Quản lý vốn công ty cổ phần HÃNG SƠN ĐÔNG Á - Pdf 28

Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VCSH : Vốn chủ sở hữu
LNTT : Lợi nhuận trước thuế
LNTLV : Lợi nhuận trước lãi vay
LNST : Lợi nhuận sau thuế
HTK : Hàng tồn kho
SXKD : Sản xuất kinh doanh
HSĐA : Hãng sơn Đông Á
NNH : Nợ ngắn hạn
NDH : Nợ dài hạn
TSNH : Tài sản ngắn hạn
TSDH : Tài sản dài hạn
NVNH : Nguồn vốn ngân hàng
XDCB : Xây dựng cơ bản
NVL : Nguyên vật liệu
CPQL : Chi phí quản lý

Đồ án tốt nghiệp SV: Lê văn Hiệp Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
BẢNG
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1. Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty cổ phần Hãng Sơn Đông Á Error:
Reference source not found
Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty Error: Reference
source not found
Sơ đồ 3: Kênh tiêu thụ trực tiếp Error: Reference source not found
Sơ đồ 4: Kênh tiêu thụ gián tiếp 1 Error: Reference source not found
Sơ đồ 5 : Kênh tiêu thụ gián tiếp 2 Error: Reference source not found

nguy cơ dẫn đến phá sản doanh nghiệp.
Trên cơ sở lý luận, xác định nguồn vốn cho kinh doanh là một trong ba
vấn đề cơ bản nhất của quản trị tài chính doanh nghiệp và nó quyết định hiệu
quả tài chính. Ba vấn đề đó là:
+ Lựa chọn dự án đầu tư (đầu tư vào đâu ? đầu tư như thế nào ?).
+ Xác định nguồn vốn cho kinh doanh (cách thức nào tài trợ cho dự án
đầu tư ? ).
+ Quản lý hoạt động tài chính: Ngân quỹ, vốn lưu động, vốn cố định …
Nội dung xác định nguồn vốn cho SXKD bao gồm đảm bảo đủ nguồn
Đồ án tốt nghiệp
1
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
vốn với cơ cấu hợp lý để tài chợ cho tài sản của doanh nghiệp.
1. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề xuất giải pháp và kiến nghị đổi mới công tác quản lý nguồn vốn, góp
phần ổn định tài chính và nâng cao hiệu quả SXKD tại công ty cổ phần Hãng
Sơn Đông Á .
Đồ án nghiên cứu vấn đề nguồn vốn và công tác quản lý nguồn vốn tại
công ty cổ phần Hãng Sơn Đông Á trong thời gian từ năm 2010 đến năm
2011.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đồ án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu. Trong đó, chủ yếu
là phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp tổng hợp, phân tích so sánh, sử
dụng các phương pháp của nghiệp vụ kế toán thống kê, khảo sát thực tế …
Với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé kiến thức của mình
vào những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tại doanh nghiệp,
công ty cổ phần Hãng Sơn Đông Á đang đứng trước những thách thức như
trên nên vấn đề đặt ra đối với ban lãnh đạo công ty là cần phải làm gì để giải
quyết được những vấn đề trên nhằm đưa doanh nghiệp thắng trong cạnh tranh,

đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thiện bài viết này.
Hà Nội ngày 15 tháng 11 năm 2011
Sinh viên : Lê Văn Hiệp
Đồ án tốt nghiệp
3
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
PHẦN 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN
1.1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn
1.1.1 Khái niệm nguồn vốn
Nguồn vốn là nguồn gốc hình thành giá trị tài sản của doanh nghiệp, thể
hiện các khoản nợ của doanh nghiệp đối với chủ nợ và chủ sở hữu.
Theo kinh tế học vi mô thì một quá trình sản xuất bao gồm các yếu tố
đầu vào cơ bản và tối thiểu sau: Đất đai, lao động và nguồn vật chất với các
ký hiệu tương ứng là L, Ld, K. K ở đây chính là các nguồn lực vật chất như
máy móc, nguyên liệu, nhiên liệu… Khi quan sát trực quan ta có thể thấy hình
thái vật chất rõ ràng của K. Nhưng xét trên khía cạnh quản lý tài chính thì ta
còn quan tâm nguồn gốc của K. Là một nguồn lực khan hiếm, K luôn có giá
trị và giá cả như các loại hàng hoá khác và khi mua nó thì người ta cần tiền và
khi nói đến tiền thì phải nghĩ ngay đến nguồn tài trợ hay nguồn vốn. Vậy
nguồn vốn là nguồn hình thành của tư bản nói lên phương thức tài trợ cho tư
bản.
Xét một bảng cân đối tài sản, nguồn vốn là các khoản mục nằm bên phải
bảng cân đối tài sản thể hiện các khoản nợ (đối với chủ nợ và chủ sở hữu) mà
doanh nghiệp sử dụng để hình thành các tài sản. Tổng nguồn vốn tức tổng các
khoản nợ bao giờ cũng bằng nhau. Bất kỳ sự tăng lên nào của tài sản đều phải
được tài trợ qua sự tăng lên của một hay nhiều yếu tố của nguồn vốn. Theo
cách ghi chép kế toán thì nguồn vốn được ghi chép thành các khoản mục như:

thành khoản mục tài sản ngắn hạn ròng.
b. Phân loại nguồn vốn theo tính chất sở hữu
Một đặc điểm khác là nguồn vốn luôn gắn với tính chất sở hữu. Mỗi
nguồn vốn thuộc sở hữu khác nhau sẽ khác nhau về thời hạn, rủi ro và chi phí
sử dụng.
• Nguồn vốn chủ sở hữu: Nguồn vốn do chủ sở hữu góp dưới hình thức
góp vốn, phát hành cổ phiếu thường hay góp vốn đầu tư, lợi nhuận giữ lại…
Đồ án tốt nghiệp
5
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
Đặc điểm: Nguồn vốn CSH có thời hạn không xác định. Chỉ khi doanh
nghiệp hết thời hạn hoạt động hay phá sản thì chủ sở hữu mới có cơ hội lấy lại
phần vốn góp của mình.
Trong các loại nguồn vốn của doanh nghiệp thì rủi ro đối với vốn CSH là
cao nhất do CSH chỉ được nhận lợi tức nếu doanh nghiệp có đủ khả năng
trang trải tất cả các chi phí kể cả lãi vay và thuế thu nhập, đồng thời khi doanh
nghiệp phá sản thì CSH là người cuối cùng nhận lại vốn góp. Tuy vậy, cũng
giống như vay nợ vốn CSH có thể làm giảm rủi ro tài chính cho doanh nghiệp
nếu được cơ cấu tối ưu vì nó là cơ sở cho quyết định tài trợ của các bên cho
vay tránh các chủ nợ đồng loạt rút vốn do tỷ trọng vốn chủ không đảm bảo an
toàn.
Xét trên một khía cạnh khác thì vốn CSH có tính hai mặt: Một mặt làm
thu hẹp tỷ suất lợi nhuận nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả. Các dự án đầu tư
đem lại tỷ lệ hoàn vốn cao hơn chi phí lãi vay của thị trường; đáng lẽ doanh
nghiệp nên đi vay và chịu chi phí vốn thấp nhưng doanh nghiệp lại gọi vốn
góp và lợi nhuận bị chia sẻ cho các CSH góp vốn. Ảnh hưởng đến quyền lợi
của các CSH cũ. Mặt khác, vay nợ có thể làm cho thua lỗ giảm đi tránh nguy
cơ mất vốn phá sản nếu doanh nghiệp đang thua lỗ hoặc lợi nhuận thấp vì trút
được gánh nặng chi phí lãi.

