay đó sẽ được hoàn trả đầy đủ, đúng thời hạn như đã
thoả thuận. Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho hoạt động của mình, sau khi cấp
tín dụng cho khách hàng, Ngân hàng phải thường xuyên giám sát khoản tín
dụng đã cấp đó, để xem khách hàng có sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả
thuận không? Và mức độ hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng như thế
nào?
Do đó có thể nói rằng, hoạt động giám sát có vai trò hết sức quan trọng:

dụng. Nếu tỷ lệ đó cao thì có thể nói rằng hoạt động tín dụng của Ngân hàng
là không hiệu quả, nguy cơ rủi ro tín dụng rất có khả năng xảy ra, Ngân hàng
cần phải xem xét lại quy trình cho vay của mình nhằm làm giảm bớt nợ quá
hạn. Ngược lại, nếu tỷ lệ đó thấp thì rủi ro tín dụng nếu có xảy ra cũng không
ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2.2.3 Nợ khó đòi
Nợ khó đòi là nợ quá hạn không được thanh toán, mặc dù Ngân hàng đã
gia hạn nợ. Chính vì vậy có thể nói đây là chỉ tiêu rõ ràng nhất để phản ánh mức độ tổn thất trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Hầu hết các Ngân hàng
thương mại đều thực hiện lập quỹ dự phòng rủi ro bằng 100% số nợ khó đòi.
Tỷ lệ nợ khó đòi = (Nợ khó đòi / Tổng dư nợ)
Cho biết Ngân hàng cho vay 100 đơn vị tiền tệ thì tỷ lệ tổn thất bao
nhiêu đơn vị tiền tệ. Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi = (Nợ khó đòi / Tổng dư
nợ) phản ánh trực tiếp chất lượng tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng nói chung. Nợ khó đòi cao làm cho Ngân hàng phải trích lập
quỹ dự phòng rủi ro nhiều hơn, chi phí hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
sẽ tăng, qua đó đẩy lãi suất cho vay của Ngân hàng tăng lên, làm giảm tính
cạnh tranh của Ngân hàng.
1.2.2.4 Lãi treo
Lãi treo là số tiền lãi mà khách hàng không trả được cho Ngân hàng khi
đến hạn thanh toán. Đây cũng là một dấu hiệu quan trọng để nhận biết rủi ro
tín dụng. Bởi vì việc thanh toán lãi thường không gắn liền với việc trả gốc, và
có giá trị nhỏ hơn gốc rất nhiều, được trả vào những thời điểm nhất định, tuỳ
theo sự thoả thuận của Ngân hàng và khách hàng. Khi khách hàng không
thanh toán được tiền lãi của khoản vay thì có thể coi đấy là một dấu hiệu thể
hiện rằng doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính.
Tỷ lệ (Lãi treo phát sinh / Tổng thu nhập) từ hoạt động tín dụng, cũng
là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá mức độ rủi ro của Ngân hàng.

khách hàng.
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản lý hoặc ban điều hành
- Có sự mất đoàn kết, bè cánh, tranh giành quyền lực trong nội bộ doanh
nghiệp, có hiện tượng nhân tài rời bỏ doanh nghiệp.
- Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, điều
hành độc đoán hoặc quá phân tán.- Cơ cấu nhân lực của doanh nghiệp không hợp lý, bộ phận quản lý
ngày càng phình to, có các hoạt động sát nhập với các doanh nghiệp yếu kém
khác.
- Có những khoản chi phí bất hợp lý.
Ngoài ra còn có một số dấu hiệu khác như: nhóm các dấu hiệu thuộc về
mặt pháp luật, nhóm các dấu hiệu thuộc về kỹ thuật và thương mại….
1.2.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho Ngân hàng, có thể
phân thành các loại nguyên nhân như sau:
1.2.3.1 Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm mất khả
năng thanh toán cho Ngân hàng. Ví dụ: Thiên tai, chiến tranh, hoặc những
thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi của Chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế
quan…) vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người
vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều người vay, với bản
lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng, hoặc khắc phục những khó
khăn. Trong những trường hợp khác, người vay có thể sẽ bị tổn thất song vẫn
có thể trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi. Tuy nhiên, khi tác động
của những nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề thì khả
năng trả nợ của họ bị suy giảm.
1.2.3.2 Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay

Theo Quyết định này khái niệm nợ được định nghĩa rất rộng. Nợ không
chỉ bao gồm các khoản cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, tái chiết khấu
thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, tiền trả thay cho người được bảo
lãnh, mà còn bao gồm các khoản ứng trước, thấu chi và các khoản bao thanh toán (một hình thức cấp tín dụng mới được phép theo Quy chế bao thanh toán
của các TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày
6/9/2004 của NHNN) và các hình thức tín dụng khác.
Việc phân loại nợ cũng được xác định hết sức rõ ràng. Theo phương
pháp “định lượng” Quyết định 493 đã phân loại nợ thành 5 nhóm, bao gồm:
Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả
năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong
tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán.
Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và cơ cấu lại
thời hạn trả nợ.
Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180
ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn 90 ngày.
Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ từ 90 ngày đến 180 ngày.
Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày,
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
Tuy nhiên cần lưu ý là cho dù có tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể
để phân loại nợ như trên, các tổ chức tín dụng (TCTD) và Ngân hàng (NH)
vẫn có quyền chủ động tự quyết định phân loại nợ nào vào nhóm nợ rủi ro cao
hơn tưong ứng với mức độ rủi ro nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng
suy giảm.
Điều đặc biệt ở Quyết định này là lần đầu tiên phương pháp “định tính”
được cho phép áp dụng đối với các TCTD đủ điều kiện. Theo phương pháp
này nợ cũng được phân thành 5 nhóm nợ tương ứng như 5 nhóm nợ theo cách

