SKKN Soạn giảng hiệu quả - Pdf 28

Cap2sondong @gmail.com Sưu tầm và giới thiệu

KINH NGHỊÊM SỌAN GIẢNG ĐẠT HIỆU QUẢ TRONG
GIẢNG DẠY

I- LÝ DO TỔ CHỨC CHUYÊN ĐỀ:
a) Lý do:
Lập kế họach bài học hay còn gọi là sọan giáo án, soạn bài lên lớp là công việc bắt
buộc cho tất cả giáo viên trước khi lên lớp phải thực hiện. Sọan bài lên lớp chuẩn bị
cho việc dạy và học của thầy và trò trong một đơn vị thời gian theo PPCT nhằm thực
hiện mục tiêu đào tạo. Lập kế họach bài học tuy là công việc bắt buộc phải thực hiện đối với mỗi giáo viên
trước khi lên lớp, nhưng cho đến nay công việc này thường được giáo viên hiểu rất
khác nhau. Có giáo viên cho rằng lập kế hoạch bài học phải nhất thiết theo một mẫu
cố định, có giáo viên khác cho rằng đó chẳng qua chỉ là sự tóm tắt nội dung SGK,
thậm chí chép lại SGK cũng được. Một số giáo viên khác lại photo hoặc chép lại bài
soạn đã có sẵn để lên lớp.
Trong khi đó phương pháp dạy học tích cực đã và đang được nhiều giáo viên áp dụng
đòi hỏi phải có sự đổi mới cách lập kế họach bài học theo hướng chỉ ra một hệ thống
các hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm giúp học sinh tự tìm kiếm, khám phá,
giải quyết vấn đề đi đến mục tiêu bài học. Gần đây, có giáo viên cho rằngviệc sọan
giáo án là hình thức, là một việc làm vô bổ, tốn nhiều thời gian, có người yêu cầu bỏ
công đọan này giảm công đọan kia trong giáo án; thậm chí có ý kiến cho rằng nên bỏ
hẳn việc soạn giáo án. Để hiểu sâu và đúng vấn đề với tinh thần "Đổi mới giáo dục".
Hôm nay trường THCS Nhơn Mỹ 2 tổ chức hội nghị chuyên đề bàn về "Đổi mới
phương pháp sọan giáo án", mong rằng qua chuyên đề này, với ý kiến đóng góp xây
dựng của quý thầy cô sẽ góp nhặt những kinh nghiệm quý báu, xây dựng thống nhất
"chuẩn" giáo án chung cho nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho
địa phương nhà.

