phần mở đầu
Con người là chủ nhân của xã hội.Dưới chế độ xã hội, dưới chế độ XHCN
con người được bảo vệ,phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực,sức khoẻ là
vốn quý của con người. Nó là tiền đề cơ bản để con người vươn tới những mục
đích cao cả khác. Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng ,sức khoẻ,thân thể con
người đã được ghi nhận trong tuyên ngôn về nhân quyền (1788) Đ71 Hiến Pháp
1992 của nước ta đã chỉ rõ “công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể,được pháp luật bảo hộ tính mạng,sức khoẻ,danh dự và nhân phẩm.”
Đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm,duy trì trật tự xã hội là nhiệm vụ quan
trọng của nhà nước ta.Quá trình này được thực hiện bằng nhiễu cách: giáo dục
tư tưởng,tổ chức kinh tế xã hội và bằng sự tác động của pháp luật trong đó có
luật hình sự.Thông qua việc áp dụng hình phạt,luật hình sự được coi là công cụ
hữu hiệu nhất để bảo vệ lợi ích của nhà nước và của xã hội.Tuy vậy việc truy
cứu TNHS, kết tội, xử phạt và buộc người phạm tội chấp hành một phần hay
toàn bộ hình phạt không phải là biện pháp duy nhất thực hiện các nhiệm vụ của
luật hình sự. Trong một số trường hợp nhất định,mục đích giáo dục và cải tạo
người phạm tội sẽ đạt hiệu quả tốt hơn bằng biện pháp tác động hình sự khác.
Xuất phát từ luật HS Việt Nam và mục đích của hình phạt thể hiên nguyên tắc
nhân đạo XHCN nhằm nâng cao hiệu quả của đấu tranh chống và phòng ngừa
tội phạm án treo là chế định pháp luật HS có lịch sử từ lâu và được xét xử áp
dụng nhiều năm nay.
Là một biện pháp trong hệ thống các biên pháp tác động của nhà nước và
xã hội đến người phạm tội, án treo ngày càng được khẳng định bởi tính ưu việt
của nó. Chế định này biểu hiện rõ nét sự kết hợp hài hoà giữa sự cưỡng chế của
nhà nước với sự tác động của xã hội trong việc trừng trị,giáo dục, cải tạo người
phạm tội.Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử,chế định án treo đã bộc lộ những hạn
chế nhất định về mặt lập pháp cũng như cách vận dụng.Điều đó đã làm giảm vai
trò và ý nghĩa đích thực của án treo.Sỡ dĩ có tình trạng áp dụng sai chế định án
1
treo trong thực tiễn là do T.án không hiểu đúng tính chất pháp lý của án treo,
không nắm vững các căn cứ cho hưởng án treo cũng như các vấn đề khác trong
liền với quan niệm về tội phạm.Tội phạm càng nghiêm trọng thì hình phạt càng
nghiêm khắc.
Sự đa dạng về hành vi phạm tội thể hiện ở tính nguy hiểm cho xã hội của
nó đặt ra yêu cầu: một mặt phải đa dạng phong phú về loại và mức hình phạt.
Mặt khác cần phải quy định biện pháp tác động hình sự khác đối với người
phạm tội. Những yêu cầu này là điều kiện quan trọng bảo đảm cho việc thực
hiện các nguyên tắc cá thể hoá TNHS ,cá thể hoá hình phạt,nhân đạo XHCN và
công bằng.Sự quy định trong luật là căn cứ pháp lý chặt chẽ cho việc áp dụng
pháp luật một cách thống nhất trong đấu tranh xử lý tội phạm đạt hiệu quả.
Một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hiệu quả đạt được của việc áp
dụng hình phạt đối với người phạm tội là sự hoàn trả cho XH con người đã trở
nên vô hại,không còn nguy cơ tái phạm. Vì vậy trong một số trường hợp nhất
định có tác dụng cải tạo,giáo dục người bị phạt tù tốt hơn nếu T.án áp dụng biện
pháp tác động HS khác không cần bắt bị cáo phải thụ hình. án treo là biện pháp
tác động HS được hình thành ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà và nay được quy định tại Điều 60 BLHS nước Cộng Hoà
XHCN Việt Nam: “ Khi xử phạt tù không quá 3 năm,căn cứ vào nhân thân của
người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ.Nếu xét thấy không cần phải bắt chấp
3
hành hình phạt tù thì T.án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1
đến 5 năm”.
Như vậy án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều
kiện. Căn cứ vào nhân thân người bị kết án và những tình tiết giảm nhẹ T.án sẽ
miễn cho người bị kết án không phải chấp hành hình phạt tù nếu trong thời gian
thử thách người đó không phạm tội mới.. Vì vậy khi quyết định hình phạt T.án
phải quy định thời gian phạt tù đúng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo
rồi mới cho hưởng án treo cứ không được nâng cao thời hạn tù án treo vì cho nó
là hình phạt nhẹ và phải tuyên rành rọt là bị cáo bị phạt mấy năm tù nhưng cho
hưởng án treo,chứ không được tuyên là mấy năm tù án treo, án treo chỉ là biện
pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện,không phải là 1 hình phạt nhẹ
người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30 % hoặc dưới 11 % nhưng thuộc
một trong các trường hợp sau đây , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm
hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
a. Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều
người.
b. Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân.
c. Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người.
d. Đối với trẻ em ,phụ nữ đang có thai,người già yếu, ốm đau hoặc người
khác không có khả năng tự vệ.
