Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VCSH : Vốn chủ sở hữu
LNTT : Lợi nhuận trước thuế
LNST : Lợi nhuận sau thuế
HTK : Hàng tồn kho
SXKD : Sản xuất kinh doanh
HSĐA : Hãng sơn Đông Á
NNH : Nợ ngắn hạn
NDH : Nợ dài hạn
Đồ án tốt nghiệp Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
BẢNG
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1. Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty cổ phần Hãng Sơn Đông Á Error:
Reference source not found
Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty Error: Reference
source not found
Sơ đồ 3: Kênh tiêu thụ trực tiếp Error: Reference source not found
Sơ đồ 4: Kênh tiêu thụ gián tiếp 1 Error: Reference source not found
Sơ đồ 5 : Kênh tiêu thụ gián tiếp 2 Error: Reference source not found
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Sự tăng trưởng của doanh thu so với lợi nhuận sau thuế Error:
Reference source not found
Biều đồ 2: Sự tăng trưởng của nguồn vốn Error: Reference source not found
Biểu đồ 3 : Tài sản và cơ cấu nguồn tài trợ Error: Reference source not found
Biểu đồ 4 : Vốn chủ sở hữu Error: Reference source not found
Đồ án tốt nghiệp
Lớp QTTC
1
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
vốn với cơ cấu hợp lý để tài chợ cho tài sản của doanh nghiệp.
1. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề xuất giải pháp và kiến nghị đổi mới công tác quản lý nguồn vốn, góp
phần ổn định tài chính và nâng cao hiệu quả SXKD tại công ty cổ phần Hãng
Sơn Đông Á .
Đồ án nghiên cứu vấn đề nguồn vốn và công tác quản lý nguồn vốn tại
công ty cổ phần Hãng Sơn Đông Á trong thời gian từ năm 2010 đến năm
2011.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đồ án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu. Trong đó, chủ yếu
là phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp tổng hợp, phân tích so sánh, sử
dụng các phương pháp của nghiệp vụ kế toán thống kê, khảo sát thực tế …
Với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé kiến thức của mình
vào những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tại doanh nghiệp,
công ty cổ phần Hãng Sơn Đông Á đang đứng trước những thách thức như
trên nên vấn đề đặt ra đối với ban lãnh đạo công ty là cần phải làm gì để giải
quyết được những vấn đề trên nhằm đưa doanh nghiệp thắng trong cạnh tranh,
đặc biệt là trong điều kiện hiện nay.
Đứng trước những thách thức đó, sau một quá trình thực tập tại công ty
cổ phần Hãng Sơn Đông Á, cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo Dương Văn
An, các cô chú, anh chị trong công ty lên em đã chọn đề tài:
“Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn của công ty cổ
phần Hãng Sơn Đông Á”
Em hi vọng rằng với bài viết này mình có thể chỉ ra được những tồn tại
trong công ty, trên cơ sở đó nhằm đưa ra những ý kiến, kiến nghị góp phần
nâng cao hơn nữa về hiệu quả sử dụng nguồn vốn tại công ty.
3. Kết cấu của đồ án
1.1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn
1.1.1 Khái niệm nguồn vốn
Nguồn vốn là nguồn gốc hình thành giá trị tài sản của doanh nghiệp, thể
hiện các khoản nợ của doanh nghiệp đối với chủ nợ và chủ sở hữu.
Theo kinh tế học vi mô thì một quá trình sản xuất bao gồm các yếu tố
đầu vào cơ bản và tối thiểu sau: Đất đai, lao động và nguồn vật chất với các
ký hiệu tương ứng là L, Ld, K. K ở đây chính là các nguồn lực vật chất như
máy móc, nguyên liệu, nhiên liệu… Khi quan sát trực quan ta có thể thấy hình
thái vật chất rõ ràng của K. Nhưng xét trên khía cạnh quản lý tài chính thì ta
còn quan tâm nguồn gốc của K. Là một nguồn lực khan hiếm, K luôn có giá
trị và giá cả như các loại hàng hoá khác và khi mua nó thì người ta cần tiền và
khi nói đến tiền thì phải nghĩ ngay đến nguồn tài trợ hay nguồn vốn. Vậy
nguồn vốn là nguồn hình thành của tư bản nói lên phương thức tài trợ cho tư
bản.