4.Nếu giáo án được thực hiện suôn sẻ thì có thể đánh giá mục tiêu bài học thể hiện ở
học sinh không? (tính hiệu quả)
Giải thích:
* Tiêu chí 1:
Thể hiện tính mục đích cuả bài học. Đích là nơi phải đến, học xong bộ môn này hs
phải đạt tới chỗ nào. Trên đường đi tới đích, phải hoàn thành từng chặng, mỗi chặng
cấm một cọc tiêu. Đó chính là chuẩn chương trình cuả từng lớp, từng cấp. Để đạt
chuẩn cuả từng lớp, từng cấp thì mỗi bài học phải cấm được một cọc tiêu, xác nhận
đã đạt đến chỗ ấy. Đó chính là mục tiêu bài học, hoặc nêu chung chung, hoặc nêu to
tát quá đều làm cho tiết lên lớp mất phương hướng, kém hiệu quả.
* Tiêu chí 2:
Có mục tiêu rồi thì vấn đề quan trọng đạc biệt là cách đạt mục tiêu. Phải lựa chọn
những họat động nào bám sát mục tiêu mà các em thực hiện. Thầy giáo nói nhiều dàn
trãi, tổ chức các họat động thiếu chọn lọc . . .đều dẫn tới bài học xa rời mục tiêu hoặc
đi chệch hướng. Khi nói thời lượng của trò chiếm 50% trở lên thì không có nghĩa có
thầy họat động dưới 50% thời lượng. Mà tốt nhất thầy và trò hoạt động tích cực. Thầy
đọc trò chép, thầy giảng trò nghe cũng là thầy trò cùng họat động nhưng không tích
cực, bởi vì trò thụ động. Thầy đàm thọai với trò cùng đàm thọai với trò, đến từng nhóm
gợi ý thảo luận . . .như vậy hoạt động của thầy có thể trên 50% và hoạt động của trò
cũng chiếm trên 50% thời lượng tiết học. Nếu một tiết học mà từ đầu đến cuối, thầy trò
cùng trao đổi bàn luận theo mục tiêu bài học và khi đối chiếu với mục tiêu bài học để
đánh giá, học sinh đạt chuẩn ở cả ba mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ . . . thì đó là tiết
học lý tưởng, thầy họat động 100% thời lượng, trò họat động 100% thời lượng, không
có trò họat động 80% thì thầy chỉ hoạt động 20% thời lượng thôi. Họat động dạy và
họat động học luôn tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và nâng cao hiệu quả của
nhau. Nếu thầy cứ độc diễn, tức là tác động một phía thì giả dụ nói đâu hiểu đấy, kiến
thức trò thụ động tiếp nhận vẫn là kiến thức vai mượn, không biến thành của riêng và
rất khó sử dụng.
* Tiêu chí 3:
Giáo án là kế họach thực hiện bài học ở trên lớp. Một giáo án tốt, phải được những

Trong công tác giảng dạy, người giáo viên phải tốn nhiều công sức, tâm huyết để
truyền thụ kiến thức đến người học. Để thực hiện tốt điều này mỗi giáo viên phải thiết
kế cho mình một đề án (gọi là giáo án) thật cụ thể, thật khoa học trước khi lên lớp. Đây
là công việc khá nặng nhọc, tốn nhiều thời gian. Thực tế, để giảng dạy thành công một
tiết lên lớp với thời lượng là 45 phút thì giáo viên phải bỏ ra ít nhất là 120 phút để
nghiên cứu và soạn bài giảng.
Tuy nhiên không phải tiết dạy nào cũng thành công theo ý muốn. Có nhiều nguyên
nhân:
- Chủ quan: Giáo viên phần lớn chưa nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy. Còn hiện tượng
dựa vào sách tham khảo (thiết kế bài giảng), lệ thuộc SGV. Kiến thức bản thân chưa
sâu nên phần đông giáo viên chỉ sọan bài qua loa, hình thức tóm tắt nội dung SGK.
Năng lực sư phạm hạn chế, chưa nắm bắt - hiểu rõ đối tượng người học; còn quan
điểm giáo dục theo kiểu đồng nhất, "đánh đổng" người học. Chưa xác định được yêu
cầu người học; chỉ thực hiện cho hết bài hết giờ. Chưa nắm vững phương pháp đặc
trưng của từng môn. Chưa thật chú ý mục tiêu đề ra trong mỗi chương, mỗi bài; mục
đích giáo dục của từng môn, từng tiết học. Thực tế cho thấy có nhiều giáo viên nếu
không có SGV, sách tham khảo thì không soạn được giáo án hoặc nếu có sọan được
thì cũng tóm tắt nội dung SGK. Công việc này học sinh phần lớn tự làm được. Giáo
viên ngoài việc tham gia công tác giảng dạy, còn phải lo gánh vác việc gia đình với
muôn vàn khó khăn trong thời buổi kinh tế thị trường; một số giáo viên lương tâm nghề
nghiệp chưa cao.
- Khách quan: Đối tượng người học hiện nay rất phức tạp, mất căn bản từ các lớp
dưới, bị ảnh hưởng nhiều bởi các tện nạn xã hội. Địa bàn các vùng nông thôn sâu,
người dân chưa thấy được tầm quan trọng việc học tập của con em. Hòan cảnh kinh
tế ảnh hưởng khá lớn đối với việc học tập của học sinh. Điều kiện cơ sở vật chất,
Cap2sondong @gmail.com Sưu tầm và giới thiệu
trang thiết bị phục vụ cho cho dạy và học chưa được đâu tư đúng mức, hợp lý. Học
sinh chưa xác định đúng đắn thái độ, động cơ học tập. Học sinh chưa được hướng
dẫn cách học. Vai trò của người thầy đôi khi chưa được quan tâm xem trọng. Các bậc
cha mẹ thường giao trách nhiệm gần như hòan tòan về giáo dục học sinh cho giáo

