TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Giải pháp đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ HTX
dịch vụ nông nghiệp huyện Hoa Lư trong nền kinh tế thị trường
Tên sinh viên : TS. DƯƠNG VĂN HIỂU
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : KT 51A
Niên khoá : 2006 - 2010
Giảng viên hướng dẫn : TẠ THANH DUNG
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng đang là chủ trương lớn
của Đảng và Nhà nước, là ý nguyện của đông đảo quần chúng nhân dân lao động
trong xã hội nước ta, đặc biệt là khu vực nông thôn, nơi đang có đa số người dân
lao động nghèo, sản xuất nông nghiệp ít vốn không đủ khả năng tự thành lập các
doanh nghiệp riêng để tham gia kinh doanh trên thị trường, vì vậy thường bị thua
thiệt trong việc tiếp cận với sự phát triển và việc hưởng các lợi ích mang lại từ nền
kinh tế thị trường.
Chủ trương khuyến khích kinh tế tập thể đã được khẳng định tại Nghị quyết
15 Hội nghị TW lần thứ 5 khóa IX được thể chế hóa bằng Luật HTX năm 2003
(sửa đổi bổ sung Luật HTX năm 1996). Trong đó đã toát lên tinh thần cởi mở tạo
nâng cao kiến thức, kỹ năng về quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm góp
phần thúc đẩy kinh tế hộ nông dân cũng như được sắp xếp, sử dụng hợp lý của đội
ngũ cán bộ HTX dịch vụ nông nghiệp là việc làm hết sức cần thiết. Công tác đào
tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ HTX dịch vụ nông nghiệp là một giải pháp quan
trọng nhằm nâng cao hiệu quả nguồn lực lâu dài cho kinh tế nông nghiệp nói chung
và HTX nông nghiệp nói riêng.
Nằm trong thực trạng chung về tình hình HTX của cả nước, huyện Hoa Lư -
tỉnh Ninh Bình hiện cũng đang gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết những tồn
3
tại trên. Những năm qua các cấp, các ngành có liên quan trên địa bàn huyện đã
quan tâm đến công tác nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ và bố trí sử dụng sao
cho phù hợp, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của họ nhưng vẫn chưa mang lại hiệu
quả rõ rệt. Nguyên nhân chính là lãnh đạo địa phương chưa thực sự quan tâm sát
sao đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nguồn kinh phí hàng năm dành cho
đào tạo cán bộ còn ít; phương pháp đào tạo chưa hiệu quả…
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ HTX dịch vụ nông nghiệp
huyện Hoa Lư trong nền kinh tế thị trường”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phản ánh thực trạng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ HTX nông nghiệp
của huyện Hoa Lư từ đó đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh
công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ HTX nông nghiệp trên địa bàn sao
cho phù hợp với nền kinh tế thị trường.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý cho cán bộ HTX dịch vụ nông nghiệp
trong nền kinh tế thị trường.
- Phản ánh thực trạng số lượng, chất lượng cán bộ HTX và việc đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng cán bộ HTX trong quá trình phát triển HTX dịch vụ nông nghiệp
Tôn đại diện cho phía Bắc Hoa Lư, với địa hình tương đối cao. Cả 3 điểm đại diện
này đều có diện tích đất nông nghiệp lớn và các HTX hoạt động khá mạnh.
- Thời gian: số liệu lấy từ năm 2007-2009 và dự báo cho giai đoạn 2010-
2015
- Nội dung:
5
+ Thực trạng về trình độ, năng lực tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh
của cán bộ HTX nông nghiệp
+ Thăm dò nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ HTX dịch vụ
nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
+ Đề xuất một số giải pháp, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng và
sử dụng cán bộ HTX nông nghiệp cho phù hợp.
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm HTX
Theo Luật HTX của Việt Nam sửa đổi năm 2003:
- HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi
chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo
quy định của Luật HTX để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia
HTX, cùng nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- HTX nông nghiệp là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế hợp tác
trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân, các cá nhân, pháp
nhân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ
nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống của mỗi thành
viên, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc luật pháp quy định, có tư cách pháp
nhân.