Xét một bảng cân đối tài sản, nguồn vốn là các khoản mục nằm bên phải
bảng cân đối tài sản thể hiện các khoản nợ (đối với chủ nợ và chủ sở hữu) mà
doanh nghiệp sử dụng để hình thành các tài sản. Tổng nguồn vốn tức tổng các
khoản nợ bao giờ cũng bằng nhau. Bất kỳ sự tăng lên nào của tài sản đều phải
được tài trợ qua sự tăng lên của một hay nhiều yếu tố của nguồn vốn. Theo
cách ghi chép kế toán thì nguồn vốn được ghi chép thành các khoản mục như:
Vốn góp chủ sở hữu (vốn góp hay cổ phiếu thường); lợi nhuận giữ lại; các
khoản nợ dài và ngắn hạn; các khoản phải trả và nợ trích trước…Vậy nguồn
vốn là các khoản nợ (đối với chủ nợ và chủ sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng
để hình thành các tài sản. Nó nói lên nguồn gốc của giá trị tài sản.
Đồ án tốt nghiệp
4
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
1.1.2. Phân loại nguồn vốn của doanh nghiệp
1.1.2.1. Phân loại nguồn vốn theo thời hạn
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
Đặc điểm: Nguồn vốn CSH có thời hạn không xác định. Chỉ khi doanh
nghiệp hết thời hạn hoạt động hay phá sản thì chủ sở hữu mới có cơ hội lấy lại
phần vốn góp của mình.
Trong các loại nguồn vốn của doanh nghiệp thì rủi ro đối với vốn CSH là
cao nhất do CSH chỉ được nhận lợi tức nếu doanh nghiệp có đủ khả năng
trang trải tất cả các chi phí kể cả lãi vay và thuế thu nhập, đồng thời khi doanh
nghiệp phá sản thì CSH là người cuối cùng nhận lại vốn góp. Tuy vậy, cũng
giống như vay nợ vốn CSH có thể làm giảm rủi ro tài chính cho doanh nghiệp
nếu được cơ cấu tối ưu vì nó là cơ sở cho quyết định tài trợ của các bên cho
vay tránh các chủ nợ đồng loạt rút vốn do tỷ trọng vốn chủ không đảm bảo an
toàn.
Xét trên một khía cạnh khác thì vốn CSH có tính hai mặt: Một mặt làm
thu hẹp tỷ suất lợi nhuận nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả. Các dự án đầu tư
đem lại tỷ lệ hoàn vốn cao hơn chi phí lãi vay của thị trường; đáng lẽ doanh
nghiệp nên đi vay và chịu chi phí vốn thấp nhưng doanh nghiệp lại gọi vốn
góp và lợi nhuận bị chia sẻ cho các CSH góp vốn. Ảnh hưởng đến quyền lợi
của các CSH cũ. Mặt khác, vay nợ có thể làm cho thua lỗ giảm đi tránh nguy
cơ mất vốn phá sản nếu doanh nghiệp đang thua lỗ hoặc lợi nhuận thấp vì trút
được gánh nặng chi phí lãi.
Vốn CSH có chi phí sử dụng cao hơn so với vay nợ vì tính rủi ro cho
CSH cao hơn đối với chủ nợ trên cả hai mặt lợi tức và thu hồi vốn.
• Nguồn vốn vay: Nguồn vốn vay không thuộc sở hữu của CSH mà do
chiếm dụng hoặc đi vay dưới hình thức chiếm dụng vốn của người bán, phát
hành trái phiếu, vay ngân hàng…
Đặc điểm: Nguồn vốn vay có thời hạn rõ ràng. Trên cơ sở thời hạn có
thể chia ra thành vốn vay dài hạn và vốn vay ngắn hạn.
Nguồn vốn vay làm giảm rủi ro của CSH vì khi doanh nghiệp phá sản rủi
ro mất vốn được chia sẻ cùng các chủ nợ, chủ doanh nghiệp không phải chịu
một mình. Tuy vậy, nguồn vốn vay làm tăng rủi ro đối với doanh nghiệp vì
nguồn vốn này hình thành trên những cơ sở khác nhau.