1.1.3. Một số nguồn vốn của doanh nghiệp
Phần trên như chúng ta đã thấy nguồn vốn được phân loại theo hai tiêu
thức là thời hạn và sở hữu. Sau đây tác giả xin trình bày cụ thể một số nguồn
vốn. Mỗi nguồn vốn với các tính chất khác nhau về thời gian và tính chất sở
hữu sẽ mang những đặc điểm riêng ngoài những tính chất chung đã đề cập ở
trên.
a. Nguồn vốn chủ sở hữu (CSH)
+ Nguồn vốn góp của chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất với ý nghĩa là nguồn lực tài chính
để khởi sự một doanh nghiệp. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà
nguồn vốn này hình thành trên những cơ sở khác nhau.
• Doanh nghiệp tư nhân: Do chủ sở hữu duy nhất góp. Tuy vậy, trách
nhiệm lại là vô hạn, tức chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm tài sản bằng
Đồ án tốt nghiệp
7
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
toàn bộ tài sản của cá nhân mình chứ không dừng lại ở phần vốn góp trong
doanh nghiệp.
• Công ty hợp danh: Do các thành viên tham gia thành lập công ty đóng
góp. Sở hữu của mỗi thành viên trong công ty sẽ tương ứng với phần vốn góp.
Trách nhiệm tài sản trong công ty hợp danh có thể là vô hạn với mọi thành
viên công ty, tức chủ nợ. Có thể đòi nợ bất cứ thành viên công ty nào hoặc
một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn và gọi là thành viên nhận vốn, còn
các thành viên khác chịu trách nhiệm hữu hạn và gọi là thành viên góp vốn.
• Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): Do các thành viên công ty
đóng góp. Trách nhiệm tài sản của các thành viên công ty là hữu hạn trong
phần vốn góp của mình. Sở hữu trong công ty TNHH cũng tương ứng với
phần vốn góp của các thành viên.
• Công ty cổ phần: Do các cổ đông đóng góp khi thành lập công ty hoặc

thuộc vào thị trường lúc phát hành và mức tín nhiệm của công ty. Sau khi
phát hành sự thay đổi của thị trường sẽ làm cho giá của chứng khoán thay đổi.
Trái phiếu là hình thức của chứng khoán nợ, nó là văn bản xác nhận món
nợ của công ty với điều khoản về trả lãi và trả gốc.
+ Vay dài hạn ngân hàng
Là một phương thức tài trợ của ngân hàng cho doanh nghiệp với thời
gian cho vay từ một năm trở lên. Ở các nước có thị trường chứng khoán chưa
phát triển thì đây là phương thức tài trợ dài hạn rất quan trọng cho sự phát
triển của doanh nghiệp.
Vay dài hạn thường được dựa trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa ngân hàng
với doanh nghiệp với các điều khoản như:
- Tổng số tiền cho vay và thời hạn vay.
- Lãi suất cho vay: cố định hay thay đổi.
- Phí cam kết tính trên số tiền đã ký nhưng chưa rút vốn; các loại phí
khác như tư vấn, hành chính.
- Tài sản thế chấp hay bảo lãnh.
- Kế hoạch trả nợ gốc và lãi: thời gian ân hạn và định kỳ trả nợ cũng
như số tiền trả gốc và lãi.
- Các điều khoản ràng buộc trách nhiệm khác giữa hai bên …
Đồ án tốt nghiệp
9
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
Vay dài hạn là phương thức tài trợ vững chắc cho mở rộng tài sản cố
định của doanh nghiệp. Tuy vậy, nó luôn bị giới hạn bởi tỷ lệ nợ/vốn chủ mà
ngân hàng đặt ra và là nguy cơ của sự phá sản nếu tỷ lệ nợ quá cao do rủi ro
của doanh nghiệp cao cũng như gánh nặng chi phí lãi.
+ Thuê thiết bị
Thuê thiết bị là một phương thức phổ biến tạo vốn cho doanh nghiệp.
Thuê thiết bị được hiểu là hợp đồng giữa người đi thuê và người cho thuê các