2.1.1.2 Hoạt động dịch vụ trong HTX nông nghiệp
- Dịch vụ tài chính: cung ứng vốn, tín dụng
- Dịch vụ thương mại: cung ứng vật tư, nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm
7
- Dịch vụ kỹ thuật: tưới tiêu, làm đát, bảo vệ thực vật, chế biến, bảo quản…
- Dịch vụ khuyến nông: chuyển giao KHKT, đào tạo, huấn luyện…
Các dịch vụ chủ yếu mà các HTX thực hiện gồm: dịch vụ thủy nông, dịch vụ bảo
vệ thực vât, thú y, khuyến nông, cung ứng giống, điện sinh hoạt. Một số dịch vụ tuy
có thực hiện nhưng không phổ biến gồm các dịch vụ như: dịch vụ làm đất, cung
ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, bảo quản chế biến…
2.1.1.3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX
Một là, tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo
quy định của Luật HTX, tán thành điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX, xã
viên có quyền ra HTX theo quy định của Điều lệ HTX.
Hai là, dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia quản lý,
kiểm tra, giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết, thực hiện công
khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề
khác quy định trong Điều lệ HTX.
Ba là, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết định về phân phối
thu nhập.
Bốn là, hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy tinh
thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội, hợp tác
giữa các HTX trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
2.1.1.4 Tổ chức hoạt động của bộ máy quản lý HTX DVNN
Luật HTX quy định:
- Đại hội xã viên là cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy quản lý HTX.
Các HTX DVNN tổ chức Đại hội xã viên mỗi năm 1 lần hoặc tổ chức Đại hội xã
viên bất thường do Ban quản trị hoặc Ban kiểm soát triệu tập. Đại hội thông qua
chủ yếu các báo cáo:
+ Báo cáo kết quả hoạt động hàng năm, phương hướng hoạt động của năm
Phó chủ nhiệm
và ủy viên
9
Đội tiếp nhận dịch vụ
Các tổ dịch vụ
Các bộ phận giúp
việc
Đội 1
XV1…
Đội 2
XV2…
Đội 3
XV3…
Thủy
lợi
XV1.2
BVTV
XV1.2
Làm
đất
XV1.2
Vật tư
XV1.2
Kế
toán
Thủ
quỹ
Thủ
kho
Ghi chú: - Đội tiếp nhận dịch vụ: Đội trưởng do xã viên bầu ra
thay đổi phương thức lãnh đạo và quản lý kinh doanh mới lãnh đạo được tập thể
hoạt động đúng hướng và có hiệu quả.
2.1.3 Cán bộ HTX DVNN
2.1.3.1 Khái niệm:
Cán bộ HTX DVNN là những người quản trị do các xã viên HTX bầu ra
nhằm quản lý, điều hành các hoạt động của HTX. Người cán bộ HTX có vai trò đặc
biệt quan trọng, quyết định đến sự thành bại, sự phát triển của doanh nghiệp mình.
Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Mọi việc thành hay bại chủ chốt là do cán bộ”,
Người coi trọng vấn đề cán bộ, đề cao vai trò của họ theo tư tưởng của Người, cán
bộ phải là người vừa “Hồng” vừa “Chuyên”, thể hiện: “có lòng trung thành với
cách mạng; hăng hái thạo việc; liên hệ mật thiết với nhân dân; dám chịu trách
nhiệm, quyết đoán; biết người, biết việc”. Cán bộ HTX:
- Giữ vai trò là người chủ chốt trong các công việc: là người đứng đầu của
HTX hoặc các bộ phận trong HTX, họ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ đại diện
về mặt pháp luật và các hoạt động xã hội như ký kết hợp đồng, quyết định chi tiêu,
chủ trì các cuộc họp …
- Vai trò chỉ đạo: họ có trách nhiệm làm cho các bộ phận trong HTX thống
nhất với nhau để đạt được mục tiêu chung của HTX với chức năng cụ thể như:
hướng dẫn cấp dưới, hướng dẫn cho xã viên trong quá trình tiến hành sản xuất kinh
doanh …
- Vai trò tập hợp: xây dựng và duy trì những mối quan hệ cá nhân và tập thể
ở bên ngoài cũng như các bộ phận khác nhau ở HTX.
11
- Vai trò giám sát: người cán bộ quản lý thực hiện vai trò giám sát thông qua
các hoạt động như thường xuyên thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau. Các
thông tin này cần phải được phân tích để phát hiện ra những khó khăn và những cơ
hội, từ hiểu rõ được hoàn cảnh bên ngoài cũng như diễn biến bên trong HTX.