vào cả phần lề vạch đỏ.
Khi ghi chép nội dung cần chú ý chừa lề phải, trái (gióng biên) tương đối thẳng. Khi
cần vẽ hình, sơ đồ không nên sợ tốn giấy mực, cần vẽ to, rõ, chính xác, cân xứng, các
ký hiệu, phụ chú ghi đúng quy cách, rõ ràng.
Trước các câu hỏi có thể sử dụng ký tự dấu chấm hỏi thay cho từ "giáo viên hỏi",
trước câu gợi ý, định hướng trả lời có thể sử dụng kí tự dấu hoa thị, dấu sao, dấu gạch
ngang thay thế cho từ "trả lời"
Hết bài nên chừa khỏang nửa trang để ghi chép các kinh nghiệm sau tiết dạy. Tránh
trường hợp tận dụng 1/3 trang cuối ghi tiếp tựa bài để sọan bài mới nhằm tiết kiệm
giấy.
Đối với bài 2 tiết nên sọan tách rời từng tiết, vì mỗi tiết đều có kiến thức khác nhau,
mục tiêu cần đạt có khác. Trừ một số trường hợp giáo viên dạy kiên tục hai tiết (chỉ có
giáo viên dạy môn văn). Nếu điều kiện cần sọan hai tiết liền phải có hoạt động củng cố
- luyện tậpcho tiết trước và hệ thống lại trước khi vào tiết sau.
Cấn ghi chú thêm dự kiến thời lượng cho từng phần, từng hoạt động để giáo viên làm
chủ được thời gian, bảo đảm thời lượng 45 phút của một tiết dạy - học.
Giữa các hoạt động nên trình bày rõ ràng có khỏang cách dễ nhìn thấy trong quá trình
giảng dạy.
Giáo viên có thể sử dụng hệ thống ký tự viết tắt cho nhanh, tuy nhiên không nên tùy
Cap2sondong @gmail.com Sưu tầm và giới thiệu
tiện viết tắt quá nhiều dễ gây nhầm lẫn với các ký hiệu trong tóan, lý, hóa . . . các ký tự
viết tắt thế nào mà đồng nghiệp nhìn vào có thể đọc và hiểu được. Chỉ được viết tắt
trong giáo án cá nhân, không được tạo thành thói quen khi viết các văn bản, ghi bảng,
nhận xét trong vở học sinh.
Hệ thống chữ viết cần chân phương (một số giáo viên cần rèn luyện nét chữ "Nét chữ
nết người"). Ta yêu cầu học sinh viết đẹp, ngược lại giáo viên chưa phấn đấu viết đẹp.
Ở đây chỉ yêu cầu viết ngay ngắn, rõ nét. Cần lưu ý tuyệt đối lỗi chính tả căn bản. Là
người thầy không thể viết sai lỗi chính ta. Rèn luyện kỹ năng sử dụng dấu câu, viết
đúng ngữ pháp tiếng Việt. Cần biết khi nào xuống dòng khi hết d0ọan, sử dụng dấu
chấm phẩy đối với các câu dài có nhiều mệnh đề. Sử dụng từ ngữ toàn dân, ngôn ngữ