+ Nếu người thuê không đủ tiền mặt để mua tài sản, người bán từ chối
cung cấp tín dụng dài hạn và không thể vay ngân hàng thì thuê tài chính là
cách tạo vốn tốt nhất.
+ Ngay khi có thể vay ngân hàng thì sự cạnh tranh của công ty cho thuê
tài chính có thể làm cho chi phí thuê (lãi suất ) thấp hơn lãi ngân hàng.
- Mua trả góp: Là một phương thức tạo nguồn tài chính trên cơ sở mua
trả chậm thiết bị từ nhà cung cấp và trả tiền định kỳ với gốc và lãi là những
khoản tiền bằng nhau.
Mua trả góp tương tự như thuê thiết bị trừ quyền sở hữu tài sản sẽ thuộc
hẳn về người mua từ khi trả hết khoản cuối cùng, nếu không trả hết nợ người
mua sẽ không bao giờ sở hữu được tài sản.
+ Nguồn vốn ngắn hạn: Có nhiều nguồn vốn ngắn hạn khác nhau.
Nhưng có thể nhóm lại thành ba loại chính.
- Các khoản nợ trích trước
Các doanh nghiệp thường trả lương nhân viên theo tuần, hai tuần hay
tháng.Vì thế trên bảng cân đối tài sản ta thấy các khoản nợ trích trước. Tương
tự doanh nghiệp có thể phát sinh các khoản nợ thuế, bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế …
Các khoản nợ này sẽ tăng lên tự động tương ứng với mở rộng kinh
doanh của doanh nghiệp. Các khoản nợ này không phải chịu chi phí trừ khi
doanh nghiệp nợ nần quá lâu và luật pháp quy định tính lãi phạt. Thời hạn của
các khoản nợ này thường theo thông lệ của lĩnh vực kinh doanh hoặc do luật
pháp quy định. Vì vậy, doanh nghiệp thường tận dụng mọi khả năng có thể để
sử dụng nguồn này.
Đồ án tốt nghiệp
11
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
- Tín dụng nhà cung cấp
Doanh nghiệp thường mua các yếu tố đầu vào cho SXKD trên cơ sở ký

Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
Chi phí vay ngắn hạn ngân hàng
Chi phí vay khác nhau đối với từng loại vay, thời hạn vay, thời điểm vay
và cả đối tượng vay. Nhưng chi phí vay dựa trên nguyên tắc rủi ro cao hơn thì
lãi suất lớn hơn, thời hạn dài hơn lãi suất cũng lớn hơn, khoản vay nhỏ hơn lãi
suất cũng cao hơn do các chi phí hành chính cố định. Lãi suất là phần cơ bản
của chi phí vay và các ngân hàng thường dựa trên lãi suất thị trường liên ngân
hàng hoặc lãi suất cho vay đối với các tập đoàn lớn có tình hình tài chính
mạnh. Đây là mức lãi suất thấp nhất trên đó ngân hàng sẽ tính ra mức lãi suất
cho từng trường hợp cụ thể.
Lưu ý: các nguồn vốn trên có thể nhóm thành nguồn vốn dài hạn và
nguồn vốn ngắn hạn theo cách sau:
1-Nguồn vốn dài hạn:
+ Nguồn vốn chủ sở hữu.
+ Phát hành trái phiếu dài hạn ( chứng khoán nợ ).
+ Vay dài hạn ngân hàng.
+ Thuê thiết bị.
2- Nguồn vốn ngắn hạn:
+ Các khoản nợ trích trước.
+ Tín dụng nhà cung cấp.
+ Vay ngắn hạn ngân hàng.
Tóm lại, chúng ta đã trình bày khái niệm và phân loại nguồn vốn; phân
tích một số nguồn vốn kinh doanh. Trong phân loại nguồn vốn chúng ta đã
phân tích kỹ hai vấn đề rất căn bản là rủi ro và lãi suất liên quan đến từng lại
nguồn vốn: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay; nguồn vốn dài hạn và
nguồn vốn ngắn hạn. Trong phân tích cụ thể tính chất của từng nguồn vốn
chúng ta đều sắp xếp nó vào từng loại để có thể thấy được tính chất rủi ro và
mức lãi suất của từng nguồn. Đồng thời chúng ta cũng đề cập đặc điểm riêng
của từng nguồn vốn.
Đồ án tốt nghiệp