- Vai trò truyền đạt thông tin: người cán bộ quản lý HTX thường có nhiều
thông tin hơn cấp dưới cũng như các xã viên. Những thông tin có thể do quá trình
thực tiễn, có thông tin từ cấp trên. Một số thông tin cần truyền đạt xuống cấp dưới
- Cán bộ nghiệp vụ: kế toán, kế hoạch
• Phân loại theo cách bổ nhiệm
- Cán bộ quản lý được bầu cử
- Cán bộ quản lý được thuê
Như vậy bộ máy quản lý bảo đảm 2 khối công việc là điều hành và kiểm
soát, khối điều hành có nhiều công việc hơn nên thường cần nhiều cán bộ hơn.
Người chủ của HTX là toàn bộ xã viên. Đại hội xã viên sẽ quyết định thuê hoặc bầu
chọn cán bộ quản lý. Đa số các HTX trên thế giới đều bầu cán bộ quản lý từ các xã
viên nhưng cũng có một số nước không bầu mà thuê cán bộ quản lý từ bên ngoài ví
dụ Tây Ban Nha. Việt Nam quy định cán bộ quản lý HTX nông nghiệp phải là xã
viên và gồm các chức danh sau:
Ban quản trị quản lý và điều hành mọi hoạt động của HTX. Đại hội xã viên
bầu trực tiếp ban quản trị và chủ nhiệm. Ban quản trị và chủ nhiệm bầu phó chủ
nhiệm, chọn cử kế toán trưởng, quyết định cơ cấu tổ chức trong HTX. Trưởng các
bộ phận hoặc tổ đội do ban quản trị bổ nhiệm.
Ban kiểm soát giám sát mọi hoạt động của HTX theo điều lệ HTX và theo
pháp luật. Đại hội xã viên bầu trực tiếp ban kiểm soát. Ban kiểm soát bầu trưởng
ban kiểm soát.
Các cách phân loại trên hoàn toàn có thể áp dụng với các cán bộ quản lý HTX
của Việt Nam.
2.1.3.3 Nhiệm vụ và trách nhiệm của cán bộ HTX
- Hướng dẫn: người quản lý có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn nhằm nâng
cao kết quả thực hiện công việc của cấp dưới và của các xã viên bằng việc phân
tích những điểm mạnh và điểm yếu của cấp dưới, sau đó đào tạo, phát triển kỹ
13
năng, xây dựng kế hoạch và đặt ra mục tiêu cần đạt được của cấp dưới và của các
xã viên.
- Kế hoạch và tổ chức: xây dựng kế hoạch ngắn hạn, thực hiện dự án, xây
dựng dự thảo ngân sách, đánh giá cơ cấu tổ chức để xác định phân bổ, sử dụng tối
ưu các nguồn lực; cụ thể hoá các kế hoạch dài hạn thành những mục tiêu hoạt động
1.Ban Chủ
nhiệm HTX
- Xây dựng chiến
lược sản xuất kinh
doanh
- Xác định nhu càu của thị trường và xã viên.
- Xác định được các dự án cụ thể
- Kế hoạch hóa - Phân tích các vấn đề.
- Kế hoạch các hoạt động
- Kế hoạch thực hiện.
- Quản lý HTX - Quản lý tài chính.
- Quản lý công việc và ngồn nhân lực.
- Quản lý và thực hiện các hợp đồng
- Đánh giá và phân
tích các hoạt động
sxkd
- Xác định tiêu chuẩn đánh giá.
- Phương pháp phân tích và đánh giá
2. Kế toán
trưởng HTX
- Công việc kế toán - Theo dõi thu chi và chứng từ
- Theo dõi tình hình tài chính.
- Tổng hợp các NVKT phát sinh.
- Báo cáo kết quả hoạt
động sxkd dịch vụ
- Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
3. Ban kiểm
soát HTX
Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào
tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đạt đến một độ tuổi nhất định, có một
trình độ nhất định.
* Bồi dưỡng: là bổ túc thêm một số kiến thức cần thiết không thành hệ thống
để nâng cao thêm hiểu biết sau khi được đào tạo cơ bản, cung cấp những khiến thức
chuyên ngành mang tính ứng dụng.