• Doanh nghiệp tư nhân: Do chủ sở hữu duy nhất góp. Tuy vậy, trách
nhiệm lại là vô hạn, tức chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm tài sản bằng
Đồ án tốt nghiệp
7
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
toàn bộ tài sản của cá nhân mình chứ không dừng lại ở phần vốn góp trong
doanh nghiệp.
• Công ty hợp danh: Do các thành viên tham gia thành lập công ty đóng
góp. Sở hữu của mỗi thành viên trong công ty sẽ tương ứng với phần vốn góp.
Trách nhiệm tài sản trong công ty hợp danh có thể là vô hạn với mọi thành
viên công ty, tức chủ nợ. Có thể đòi nợ bất cứ thành viên công ty nào hoặc
một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn và gọi là thành viên nhận vốn, còn
các thành viên khác chịu trách nhiệm hữu hạn và gọi là thành viên góp vốn.
• Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): Do các thành viên công ty
đóng góp. Trách nhiệm tài sản của các thành viên công ty là hữu hạn trong
phần vốn góp của mình. Sở hữu trong công ty TNHH cũng tương ứng với
phần vốn góp của các thành viên.
• Công ty cổ phần: Do các cổ đông đóng góp khi thành lập công ty hoặc
trong quá trình hoạt động. Đặc điểm của công ty cổ phần là vốn CSH được
chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Mỗi cổ phần biểu hiện thông
qua một tờ giấy chứng nhận gọi là cổ phiếu. Hiện nay cổ phiếu ghi sổ phổ
biến ở các nước phát triển. Người nắm giữ cổ phiếu do tham gia góp vốn hoặc
mua lại gọi là cổ đông. Cũng giống như công ty TNHH cổ đông trong công ty
cổ phần chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong số cổ phần của mình.
+ Lợi nhuận giữ lại
Là phần còn lại của lợi nhuận sau thuế sau khi chi trả cổ tức hay lãi cho
các CSH. Đây là một trong các nguồn tài trợ nội bộ quan trọng nhất vì nó là
nguồn tài trợ cơ bản, lâu dài và vững chắc. Về thực chất đây là tái đầu tư lợi
với doanh nghiệp với các điều khoản như:
- Tổng số tiền cho vay và thời hạn vay.
- Lãi suất cho vay: cố định hay thay đổi.
- Phí cam kết tính trên số tiền đã ký nhưng chưa rút vốn; các loại phí
khác như tư vấn, hành chính.
- Tài sản thế chấp hay bảo lãnh.
- Kế hoạch trả nợ gốc và lãi: thời gian ân hạn và định kỳ trả nợ cũng
như số tiền trả gốc và lãi.
- Các điều khoản ràng buộc trách nhiệm khác giữa hai bên …
Đồ án tốt nghiệp
9
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
Vay dài hạn là phương thức tài trợ vững chắc cho mở rộng tài sản cố
định của doanh nghiệp. Tuy vậy, nó luôn bị giới hạn bởi tỷ lệ nợ/vốn chủ mà
ngân hàng đặt ra và là nguy cơ của sự phá sản nếu tỷ lệ nợ quá cao do rủi ro
của doanh nghiệp cao cũng như gánh nặng chi phí lãi.
+ Thuê thiết bị
Thuê thiết bị là một phương thức phổ biến tạo vốn cho doanh nghiệp.
Thuê thiết bị được hiểu là hợp đồng giữa người đi thuê và người cho thuê các
về việc thuê một tài sản cụ thể do người đi thuê chọn từ nhà cung cấp và
người cho thuê giữ quyền sở hữu. Người đi thuê có quyền sử dụng và phải trả
tiền thuê.
Các loại thuê thiết bị
- Thuê hoạt động: Thuê hoạt động có thời gian thuê ngắn trong đó
người cho thuê cung cấp thiết bị cho người đi thuê. Người cho thuê có trách
nhiệm bảo trì, sửa chữa thiết bị trong thời gian thuê. Hết thời hạn thuê người
cho thuê có thể cho người khác thuê hoặc bán tài sản.