nào, sử dụng lúc nào, thời lượng sử dụng, có tính giáo dục không và phải dựa vào các
mục tiêu kiến thức cụ thể ở trên. Xác định các thiết bị này trong nhà trường có hay
không, có thể tận dụng các thiết bị, ĐDDH nào để phục vụ tiết dạy. Nếu không có phải
tự làm và đòi hỏi khi làm phải có chất lượng không, có đạt được hiệu quả không. Đối
với môn toán thì thước thẳng và compa là ĐDDH phải có tất nhiên trước khi lên lớp,
không phải ghi vào phần chuẩn bị. Đối với các môn sinh, sử địa . . . phóng to các hình
trong SGK, nhưng phóng to có chất lượng không, kích thước như thế nào, nếu bằng
khổ giấy A4, màu sắc nhòe thì chẳng có hiệu quả gì đối với không gian của lớp học.
Nên phóng to ở khổ giấy A3. Không thể ghi chung chung: Sử dụng các thiết bị, sơ đồ .
. . nếu có. Không thể ghi: giáo án, SGK, SGV . . . Chỉ nên ghi các thiết bị, ĐDDH thật
sự có tác dụng hỗ trợ tốt cho tiết dạy, ghi rõ tên thiết bị. Phải tính được thời lượng sử
dụng thiết bị, ĐDDH đó bao lâu. Thực tế vẫn còn tình trạng giáo viên đem thiết bị ra sử
dụng qua loa sơ sài, học sinh chưa nhận ra chi tiết trên hình vẽ thì giáo viên đã cất
Cap2sondong @gmail.com Sưu tầm và giới thiệu
qua một bên hoặc có trường hợp giáo viên treo tranh giảng dạy xong nhưng quên lấy
xuống treo mãi suốt tiết học.
2.3 Về các bước lên lớp:
Nhiều giáo viên hiện nay vẫn còn tình trạng vận dụng máy móc các bước lên lớp, mặc
dù đã chia giáo án thành nhiều hoạt động. Như vậy vô tình tạo cho học sinh thói quen
biết trước ý đồ của giáo viên và mất hết yếu tố bất ngờ trong các tình huống sư phạm.
Ví dụ như thường thì giáo viên dành khoảng 5 -7 phút đầu giờ là ổn định, hỏi sỉ số,
kiểm tra bài cũ; khi gọi một em học sinh lên trả lời câu hỏi thì những học sinh còn lại
tranh thủ mở vở ra học lại các câu tiếp theo mà giáo viên sẽ hỏi. Như vậy điểm đánh
giá chắc chắn không đánh giá đúng trình độ học sinh. Chưa kể đến việc các học sinh
tiết trước đã được kiểm tra miệng và có điểm rồi thì cứ thỏai mái nói chuyện hay làm
việc riêng . . .

Khâu ổn định lớp: Có ý kiến cho rằng ổn định lớp chỉ là hình thức. Nếu nói rằng "ổn
định lớp là một hình thức" thì đó không phải là một nhà sư phạm. Chỉ cần 1-3 phút thôi
nhưng nó mang tính giáo dục rất cao nhất là vấn đề giáo dục nhân cách cho học sinh