Trong hoạt động của các tổ chức đều áp dụng cả đào tạo và bồi dưỡng, vì rất
nhiều vấn đề thực tiễn nảy sinh mà trong quá trình đào tạo cơ bản chưa cập nhật
được, đối với mỗi cán bộ vấn đề bồi dưỡng trở nên ngày càng thường xuyên hơn do
yêu cầu công tác đòi hỏi.
17
2.1.4.2 Đối tượng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong HTX
Quyết định số 88/2005/NĐ-CP ngày 17/02/2005 của Thủ tướng chính phủ
về một số chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển HTX đã chỉ rõ các đối tượng
cán bộ trong HTX được đào tạo, bồi dưỡng gồm:
a) Các chức danh trong Ban Quản trị, Ban Chủ nhiệm, Ban Kiểm soát, kế toán
trưởng;
b) Xã viên đang làm công việc chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ của hợp tác
xã.
2.1.4.3 Tác dụng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX DVNN
Trong thực tế hiện nay, mọi tổ chức đều rất quan tâm, chú ý đến vấn đề đào
tạo cán bộ HTX DVNN để họ có thể hoạt động tốt hơn, giúp nâng cao hiệu quả của
HTX DVNN góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn. Sử dụng cán bộ
HTX được đào tạo mang lại các lợi ích sau:
- Nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả thực hiện công việc.
Nâng cao tính ổn định và năng động, duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực.
- Tạo điều kiện cho áp dụng các tiến bộ KHKT trong công tác quản lý tạo sự
gắn bó giữa cán bộ HTX NN với các tổ chức trên địa bàn. Tạo sự thích nghi của
cán bộ HTX với công việc hiện tại và tương lai. Đáp ứng được nhu cầu và nguyện
được. Học theo chuyên đề, có giấy chứng nhận, không có bằng cấp. Phương tức
đào tạo tập trung ngắn hạn đáp ứng được nhu cầu cấp bách của thực tiễn ở cơ sở,
bổ sung thêm kiến thức cho công tác nhằm giải quyết khó khăn trước mắt. Nhược
điểm là không có bằng cấp, chỉ có giấy chứng nhận. khi xét tuyển dụng lao động,
xét lương rất hạn chế, về lâu dài phải đào tạo lại.
• Đào tạo hệ tại chức:
Là phương thức đào tạo bán tập trung dài hạn theo định kỳ với quỹ thời gian
không thay đổi nhưng được chia làm nhiều giai đoạn khác nhau. Đây là phương
thức khá phổ biến trong thời gian vừa qua, cũng có thể áp dụng trong một thời gian
nữa, khi điều kiện phát triển của chúng ta còn ở mức độ giứoi hạn. Hình thức này
có ưu điểm là học viên vừa học vừa làm, có bằng cấp hoặc chứng chỉ. Vừa đi học
vừa tham gia công tác ở địa phương không ảnh hưởng nhiều đến thời gian làm việc,
19
sinh hoạt, nhiều người theo học, vận dụng ngay được vào thực tế. Hạn chế là thời
gian học không liên tục, tính hệ thống, chất lượng thấp nếu không tổ chức tốt.
• Đào tạo ngắn hạn vừa học vừa làm:
Là loại hình đào tạo ngắn hạn bán tập trung, sau khi đi học đợc cấp chứng chỉ,
bằng cấp, vừa có kiến thức cơ bản, vừa bổ sung kịp thời các kiến thức đang cấn
trong công việc, được nhiều người tham gia, không phải tốn thời gian đi lại, giảm
bớt khó khăn trong sinh hoạt. Nhược điểm của phương thức này là nội dung
chương trình ngắn gọn, sự hiểu biết sâu rộng có giới hạn, tốn kém kinh phí, đôi khi
còn mang tính hình thức, chất lượng không cao nếu không tổ chức tốt.
Với mỗi đối tượng có thể áp dụng các hình thức đào tạo khác nhau. Đối với
cán bộ HTX NN thường áp dụng hình thức đào tạo ngắn hạn do đặc thù của đội
ngũ cán bộ HTX.
2.1.4.5 Mục tiêu đào tạo cán bộ HTX
Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX là một trong những công tác quan
trọng nhằm thực hiện đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế
khu vực HTX. Từ nay đến 2015, cần tập trung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý
và chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng sau:
nghiệp vụ, các kỹ năng về quản lý, kiến thức về thông tin thị trường, hội nhập kinh
tế quốc tế cho đội ngũ chủ nhiệm HTX.