-Thuê tài chính: Là thỏa thuận giữa người cho thuê và người đi thuê mà
thời hạn kéo dài gần hết hoặc toàn bộ thời gian sử dụng của tài sản.
mua sẽ không bao giờ sở hữu được tài sản.
+ Nguồn vốn ngắn hạn: Có nhiều nguồn vốn ngắn hạn khác nhau.
Nhưng có thể nhóm lại thành ba loại chính.
- Các khoản nợ trích trước
Các doanh nghiệp thường trả lương nhân viên theo tuần, hai tuần hay
tháng.Vì thế trên bảng cân đối tài sản ta thấy các khoản nợ trích trước. Tương
tự doanh nghiệp có thể phát sinh các khoản nợ thuế, bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế …
Các khoản nợ này sẽ tăng lên tự động tương ứng với mở rộng kinh
doanh của doanh nghiệp. Các khoản nợ này không phải chịu chi phí trừ khi
doanh nghiệp nợ nần quá lâu và luật pháp quy định tính lãi phạt. Thời hạn của
các khoản nợ này thường theo thông lệ của lĩnh vực kinh doanh hoặc do luật
pháp quy định. Vì vậy, doanh nghiệp thường tận dụng mọi khả năng có thể để
sử dụng nguồn này.
Đồ án tốt nghiệp
11
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
- Tín dụng nhà cung cấp
Doanh nghiệp thường mua các yếu tố đầu vào cho SXKD trên cơ sở ký
kết hợp đồng với nhà cung cấp. Các nhà cung cấp này đồng thời là nhà cung
cấp tín dụng thương mại. Các khoản nợ này được ghi nhận như các khoản
phải trả nhà cung cấp. Đây là nguồn vốn ngắn hạn quan trọng của doanh
nghiệp với tỷ trọng lớn trong tổng nợ ngắn hạn. Đối với các doanh nghiệp nhỏ
thì nguồn này chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong tổng nợ ngắn hạn vì doanh
nghiệp nhỏ rất khó hội đủ điều kiện vay vốn ngân hàng. Tín dụng nhà cung
cấp là nguồn tín dụng tự phát từ các giao dịch mua bán thương mại. Quy mô
nguồn tín dụng này phụ thuộc vào hai yếu tố và tăng lên khi ít nhất một trong
hai yếu tố này tăng: lượng mua hàng hóa, nguyên liệu và thời hạn tín dụng.
Nguồn vốn này thường không có chi phí trừ khi hóa đơn của nhà cung
Lưu ý: các nguồn vốn trên có thể nhóm thành nguồn vốn dài hạn và
nguồn vốn ngắn hạn theo cách sau:
1-Nguồn vốn dài hạn:
+ Nguồn vốn chủ sở hữu.
+ Phát hành trái phiếu dài hạn ( chứng khoán nợ ).
+ Vay dài hạn ngân hàng.
+ Thuê thiết bị.
2- Nguồn vốn ngắn hạn:
+ Các khoản nợ trích trước.
+ Tín dụng nhà cung cấp.
+ Vay ngắn hạn ngân hàng.
Tóm lại, chúng ta đã trình bày khái niệm và phân loại nguồn vốn; phân
tích một số nguồn vốn kinh doanh. Trong phân loại nguồn vốn chúng ta đã
phân tích kỹ hai vấn đề rất căn bản là rủi ro và lãi suất liên quan đến từng lại
nguồn vốn: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay; nguồn vốn dài hạn và
nguồn vốn ngắn hạn. Trong phân tích cụ thể tính chất của từng nguồn vốn
chúng ta đều sắp xếp nó vào từng loại để có thể thấy được tính chất rủi ro và
mức lãi suất của từng nguồn. Đồng thời chúng ta cũng đề cập đặc điểm riêng
của từng nguồn vốn.
Đồ án tốt nghiệp
13
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
1.2. Quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp
Ở phần này chúng ta tiếp tục phân tích và đi sâu về nguồn vốn nhưng ở
góc độ khác là xem xét các nguồn vốn như là những phần không thể tách rời
trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Tức là chúng ta xem xét các nguồn
vốn trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và ảnh hưởng của cơ cấu
nguồn vốn với mục tiêu tài chính của doanh nghiệp.
