MỤC LỤC
Trang
A. LỜI MỞ ĐẦU:............................................................................................1
B. NỘI DUNG:.................................................................................................2
I. Khái quát về luận văn:..................................................................................2
II. Tóm tắt kết quả nghiên cứu về tình hình tội phạm của tác giả:...............3
1. Thực trạng của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác giai đoạn 2006 – 2010:......................................4
2. Diễn biến của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006 – 2010:.....10
3. Cơ cấu và tính chất của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 2006 -2010.....11
III. Nhận xét về cách trình bày, kết quả nghiên cứu của tác giả:
1. Nhận xét về cách trình bày của tác giả:......................................................13
2. Nhận xét về kết quả nghiên cứu của tác giả:..............................................15
C. KẾT LUẬN:..............................................................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:....................................................17
1
A. LỜI MỞ ĐẦU
Nếu so với Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ thì mức gia tăng tội
phạm ở Việt Nam ở mức trung bình. Tuy nhiên, tình hình tội phạm ở Việt Nam
hiện nay vẫn diễn biến phức tạp, số người phạm tội là người chưa thành niên chiếm
tỷ lệ ngày càng cao. Hoạt động của tội phạm có tổ chức, đâm thuê, chém mướn, đòi
nợ thuê, trộm cướp có sử dụng “vũ khí nóng”, tội phạm sử dụng công nghệ cao,
chống người thi hành công vụ, giết người do mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân gia
tăng. Do đó, xuất phát từ vấn đề nóng của tình hình tội phạm, trên cơ sở nghiên cứu
một luận văn Thạc sĩ về tội phạm học, em xin tóm tắt và đưa ra nhận xét của cá
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ phải giải quyết trong luận án là:
+) Nghiên cứu, đánh giá tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
+) Phân tích làm rõ nguyên nhân và cơ chế tác động làm phát sinh tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn.
3
+) Dự báo tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới.
+) Đề xuất một số biện pháp phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
• Những kết quả mới của luận văn nghiên cứu:
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên nghiên cứu về tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn dưới góc độ tội phạm học.
Luận văn đưa ra một số nguyên nhân chủ yếu và các biện pháp cụ thể, có
tính khả thi trong việc phòng ngừa tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới.
• Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 2 chương:
+) Chương 1: Tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho swusc
khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn từ năm 2006 đến năm
2010.
+) Chương 2: Nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
II. Tóm tắt kết quả nghiên cứu về tình hình tội phạm của tác giả:
Về tình hình tội phạm, tác giả trình bày trong Chương 1 của luận văn. Với bố
tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006 – 2010, cần phải đồng thời dựa vào số liệu về tội
phạm rõ và tìm hiểu về tội phạm ẩn (vì không phải mọi tội phạm xảy ra trên thực tế
đều bị phát hiện và xử lý hình sự). Trước hết, tác giả tìm hiểu về tội phạm rõ.
5
• Tội phạm rõ:
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng nguồn số liệu của
cơ quan xét xử. Theo thống kê của phòng tổng hợp, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng
Sơn, số vụ, số bị cáo đã bị xét xử về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006 – 2010 được thống kê
như sau:
Bảng 1.1. Số vụ, số bị cáo đã bị xét xử về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006 –
2010.
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
Tổng
Số vụ
58
63
63
84
93
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
TB
Tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người
khác
Số vụ
1
58
63
63
84
93
72
Số bị cáo
2
63
78
87
107
113
10.7%
13.44%
15.05%
12.6%
6
7.3%
9.94%
8.87%
9.84%
11.3%
9.5%
(Nguồn: Số liệu từ phòng tổng hợp, TAND tỉnh Lạng Sơn)
Nhìn vảo bảng 1.2, ta thấy năm 2007 và năm 2008 có số vụ phạm tội gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bằng nhau nhưng số bị cáo xét
xử về tội này của năm 2008 lớn hơn năm 2007. Khi ta lấy số liệu này so sánh với
số vụ và số bị cáo đã xét xử tội phạm nói chung thì tỷ lệ cả về số vụ và số bị cáo
của năm 2007 lớn hơn số vụ và số bị cáo của năm 2008. Năm 2007 chiếm tỷ lệ xét
xử so với tội phạm nói chung là 12% số vụ, 9.94% số bị cáo và năm 2008 chiếm tỉ
lệ xét xử so với tội phạm nói chung là 10.7% số vụ và 8.87% số bị cáo, tỉ lệ này cao
dần cho đến năm 2010. Nhìn vào số vụ và số bị cáo đã xét xử về các tội phạm nói
chung, ta thấy số vụ và số bị cáo đã bị xét xử từ năm 2006 đến năm 2009 là tăng
dần và năm 2010 lại thấp hơn năm 2009. Nhưng số vụ và số bị cáo đã xét xử về tội
này nhìn chung vẫn tăng đến năm 2010.