- Tổ chức đào tạo bồi dưỡng trang bị các kiến thức về chuyển giao KHKT,
các tiến bộ mới trong nông nghiệp cho cán bộ chủ chốt, cán bộ kỹ thuật trong HTX.
- Đào tạo các kiến thức về tin học cho đối tượng cán bộ chủ nhiệm và kế toán
HTX, đặc biệt quan tâm đối với các HTX hoạt động mạnh để đảy mạnh hơn nữ vai
trò của các HTX này trong địa phương.
- Đào tạo, bồi dưỡng về đạo đức cán bộ HTX, xây dựng tinh thần sống và làm
việc theo pháp luật, thái độ tôn trọng dân, phục vụ nhân dân.
2.1.4.7 Nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX
- Coi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một phần quan trọng trọng việc phát triển
hình thức kinh tế tập thể, cần sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo địa phương, các
ban ngành có liên quan.
21
- Tiến hành đồng bộ, phối hợp giữa các cấp các ngành trong đào tạo, bồi
dưỡng tránh tình trạng chồng chéo về nội dung, hình thứ và thời gian đào tạo.
- Đào tạo, bồi dưỡng mang tính chất đồng bộ với các đối tượng cần đào tạo.
- Một chương trình đào tạo, bồi dưỡng muốn thành công và mang lại hiệu quả
cao phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và nhu cầu của tổ chức, có sự định
hướng lâu dài. Quan tâm sát tới nhu cầu của đối tượng cần bồi dưỡng, đào tạo.
- Đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng có quyền và trách nhiệm trau dồi kiến
thức trong quá trình học tập và khi kết thúc đào tạo.
2.1.4.8 Chu trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Quá trình đào tạo gồm 4 yếu tố chính: xác định nhu cầu đào tạo; xây dựng kế
hoạch; thực hiện đào tạo; đánh giá đào tạo.
1. Xác định nhu cầu đào tạo:
• Khái niệm nhu cầu đào tạo: là sự mong muốn giảm sự khác biệt giữa thực
tế với điều kiện nên có. Sự khác biệt này có thể về: kiến thức và kỹ năng, quan
điểm của học viên cần có để làm việc một cách tốt hơn.
• Xác định nhu cầu đào tạo: là quá trình tìm ra sự thiếu hụt cái đã có và cái
xác định được nhiệm vụ chính; để hiểu thêm nhiệm vụ chính làm cơ sở đánh giá
đúng nhu cầu đào tạo.
Xác định sự thiếu hụt kiến thức và nhu cầu đào tạo: để nắm bắt
được đặc điểm của học viên; xác định chủ đề, nội dung và mức độ nông sâu của nội
dung đào tạo; đề xuất các kháo đào tạo, hình thức đào tạo.
2. Xây dựng kế hoạch của quá trình đào tạo: là nhận biết hay đánh giá nhu
cầu đào tạo của học viên. Sau đó xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp đào
tạo. Lựa chọn và sử dụng những kỹ thuật, những phương pháp, những chiến lược,
những trợ giúp, sắp xếp phòng học và đánh giá kết quả khoá học.
3. Thực hiện quá trình đào tạo: là thực hiện và quản lý thực sự một khoá
học bao gồm những hoạt động và thực hiện của từng ngày của lớp học. Nó cũng
bao gồm những hạch toán chi phí cho khoá học.
4. Đánh giá trong quá trình đào tạo: là lấy ý kiến phản hồi để xem các mục
tiêu của khoá học đã được hoàn thành hay chưa, để nhận biết những điểm mạnh và
điểm yếu, để xác định giá trị nhận được của chương trình đào tạo và để cải tiến
những chương trình đào tạo tiếp theo.
23
Sơ đồ 2.2: Quá trình đào tạo
Xác định mục tiêu đào tạo
Đánh giá nhu cầu đào tạo
Phân tích công
việc/nghề nghiệp
Phân tích học viên
Phát triển chương trình khoá học
Lựa chọn kỹ thuật, phương pháp, trợ giúp
đào tạo
Kế hoạch bài giảng
Đánh giá kế hoạch
Tính toán chi phí
Xem xét điều chỉnh
Kiểm tra
đánh giá
Tiến hành
giảng dạy
Sự tham gia