mô vốn được huy động để tài trợ cho cùng một giá trị tài sản nhưng tỷ lệ các
nguồn vốn khác nhau thì chi phí trung bình của vốn cũng khác nhau. (khái
Đồ án tốt nghiệp
14
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
niệm chi phí vốn sẽ được đề cập chi tiết ở phần sau ). Mà chi phí vốn ảnh
hưởng rất lớn đến quyết định dự toán (kế hoạch hóa ) nguồn vốn.
Quản lý nguồn vốn còn ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của công ty. Do
vậy, chính quản lý nguồn vốn lại ảnh hưởng trở lại đến chi phí của từng
nguồn vốn ( lãi suất của các nguồn vốn ) vì rủi ro và lãi suất có mối quan hệ
tương quan thuận rất cao, do vậy ảnh hưởng đến chi phí vốn trung bình.
Tóm lại, cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động vốn
của doanh nghiệp cũng như chi phí của từng loại vốn huy động và chi phí vốn
trung bình. Mà chi phí vốn trung bình là nhân tố tác động trực tiếp đến giá trị
kinh tế gia tăng (EVA) – nhân tố quyết định giá cả cổ phiếu hay giá trị doanh
nghiệp. Mà tối đa hóa giá trị doanh nghiệp luôn là mục tiêu cao nhất của chủ
sở hữu doanh nghiệp.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nguồn vốn
Để quyết định cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, nhà quản lý tài chính
cần hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng và phân biệt đâu là các nhân tố khách quan
chi phối quyết định cơ cấu vốn, đâu là các nhân tố trong tầm kiểm soát. Từ
đó, xây dựng được cơ cấu nguồn vốn nguồn vốn tối ưu và có tính khả thi cao.
- Rủi ro kinh doanh: Rủi ro kinh doanh là rủi ro cố hữu liên quan đến
tài sản của doanh nghiệp khi doanh nghiệp không sử dụng nợ. Mỗi donh
nghiệp phải chịu hai loại rủi ro bao gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính (
là rủi ro tăng thêm ngoài rủi ro kinh doanh do sử dụng nợ ). Tổng hai loại rủi
ro này là xác định nên khi rủi ro này cao thì rủi ro tài chính phải thấp. Mà
muốn rủi ro tài chính thấp thì tỷ lệ nợ phải thấp. Như vậy rủi ro kinh doanh có
quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.

- Khả năng linh hoạt tài chính hay khả năng huy động vốn khi
những điều kiện thay đổi
Nhà quản lý tài chính hiểu rằng khả năng huy động vốn tốt sẽ rất cần
thiết cho ổn định của doanh nghiệp. Ổn định là cơ sở cho thành công về mặt
dài hạn của doanh nghiệp. Nhà quản lý tài chính cũng hiểu rằng tiền tệ bị thắt
chặt hoặc khi doanh nghiệp trải qua thời kỳ khó khăn thì người cho vay
thường ưu ái với các doanh nghiệp có bảng cân đối tài sản tốt. Vì vậy, khi dự
đoán sự gia tăng nhu cầu vốn tương lai hay nhìn nhận được những hậu quả
Đồ án tốt nghiệp
16
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
của sự thiếu vốn mà doanh nghiệp có thể gặp phải thì nhà quản lý tài chính
phải đảm bảo doanh nghiệp có bảng cân đối tài sản tốt với cơ cấu nguồn vốn
có tỷ trọng nợ thấp đảm bảo khả năng linh hoạt tài chính khi cần huy động
thêm vốn vay cho các dự án phát triển hay khả năng chống đỡ những khó
khăn thời kỳ khủng hoảng.
1.3. Quản lý nguồn vốn tối ưu của doanh nghiệp
1.3.1. Khái niệm cơ cấu nguồn vốn tối ưu
Quản lý nguồn vốn tối ưu là quản lý nguồn vốn làm cân bằng rủi ro và
lãi suất làm cho chi phí trung bình vốn thấp nhất và tối đa hóa giá trị doanh
nghiệp.
Quản lý nguồn vốn tối ưu là quản lý nguồn vốn thỏa mãn tiêu chí sau:
+ Rủi ro thấp nhất trên hai mặt.
- Rủi ro kinh doanh: Rủi ro kinh doanh là sự không chắc chắn về khả
năng hoàn vốn trên tổng tài sản đầu tư khi không sử dụng nợ. Đó là rủi ro
luôn tồn tại gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp, có kinh doanh thì luôn
có rủi ro.
- Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính là rủi ro tăng thêm đối với doanh
nghiệp do sử dụng nợ tài trợ cho tài sản. Khi vay nợ doanh nghiệp phải trả lãi