1.1.2 Khái niệm quản lý nguồn vốn
nguồn vốn ( lãi suất của các nguồn vốn ) vì rủi ro và lãi suất có mối quan hệ
tương quan thuận rất cao, do vậy ảnh hưởng đến chi phí vốn trung bình.
Tóm lại, cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động vốn
của doanh nghiệp cũng như chi phí của từng loại vốn huy động và chi phí vốn
trung bình. Mà chi phí vốn trung bình là nhân tố tác động trực tiếp đến giá trị
kinh tế gia tăng (EVA) – nhân tố quyết định giá cả cổ phiếu hay giá trị doanh
nghiệp. Mà tối đa hóa giá trị doanh nghiệp luôn là mục tiêu cao nhất của chủ
sở hữu doanh nghiệp.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nguồn vốn
Để quyết định cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, nhà quản lý tài chính
cần hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng và phân biệt đâu là các nhân tố khách quan
chi phối quyết định cơ cấu vốn, đâu là các nhân tố trong tầm kiểm soát. Từ
đó, xây dựng được cơ cấu nguồn vốn nguồn vốn tối ưu và có tính khả thi cao.
- Rủi ro kinh doanh: Rủi ro kinh doanh là rủi ro cố hữu liên quan đến
tài sản của doanh nghiệp khi doanh nghiệp không sử dụng nợ. Mỗi donh
nghiệp phải chịu hai loại rủi ro bao gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính (
là rủi ro tăng thêm ngoài rủi ro kinh doanh do sử dụng nợ ). Tổng hai loại rủi
ro này là xác định nên khi rủi ro này cao thì rủi ro tài chính phải thấp. Mà
muốn rủi ro tài chính thấp thì tỷ lệ nợ phải thấp. Như vậy rủi ro kinh doanh có
quan hệ nghịch với tỷ lệ nợ trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.
- Loại hình doanh nghiệp: Loại hình doanh nghiệp ảnh hưởng đến
quyết định cơ cấu nguồn vốn trên hai mặt pháp lý và kinh tế. Về pháp lý, luật
pháp thường quy định các hình thức huy động vốn tương ứng với từng loại
hình doanh nghiệp như chỉ các công ty cổ phần và các tổng công ty lớn mới
có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu vay nợ…Về kinh tế, loại hình doanh
Đồ án tốt nghiệp
15
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
nghiệp ở chừng mực nhất định nói lên uy tín, khả năng tài chính và mức độ
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
của sự thiếu vốn mà doanh nghiệp có thể gặp phải thì nhà quản lý tài chính
phải đảm bảo doanh nghiệp có bảng cân đối tài sản tốt với cơ cấu nguồn vốn
có tỷ trọng nợ thấp đảm bảo khả năng linh hoạt tài chính khi cần huy động
thêm vốn vay cho các dự án phát triển hay khả năng chống đỡ những khó
khăn thời kỳ khủng hoảng.
1.3. Quản lý nguồn vốn tối ưu của doanh nghiệp
1.3.1. Khái niệm cơ cấu nguồn vốn tối ưu
Quản lý nguồn vốn tối ưu là quản lý nguồn vốn làm cân bằng rủi ro và
lãi suất làm cho chi phí trung bình vốn thấp nhất và tối đa hóa giá trị doanh
nghiệp.
Quản lý nguồn vốn tối ưu là quản lý nguồn vốn thỏa mãn tiêu chí sau:
+ Rủi ro thấp nhất trên hai mặt.
- Rủi ro kinh doanh: Rủi ro kinh doanh là sự không chắc chắn về khả
năng hoàn vốn trên tổng tài sản đầu tư khi không sử dụng nợ. Đó là rủi ro
luôn tồn tại gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp, có kinh doanh thì luôn
có rủi ro.
- Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính là rủi ro tăng thêm đối với doanh
nghiệp do sử dụng nợ tài trợ cho tài sản. Khi vay nợ doanh nghiệp phải trả lãi
vay cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh ngoài các khoản chi phí
thông thường. Chủ doanh nghiệp chỉ được hưởng lợi nhuận khi số lãi thu
được sau khi trừ các khoản chi phí không bao gồm lãi vay lớn hơn lãi vay.