sự chuẩn bị kỹ càng, chu đáo phần giới thiệu bài mới ở nhà, nội dung - cách thức giới
thiệu bài phải được cụ thể trong giáo án, để tránh được nhiều trường hợp, giáo viên bị
động, hay lời giới thiệu lan man do giáo viên "sáng tác" theo cảm hứng trên lớp.
Khâu củng cố bài: Giáo viên thường đưa ra vào cuối tiết. Điều này cũng còn máy móc.
Thực chất chỉ là việc giáo viên đưa ra các câu hỏi mà mình vừa hỏi ở trên và bắt học
sinh trả lời lại. Nếu học sinh trả lời lại được thì đánh giá là học sinh hiểu bài. Nên dành
thời gian 4-5 phút này cho học sinh nêu thắc mắc để trên cơ sở đó giáo viên củng cố
Cap2sondong @gmail.com Sưu tầm và giới thiệu
bài.
Khâu hướng dẫn học ở nhà (dặn dò): Giáo viên dặn dò là phải hướng dẫn cho học
sinh cách học bài vừa học, cách chuẩn bị bài sắp học một cách cụ thể khoa học. Giáo
viên vẫn máy móc xem đây là một trình tự không thể thay đổi được. Vì vậy có tình
trạng chuông (kẻng) báo hết giờ, giáo viên vẫn nói vớt vát vài câu dặn dò để cho đủ
trình tự, thực tế những điều giáo viên nói lúc đó làm sao học sinh ghi nhớ được.
3. Hệ thống câu hỏi:
Sọan giảng là một công việc lao động đầy vất vả, cực nhọc. Để có một giờ dạy thành
công, giáo viên phải nghiền ngẫm, hiểu thấu nội dung các bài học trong SGK. Từ cơ
sở đó, người thầy sẽ truyền thụ, hướng dẫn học sinh cùng tìm hiểu, cùng giải quyết
các vấn đề của bài học. Thời lượng 1 tiết học 45 phút chưa đủ mức cho việc lĩnh hội
đầy đủ kiến thức, tri thức của bài học mà mức độ yêu cầu phải mang tính vừa sức đối
với đối tượng tiếp nhận. Vì vậy hệ thống câu hỏi là một yếu tố không thể thiếu được
trong bài giảng. Đây là sự sắp xếp khoa học các câu hỏi nhằm phát huy cá tính sáng
tạo chủ thể của học sinh. Nhìn vào hệ thống câu hỏi chúng ta thấy nổi bật lên giá trị nội
dung và trình độ tư duy của giáo viên. Có thể xem hệ thống câu hỏi là xương sống, là
động mạch chủ trong cơ thể bài giảng. Nhờ hệ thống câu hỏi, giáo viên sẽ định hướng
đúng và phân bố thời gian hợp lý giữa các phần. Tránh tình trạng câu hỏi quá khó,
hoặc chuẩn bị chưa chu đáo nên gặp đâu, nhớ đến đâu hỏi đến đó làm cho vỡ vụn bài
giảng hoặc gây lúng túng cho học sinh, làm mất thời giờ; hoặc câu hỏi dạng có-không
quá dễ làm học sinh nhàm chán.
Không nên phụ thuộc hoàn toàn vào SGV, sách thiết kế bài giảng mẫu, giáo viên

-Giáo viên có cho học sinh đủ thờii gian suy nghĩ để trả lời.
Cap2sondong @gmail.com Sưu tầm và giới thiệu
-Giáo viên có sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ để khuyến khích học sinh trả lời.
-Giáo viên có khen ngợi, ghi nhận câu trả lời đúng của học sinh.
-Giáo viên có tránh làm cho học sinh mắc cỡ với câu trả lời sai của mình
-Nếu không ai trả lời được, giáo viên có đặt ra các câu hỏi gợi mở để học sinh có thể
trả lời câu hỏi đã nêu ra.
-Câu hỏi có ngắn gọn, rõ ràng, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu.
-Giáo viên có tránh được việc chuyên dùng loại câu hỏi ghi nhớ sự kiện.
-Câu hỏi có được phân phối đều cho cả lớp.
-Trong khi kiểm tra bài cũ, giáo viên có dùng những câu hỏi kích thích suy nghĩ hay chỉ
dùng loại câu hỏi nhớ sự kiện.
-Giáo viên có thường sử dụng những câu hỏi nhằm đánh đố bắt bí học sinh.
-Câu hỏi giáo viên đạt ra có chú ý các đối tượng học sinh hay theo quan điểm giáo dục
đồng nhất.
Cần chú ý trình độ chất lượng câu hỏi:
-Biết (Ai? Cái gì? Ơ đâu)
-Hiểu (so sánh những điềm giống nhau và khác nhau, giải thích mô tả bằng lời nói của
mình . . )
-Áp dụng (vào tình huống tương tự hoặc đổi khác, giải quyết vấn đề đặc ra)
-Phân tích (nghĩ gì? Vì sao như vậy? làm sao biết như thế)
-Tổng hợp (đặt ra vấn đề mới, đề xuất giả thiết, dự đoán kết luận)
-Đánh giá (vì sao điều đó là đúng - sai? Y kiến riêng về vấn đề đó? Bảo vệ quan niệm
riêng của mình, vì lý do gì? . . .)
4. Nội dung các hoạt động (tiến trình dạy bài mới)
- Từng hoạt động nên chia từng thời lượng cụ thể để giáo viên làm chủ được thời gian
vốn là co hẹp cho từng bài dạy.
- Phần nội dung cần đạt cần ghi rõ trong giáo án cũng chính là phần ghi vào vở của
học sinh và ghi bảng của giáo viên.
- Nội dung ghi bảng cần có đề mục rõ ràng, đôi khi giáo viên tự tạo đề mục dựa theo