được trình bày ở nội dung khái niệm cơ cấu nguồn vốn tối ưu ở trên.
1.3.2. Quản lý nguồn vốn tối ưu với mức độ rủi ro
Khái niệm về rủi ro
Một cách chung nhất, rủi ro là khả năng một sự kiện nào đó ngoài ý
muốn ( không tốt ) xảy ra.
Rủi ro là một khái niệm rất rộng. Tuy vậy, chúng ta chỉ quan tâm đến
khái niệm này trong phạm vi tài chính và rủi ro được hiểu là khả năng một
khoản đầu tư không đem lại tỷ lệ hoàn vốn mong đợi.
Đo lường rủi ro: Trong xác xuất và thống kê người ta sử dụng khái
niệm xác xuất để đo lường khả năng của một biến cố nào đó xảy ra hoặc
không xảy ra và tỷ lệ % là đơn vị để xác định xác xuất ( xác xuất của một biến
cố luôn trong khoảng 0:1).
Phân loại rủi ro: Rủi ro được phân loại theo nhiều cách tùy theo mục
đích nghiên cứu. Căn cứ vào việc sử dụng nợ của doanh nghiệp rủi ro chia ra:
Đồ án tốt nghiệp
18
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
- Rủi ro kinh doanh: là rủi ro liên quan đến tài sản của doanh nghiệp
khi không sử dụng nợ. Đó là khả năng tài sản đã đầu tư không đem lại tỷ lệ
hoàn vốn trong tương lai.
- Rủi ro tài chính: là rủi ro tăng thêm ngoài rủi ro kinh doanh do việc
sử dụng nợ đem lại. Đó là khả năng tài sản đã đầu tư không đem lại tỷ lệ hoàn
vốn trong tương lai do nguyên nhân sử dụng nợ.
Một doanh nghiệp luôn có rủi ro kinh doanh nhưng không có rủi ro tài
chính nếu doanh nghiệp đó tài trợ 100% tài sản bằng vốn chủ sở hữu.
a. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp
* Sự thay đổi về hàng hóa, dịch vụ: lượng cầu càng ổn định thì rủi ro
kinh doanh càng thấp.
* Sự thay đổi giá cả hàng hóa, dịch vụ: mặt bằng giá cả hàng hóa, dịch

doanh thu cũng có thể dẫn đến sự sụt giảm lớn của EBIT do vậy rủi ro kinh
doanh rất cao. Như vậy, sự thay đổi của doanh thu sẽ phóng đại sự thay đổi
của EBIT.
b.Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp
Khác với rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính chỉ phụ thuộc vào nhân tố
duy nhất là việc sử dụng nợ vay. Doanh nghiệp sử dụng nợ vay sẽ phải trả
một khoản chi phí lãi vay cố định không phụ thuộc vào hiệu quả của doanh
nghiệp. Nếu tỷ lệ nợ vay càng cao thì tính không chắc của ROE cao, rủi ro tài
chính cao và ngược lại. Doanh thu giảm xuống một lượng nhỏ cũng có thể
dẫn đến sự sụt giảm lớn của ROE và EPS. Như vậy sự thay đổi của doanh thu
sẽ phóng đại sự thay đổi của ROE và EPS.
Doanh nghiệp khi quyết định lựa chọn phương án tài trợ thường tính
toán hai khả năng (1) sử dụng nợ ở mức cao với chi phí lãi cố định lớn nhưng
đánh đổi lấy cơ hội có tỷ suất hoàn vốn cao tuy không chắc chắn ( trong
trường hợp này nợ vay được coi là đòn bảy tài chính để khuếch đại tỷ suất
hoàn vốn ) hoặc (2) tài trợ bằng vốn chủ là chính với chi phí lãi cố định thấp
đánh đổi lấy cơ hội có tỷ suất hoàn vốn thấp nhưng chắc chắn. Điều đó có
nghĩa khi doanh nghiệp chấp nhận rủi ro tài chính cao do chi phí lãi cố định
đem lại cũng có nghĩa mong đợi sự đền bù xứng đáng về tỷ suất hoàn vốn cao
hơn. Như vậy, doanh nghiệp luôn phải tính toán về sự đánh đổi giữa rủi ro và
lợi nhuận.
1.3.3. Quản lý nguồn vốn tối ưu với chi phí vốn
a. Khái niệm về chi phí vốn và các nhân tố ảnh hưởng
Nguồn vốn là một yếu tố không thể thiếu để SXKD và cũng như các
nguồn lực tài nguyên, lao động, đất đai. Nguồn vốn là yếu tố khan hiếm và có
chi phí khi sử dụng nó. Chi phí nguồn vốn ( gọi tắt là chi phí vốn ) chính là
giá cả của nguồn vốn thể hiện bằng lãi suất của khoản đầu tư hay đi vay.
Chi phí vốn là chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh được toàn bộ tình hình
Đồ án tốt nghiệp
20