Như vậy, tính chất không chắc chắn của lợi nhuận tăng lên.
Rủi ro kinh doanh và Rủi ro tài chính tạo thành rủi ro chung của doanh
nghiệp. Rủi ro càng thấp thì giá trị của doanh nghiệp càng cao. Khi các yếu tố
khác không đổi, rủi ro thấp nhất thì giá trị doanh nghiệp sẽ cao nhất.
+ Chi phí thấp nhất: Vay nợ cao thường có xu hướng làm chi phí vốn
giảm xuống vì nợ vay thường có chi phí thực thấp nhất. Theo nguyên tắc
chung khi các yếu tố khác không đổi thì chi phí vốn thấp nhất cũng sẽ làm giá
không xảy ra và tỷ lệ % là đơn vị để xác định xác xuất ( xác xuất của một biến
cố luôn trong khoảng 0:1).
Phân loại rủi ro: Rủi ro được phân loại theo nhiều cách tùy theo mục
đích nghiên cứu. Căn cứ vào việc sử dụng nợ của doanh nghiệp rủi ro chia ra:
Đồ án tốt nghiệp
18
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
- Rủi ro kinh doanh: là rủi ro liên quan đến tài sản của doanh nghiệp khi
không sử dụng nợ. Đó là khả năng tài sản đã đầu tư không đem lại tỷ lệ hoàn
vốn trong tương lai.
- Rủi ro tài chính: là rủi ro tăng thêm ngoài rủi ro kinh doanh do việc sử
dụng nợ đem lại. Đó là khả năng tài sản đã đầu tư không đem lại tỷ lệ hoàn
vốn trong tương lai do nguyên nhân sử dụng nợ.
Một doanh nghiệp luôn có rủi ro kinh doanh nhưng không có rủi ro tài
chính nếu doanh nghiệp đó tài trợ 100% tài sản bằng vốn chủ sở hữu.
1.3.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh của doanh
nghiệp
* Sự thay đổi về hàng hóa, dịch vụ: lượng cầu càng ổn định thì rủi ro
kinh doanh càng thấp.
* Sự thay đổi giá cả hàng hóa, dịch vụ: mặt bằng giá cả hàng hóa, dịch
vụ trên thị trường càng ổn định thì rủi ro càng thấp.
* Sự thay đổi giá đầu vào: giá cả đầu vào càng ít thay đổi thì rủi ro kinh
doanh cũng thấp.
* Khả năng thay đổi giá bán do thay đổi giá đầu vào: điều này phụ thuộc
vào loại sản phẩm, hàng hóa mà doanh nghiệp đang kinh doanh, phương thức
phân phối và pháp luật của nhà nước. Nếu doanh nghiệp không khó khăn lắm
trong việc thay đổi giá ( lượng cầu ít co giãn so với giá ) thì rủi ro kinh doanh
cũng thấp.
* Chi phí vốn cố định của doanh nghiệp: nếu mức S chi phí cố định cao,
chính cao và ngược lại. Doanh thu giảm xuống một lượng nhỏ cũng có thể
dẫn đến sự sụt giảm lớn của ROE và EPS. Như vậy sự thay đổi của doanh thu
sẽ phóng đại sự thay đổi của ROE và EPS.
Doanh nghiệp khi quyết định lựa chọn phương án tài trợ thường tính
toán hai khả năng (1) sử dụng nợ ở mức cao với chi phí lãi cố định lớn nhưng
đánh đổi lấy cơ hội có tỷ suất hoàn vốn cao tuy không chắc chắn ( trong
trường hợp này nợ vay được coi là đòn bảy tài chính để khuếch đại tỷ suất
hoàn vốn ) hoặc (2) tài trợ bằng vốn chủ là chính với chi phí lãi cố định thấp
đánh đổi lấy cơ hội có tỷ suất hoàn vốn thấp nhưng chắc chắn. Điều đó có
nghĩa khi doanh nghiệp chấp nhận rủi ro tài chính cao do chi phí lãi cố định
đem lại cũng có nghĩa mong đợi sự đền bù xứng đáng về tỷ suất hoàn vốn cao
hơn. Như vậy, doanh nghiệp luôn phải tính toán về sự đánh đổi giữa rủi ro và
lợi nhuận.