đ. Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng ,thầy giáo cô giáo của
mình.
e. Có tổ chức.
g. Trong thời gian đang bị tạm giữ ,tạm giam ,hoặc đang bị áp dụng biện
pháp đua vào cơ sở giáo dục.
h. Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê.
i. Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm.
k. Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
5
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác mà tỷ lệ thương tật từ 31 % đến 60 % hoặc từ 11% đến 30 % nhưng thuộc
một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1
điều này ,thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
3. Phạm tội gây thương tích,gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà
tỷ lệ thương tật từ 61 % trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31 % đến 60 %,
nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến
điểm k khoản 1 điều này. thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm.
4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm
trọng khác,thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù trung thân.
3. án treo khác với cải tạo không giam giữ.
Trong công tác xét xử các T.án cũng cần phải phân biệt những trường hợp phạt
dụng tốt là không b ắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cùng đạt được
mục đích giáo dục cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội.Nhưng nếu áp
dụng không đúng sẽ thì sẽ gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt như: không phát huy
được tác dụng tích cực của án treo là khuyến khích người bị kết án tự cải tạo để
trở thành người tốt,không thể hiện được tính công minh của pháp luật, không
được nhân dân đồng tình ủng hộ,không đề cao được tác dụng giáo dục riêng và
phòng ngừa chung.
án treo còn có tác dụng quan trọng khác là thu hút đông đảo các thành
viên trong xã hội tham gia vào việc cải tạo giáo dục người bị kết án,giúp họ
thêm tin yêu vào cuộc sống, khơi dậy những phẩm giá tốt đẹp vốn có của chính
mình. Việc xã hội hoá vào quá trình cải tạo người phạm tội bị xử phạt tù được
miễn chấp hành hình phạt cũng chính là góp phần nâng cao ý thức pháp luật và
trách nhiệm trong quần chúng nhân dân.
Thực tiễn xét xử của các toá án cho thấy việc áp dụng án treo phù hợp với yêu
cầu quyết định của pháp luật,đáp ứng được yêu cầu của đấu tranh phòng chống
tội phạm là một nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả của hình phạt.
7
Với vai trò quan trọng của án treo như đã trình bày ở trên,việc quy định
về chế định án treo trong BLHS nước ta là sự cần thiết khách quan,phù hợp với
xu thế chung của luật hình sự nhiều nước trên thế giới và nó mang ý nghĩa thiết
thực đối với công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Phần 2: Tình hình đặc điểm và bản chất tội cố ý gây thương tích,gây tổn
hại cho sức khoẻ của người khác trên địa bàn huyện Thiệu Hoá .
1. Thực tiễn tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác tại địa bàn huyện Thiệu Hoá:
Bảo vệ con người, bảo hộ quyền được sống khoẻ mạnh của con người là
mục tiêu của nhiều lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, trong đó công cụ sắc
béncó tính cưỡng chế pháp lý cao nhất là luật Hình Sự. Trong thời gian qua, luật
Hình Sự đã góp phần to lớn vào việc bảo vệ quyền con người, giữ vững trật tự kĩ
cương xã hội. Tuy nhiên công tácđấu tranh phòng chống các tội xâm phạm tính
nhân dân.
Số liệu: bảng 1:
Năm Thụ lý
Vụ án bị cáo
2005 10 23
2006 13 16
2007 12 25
Thống kê của VKS Huyện Thiệu Hoá
Huyện Thiệu Hoá là một địa bàn khá rộng với 31 xã và dân số đông nên
việc quản lý và giám sát tình hình tội phạm Hình Sự nói chung gặp nhiều khó
khăn. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
9
xuất hiện khá nhiều trên địa bàn huyện Thiệu Hoá trong mấy năm gần đây. Kinh
tế thị trường với những quy luật khắt khe của nó phần nào đã đẩy con ngưòi lao
vào công cuộc làm ăn kiếm tiền. Trước sự thôi thúc của đồng tiền, một số không
nhỏ người đã quên đi những giá trị nhân bản của con người, những đạo lý tốt
đẹp của dân tộc, chỉ vì xích mích nhỏ,chỉ vì nợ không trả,chỉ vì, vì cay cú những
lời nói… mà người ta có thể đâm chém nhau gây thương tích nặng .Địa bàn chủ
yếu diễn ra tại các thôn xóm, nơi trình độ dân trí còn hạn chế.
*Đặc điểm của đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
tới sức khoẻ của người khác:
- Về giới tính:
Chủ yếu đối tượng phạm tội là nam giới , chiếm tỷ lệ rất cao, còn nữ giới chiếm
tỷ lệ rất nhỏ. Bởi nam giới dể bị ảnh hưởng của mô trường, điều kiện sinh sống
khí chất nóng nhiều hơn, dể phát sinh tâm lý tiêu cực, dể tiêm nhiễm thói hư tật
xấu. Hầu hết nam giới phạm tội cũng mang tính chất mức độ nguy hiểm cao
hơn. Trong những năm 2005 đến 2008 thì số đối tượng phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại đến người khác là không có nữ giới ( Theo số liệu
của Viện Kiểm Sát nhân dân Huyện Thiệu Hoá thì đối tượng phạm tội này
chiếm tỷ lệ 100% là nam giới.
gây thương tích do Toà xét xử luôn đạt 100 %. Sự tăng lên đó chính là nhờ vào
sự tập chung chỉ đạo giải quyết nhanh chóng các vụ án cũng như sự cố gắng cả
hội đồng xẽt xử và những cá nhân, cơ quan hữu quan khác.
Bảng 2:
Năm 2005 2006 2007
Tổng số vụ án 2 2 3
Trả lại Viện Kiểm Sát
0
0 0
Toà án đã xét xử (vụ
án)
2 2 3
Số vụ còn lại 0 0 0
Tỷ lệ % số vụ án đã 100 % 100 % 100 %
11