vay sau thuế tính bằng lãi suất vay – lãi suất vay x thuế suất ( phần tiết kiệm
Đồ án tốt nghiệp
21
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
do thuế ), suy ra chi phí nợ vay sau thuế = Kd ( 1- t ). Như vậy, thuế suất càng
cao thì càng khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nợ vì khi đó chi phí nợ vay
sau thuế càng thấp.
* Chi phí vốn góp và lợi nhuận giữ lại
Chi phí vốn góp chính là tỷ lệ lãi suất mong đợi của nhà đầu tư trên số
vốn góp. Khi bỏ vốn đầu tư, nhà đầu tư đã mất đi chi phí cơ hội là lãi suất mà
khoản tiền đó chắc chắn đem lại khi mua trái phiếu chính phủ hoặc gửi ngân
hàng. Do vậy, tỷ lệ lãi suất mong đợi chính là sự đền bù chính đáng cho chi
phí cơ hội đó và phần thưởng cho sự mạo hiểm khi bỏ tiền vào SXKD.
Lợi nhuận giữ lại là phần lợi nhuận còn lại để đầu tư sau khi chia cổ tức
cho cổ đông, nhà đầu tư. Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư không phải là khoản
đầu tư mới huy động từ bên ngoài. Nhưng vì sao khoản đầu tư này lại có chi
phí? Điều này liên quan đến nguyên tắc về chi phí cơ hội. Nhà đầu tư đáng lẽ
được chia toàn bộ lợi nhuận dưới dạng cổ tức, nhưng họ họ đã từ bỏ cơ hội
thu cổ tức ngay mà quyết định đầu tư trở lại. Do vậy, họ phải được đền bù
chính đáng trên cơ sở yêu cầu khoản đầu tư này phải đem lại tỷ lệ hoàn vốn
mong đợi trong tương lai ít nhất bằng tỷ lệ lãi suất của số vốn đã góp.
Vậy chi phí lợi nhuận giữ lại chính là tỷ lệ hoàn vốn yêu cầu của khoản
đầu tư mới từ lợi nhuận giữ lại, nó phải ít nhất bằng tỷ lệ hoàn vốn mong đợi
hiện tại của doanh nghiệp.
Có ba cách tiếp cận để tính K
• Phương pháp lãi suất trái phiếu cộng phần thưởng rủi ro:
Ks = BY + RP ( BY ( Bond Yield) ): lãi suất trái phiếu, RP (Risk
Premium): phần thưởng rủi ro thường xác định từ 3 đến 5%.
• Phương pháp mô hình tăng trưởng đều: Ks = D/P + g ( D: cổ tức, P:

mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Do vậy, để phục vụ cho dự toán vốn trong
doanh nghiệp người ta sử dụng khái niệm chi phí vốn bình quân. Chi phí vốn
bình quân: WACC = ( tỷ trọng từng loại vốn x chi phí vốn tương ứng ).
b. Chi phí vốn đối với việc xác định cơ cấu nguồn vốn tối ưu
Chi phí vốn bình quân phụ thuộc vào ( i ) chi phí của từng nguồn vốn và
( ii ) tỷ trọng tương ứng của mỗi nguồn, tức cơ cấu vốn. Một doanh nghiệp có
số tài sản và tổng nguồn vốn không đổi nhưng có các phương thức tài trợ
Đồ án tốt nghiệp
23
Lớp QTTC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status