- Dạy cách đọc trước bài trong SGK: hướng dẫn yêu cầu và cách đọc, hưy động kết
quả đọc để xây dựng bài học, trao đổi kinh nghiệm trong học sinh về đọc SGK trước
giờ lên lớp.
- Dạy cách tìm ý chính: Tạo điều kiện cho học sinh nhận ra ý chính trong lời giảng của
giáo viên (thay đổi âm lượng, nhịp độ, lời nói, nhắc lại . . .)
5.5- D?y cách ghi chép: H??ng d?n cách ghi chép ch? ?đ?ng. Xây dựng thói quen b?
sung bài ngay sau bu?i h?c. C?n ki?m tra m?t s? vở ghi của học sinh.
5.6- Dạy cách đặt câu hỏi: Giảm câu hỏi gợi nhớ sự kiện, tăng câu hỏi kích thích suy
nghĩ tích cực. Tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ sau câu hỏi và câu trả lời. Cho học
sinh trao đổi tạo thói quen suy nghĩ từ nhiều góc độ trước một vấn đề. Tập cho học
sinh nêu được nhiều câu hỏi càng tốt về một vấn đề được nêu ra.
5.7- Dạy cách thảo luận: Giúp đỡ học sinh bài tỏ ý kiến cá nhân về vấn đề cần đang
giải quyết. Tập cho học sinh biết lắng nghe ý kiến của bạn, có ý kiến phản hồi về
những gì nghe được. Tổ chức luân phiên thay đổi chức năng nhiệm vụ trong nhóm
(người trình bày, người nghe, nhận xét). Cuối chương cần trao cho học sinh một số
vấn đề cần giải thích, trao đổi, bổ sung . . .
5.8- Dạy cách hệ thống hóa kiến thức.
5.9- Kỹ năng lời nói và điệu bộ của giáo viên:
- Cần phát âm chuẩn, dùng từ chuẩn, âm lượng vừa đủ nghe thay đổi theo yêu cầu sư
phạm, nhịp độ vừa phải, lời diễn cảm gọn, rõ ràng. Tránh lập lại các từ vô nghĩa, tránh
tạo điều kiện cho học sinh nói vuốt đuôi.
- Khi học sinh phát biểu xong, dù đúng - sai cũng nên được giáo viên khích lệ, động
viên kịp thòi để khuyến khích tinh thần, ý thức xây dựng bài của học sinh.
- Phải biết những gì học sinh muốn và những gì giáo viên muốn là khác nhau, do đó
giáo viên phải bỏ công sức để cư xử tích cực với những học sinh mà ta cho rằng
không thích học. Học sinh sẽ thích học nếu có được cơ hội thành công. IV- KẾT LUẬN:
1.Giáo án là một sản phẩm lao động tâm não của người thầy làm ra; đó là sự đúc kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status