1.3.3. Quản lý nguồn vốn tối ưu với chi phí vốn
1.3.3.1. Khái niệm về chi phí vốn và các nhân tố ảnh hưởng
Nguồn vốn là một yếu tố không thể thiếu để SXKD và cũng như các
nguồn lực tài nguyên, lao động, đất đai. Nguồn vốn là yếu tố khan hiếm và có
chi phí khi sử dụng nó. Chi phí nguồn vốn ( gọi tắt là chi phí vốn ) chính là
Đồ án tốt nghiệp
20
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
giá cả của nguồn vốn thể hiện bằng lãi suất của khoản đầu tư hay đi vay.
Chi phí vốn là chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh được toàn bộ tình hình
kinh tế, tài chính trong và ngoài doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp nó phản
ánh mức độ rủi ro đối với chủ nợ, với nhà đầu tư qua lãi suất nợ vay và lợi tức
mong đợi, đồng thời nó phản ánh chính sách tài chính về quản lý nguồn vốn
của doanh nghiệp.
Như đã phân tích ở trên nguồn vốn gồm nhiều bộ phận cấu thành. Trong
phạm vi đồ án này, chúng ta sẽ đề cập đến chi phí vốn của các nguồn vốn chủ
* Chi phí vốn góp và lợi nhuận giữ lại
Chi phí vốn góp chính là tỷ lệ lãi suất mong đợi của nhà đầu tư trên số
vốn góp. Khi bỏ vốn đầu tư, nhà đầu tư đã mất đi chi phí cơ hội là lãi suất mà
khoản tiền đó chắc chắn đem lại khi mua trái phiếu chính phủ hoặc gửi ngân
hàng. Do vậy, tỷ lệ lãi suất mong đợi chính là sự đền bù chính đáng cho chi
phí cơ hội đó và phần thưởng cho sự mạo hiểm khi bỏ tiền vào SXKD.
Lợi nhuận giữ lại là phần lợi nhuận còn lại để đầu tư sau khi chia cổ tức
cho cổ đông, nhà đầu tư. Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư không phải là khoản
đầu tư mới huy động từ bên ngoài. Nhưng vì sao khoản đầu tư này lại có chi
phí? Điều này liên quan đến nguyên tắc về chi phí cơ hội. Nhà đầu tư đáng lẽ
được chia toàn bộ lợi nhuận dưới dạng cổ tức, nhưng họ họ đã từ bỏ cơ hội
thu cổ tức ngay mà quyết định đầu tư trở lại. Do vậy, họ phải được đền bù
chính đáng trên cơ sở yêu cầu khoản đầu tư này phải đem lại tỷ lệ hoàn vốn
mong đợi trong tương lai ít nhất bằng tỷ lệ lãi suất của số vốn đã góp.
Vậy chi phí lợi nhuận giữ lại chính là tỷ lệ hoàn vốn yêu cầu của khoản
đầu tư mới từ lợi nhuận giữ lại, nó phải ít nhất bằng tỷ lệ hoàn vốn mong đợi
hiện tại của doanh nghiệp.
Có ba cách tiếp cận để tínhK
• Phương pháp lãi suất trái phiếu cộng phần thưởng rủi ro:
Ks = BY + RP ( BY ( Bond Yield) ): lãi suất trái phiếu, RP (Risk
Premium): phần thưởng rủi ro thường xác định từ 3 đến 5%.
• Phương pháp mô hình tăng trưởng đều: Ks = D/P + g ( D: cổ tức, P:
giá cổ phiếu, g: tỷ lệ tăng trưởng).
• Mô hình định giá tài sản vốn: Ks = KRF + ( KM – KRF ) x bi
Đồ án tốt nghiệp
22
Lớp QTTC
Trường ĐH BK HN Khoa Kinh tế và quản lý
Phương pháp này qua bốn giai đoạn:
+ Xác định lãi suất không rủi ro ( KRF ), thường là lãi suất trái phiếu kho