vậy về tầm quan trong của công tác quản trị rủi ro, năm 2007 tiếp tục đánh
dấu một bước phát triển mới trong công tác này, đặc biệt là những phát triển trong công tác rủi ro tín dụng, vốn luôn được xác định là rủi ro chính cần
được kiểm soát chặt chẽ của Techcombank.
Nếu như năm 2006, việc thành lập phòng quản trị rủi ro Hội sở đựoc
xem là bước đầu tiên quan trong trong việc thống nhất quản lý toàn bộ các rủi
ro, thì năm 2007, việc thành lập khối tín dụng và quản trị rủi ro trên cơ sở tư
vấn cúa HSBC được coi như bước phát triển hoàn tất về cơ cấu tổ chức cho
công tác quản trị rủi ro của Techcombank, cả tầng vi mô và vĩ mô đã được
độc lập hoàn toàn với mảng kinh doanh, giúp ban điều hành có cái nhìn khách
quan, đảm bảo an toàn kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động chung của
ngân hàng.
Song song với việc cải tổ cơ cấu, mảng rủi ro tín dụng năm qua cũng
nhận được nhiều sự thay đổi về chuyên môn nghiệp vụ, trong đó phải kể đến
mảng rủi ro tín dụng doanh nghiệp với việc cải tổ về qui trình phê duyệt tín
dụng và qui trình thẩm định. Các qui trình mới này đã góp phần vào sự tẳng
truởng vựot bậc về tính ứng dụng của Techcombank trong nửa cuối năm 2007
mà vẫn kìm chế được rủi ro tín dụng ở mức rất thấp. Ngoài ra mảng rủi ro tín
dụng bán lẻ cũng là một trong tâm phát triển trong năm 2007 cùng với tham
vọng đẩy mạnh mảng ngân hàng bán lẻ của Techcombank.
Tiếp nối những kĩ thuất quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ theo danh mục
bắt đầu gây dựng năm 2006, rủi ro tín dụng bán lẻ đã được trực tiếp các
chuyên gia của HSBC xây dựng và chịu trách nhiệm trước ban điều hành.
Theo đó, lần đầu tiên, việc phê duyệt những sản phẩm tín dụng tiêu dùng đã
được thực hiện trên hệ thống xếp hạng khách hàng(scoring) được tích hợp tập
trung trong hệ thống IT. Đây có thể là điểm đột phấ nhất cảu Techcombank
trong rủi ro tín dụng của năm 2007.
Công tác rủi ro thị trường trong năm 2007 cũng có những bước phát

rang và sẽ đi vào áp dụng cụ thể đầu năm 2008.
Như vây, hệ thống quản trị rủi ro của Techcombank không ngừng được củng cố một cách đồng bộ và dần đựoc nâng cấp cho phù hợp với các
chuấn mực rủi ro tiên tiến trên thế giới. Đây là cơ sở quan trong để hoạt động
kinh doanh được tiến hành một cách an toàn, hiệu quả và bền vững.
1.3.2 Định hướng năm 2008
Tổng tài sản tăng 70% so với năm 2007, đạt 68.000 tỷ. Trong đó, vốn
huy động dân cư đạt 35.000 tỷ và các tổ chức kinh tế 16.000 tỷ( tăng 100%).
Vốn tự có năm 2008 đạt 6.000 tỷ (tăng 100%).
Phát hành thêm 300.000 thẻ, đưa con số lũy kế thẻ lên 650.000 thẻ, lắp
đặt mới thêm 170 ATM và 1.000 POS.
Thu nhập dịch vụ đạt 360 tỷ (tăng 80%), tỷ lệ thu nhập dịch vụ/ thu
nhập hoạt động thuần là 20% trong năm 2008.
Dư nợ cho vay đạt 32.000 tỷ (tăng 60%). Tỷ lệ nợ loại 3 – 5 thấp hơn
2% tổng dư nợ.
ROE duy trì ở mức 18% đến 20%.
1.3.3 Hoạt động tín dụng của ngân hàng Techcombank trong 3 năm gần đây
Bảng1.3 . Các chỉ tiêu tài chính cơ bản
Đơn vị: tỷ VNĐ
STT Chỉ tiêu 2005 2006 2007
1 Tổng doanh thu 905 1.398 2.653,29
2 Tổng tài sản 10.666 17.326 39.542,50
3 Vốn điều lệ 617 1.500 2.521,31
4 Vốn tự có 1.009,41 1.761.69 3.573,42
5 LN trước thuế 286,06 356,52 709,74
6 LN sau thuế 206,15 256,90 510,38
7 ROA(%) 2,60 1,89 1,99
8 ROE(%) 45,19 26,76 22,98

đúng thực tế hoạt động tín dụng. Đẩy mạnh chất lượng công tác thẩm định tín
dụng, kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay. Hoàn thiện và xây
dựng một chính sách tín dụng phù hợp, chính sách khách hàng theo quy định
của ngân hàng. Giảm tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay doanh nghiệp, có chính
sách thu hồi nợ và xử lý dứt điểm các khoản nợ tồn đọng. Nâng cao trình độ
cán bộ và sắp xếp vị trí hợp lý để tăng hiệu quả. Thực hiện đa dạng hóa sản
phẩm hay danh mục đầu tư với mục tiêu phân tán rủi ro. Tiếp tục phát triển
hệ thống xếp hạng khách hàng tư nhân và doanh nghiệp.

Trích đoạn Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Techcombank 1 Khái niệm xếp hạng doanh nghiệp Các chỉ tiêu định tính bao gồm các tiêu chí sau
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status