7
5970
5758
Số bị cáo (2)
63
78
87
107
113
Số bị cáo (4)
8007
8491
8325
9350
9213
Tỷ lệ % giữa
(1) & (3) (2) & (4)
1.07
0.79
1.13
0.92
1.17
1.25
1.41
1.14
1.62
1.23
Số vụ
7.99
8.65
8.62
11.46
7.34
Sô BC
8.67
10.71
11.91
14.60
9.18
Tỉnh Sơn La
Số vụ
3.77
3.52
2.16
3.69
2.63
Số BC
8.02
7.33
3.56
4.34
4.65
Tỉnh Quảng
(Nguồn số liệu từ các TAND: tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Sơn La, tỉnh Quảng Ninh và TANDTC)
Nhìn vào bảng thống kê về chỉ số tội phạm nói trên, ta thấy tỉnh Quảng Ninh có chỉ
số tội phạm cao nhất từ năm 2006 – 2009 với chỉ số trung bình là 8.64 vụ, 14.06 bị
cáo. Mặc dù không phải là một tỉnh đông dân cư như tỉnh Quảng Ninh, diện tích
cũng nhỏ hẹp hơn, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế cũng không phát triển bằng,
nhưng tỉnh Lạng Sơn có chỉ số tội phạm khác cao trung bình là 7.34 vụ và 9.18 bị
cáo. Mặt khác, so với tỉnh Sơn La và tỉnh toàn quốc thì chỉ số tội phạm của tỉnh
Lạng Sơn phổ biến hơn rất nhiều. Từ đó có thể thấy sự phức tạp của loại tội này
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong những năm gần đây.
• Tội phạm ẩn
Số liệu trên cho ta thấy một phần của “bức tranh“ tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Một
phần “bức tranh“ của tội này chưa được làm rõ đó chính là tội phạm ẩn. Để đánh
giá tội phạm ẩn, tác giả tiến hành như sau:
Một là, theo số liệu tác giả thu thập được từ cơ quan Công an của 11 huyện,
thành phố trực thuộc tỉnh và tỉnh Lạng Sơn từ năm 2006 – 2010, có 765 đối tượng
đã bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
9
khác, tuy nhiên không phải tất cả các vụ đã khởi tố nói trên đều bị đưa ra xét xử.
Trong tổng số các vụ bị khởi tố trên, có 256 trường hợp bị xử lý hành chính, không
bị xét xử về hình sự chiếm 33.5%.
Hai là, theo số liệu thống kê của Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn, số người
đã nhập viện vì đánh nhau, xô xát từ năm 2006 – 2010 là 1.861 ca. Số liệu này cho
ta thấy thực trạng tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
người khác trong thực tế là cao hơn con số đã giải quyết ở Tòa an cũng như cơ
quan Cảnh sát điều tra. Như vậy, có thể thấy là số ca đi giám định tỷ lệ thương tích
người phạm tội trong các vụ đồng phạm của loại tội này ngày càng tăng cao.
3. Cơ cấu và tính chất của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 2006 -2010.
Nghiên cứu cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm chính là tìm hiểu nội
dung bên trong của nó. Trước hết, tác giả nghiên cứu cơ cấu của tình hình tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn. Việc nghiên cứu cơ cấu này dựa trên các tiêu chí sau:
• Cơ cấu của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006 – 2010 theo hình thức
phạm tội.
Bảng thống kê chính thức của Tòa án không thống kê về hình thức phạm tội.
Tác giả đã tự thống kê từ 150 Bản án HSST với 228 bị cáo. Tác giả thu được kết
quả như sau: có 107 vụ thực hiện dưới hình thức đơn lẻ chiếm tỉ lệ 71.3%, có 43 vụ
thực hiện dưới hình thức đồng phạm chiểm tỉ lệ 28.7%. Qua nghiên cứu, tác giả
nhận thấy trong các hình thức đồng phạm đối với tội này thì phổ biến là đồng phạm
giản đơn; đồng phạm có tổ chức chiềm tỉ lệ thấp, không đáng kể. Tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên thực tế chủ yếu
được thực hiện dưới hình thức đơn lẻ với 71.3%.
• Cơ cấu của tình hình tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006 – 2010 theo loại tội
phạm.
Theo thống kê tác giả thu được kết quả: loại tội ít nghiêm trọng theo khoản 1
Điều 104 BLHS có 43 bị cáo phạm chiếm 18.9%; loại tội nghiêm trọng theo khoản
2 Điều 104 BLHS có 100 bị cáo phạm chiếm 43.9%; loại tội rất nghiêm trọng theo
12
khoản 3 Điều 104 BLHS có 85 bị cáo phạm chiếm 37.3%; tội đặc biệt nghiêm
trọng theo khoản 4 Điều 104 BLHS không có bị cáo nào. Qua đó cho thấy số bị cáo
bị truy tố về tội ít nghiêm trọng là ít hơn rất nhiều so với bị cáo bị truy tố về tội
+) Thứ ba, chế tài hình sự đã áp dụng cho các bị cáo chủ yếu là hình phạt tù
có thời hạn chiếm 99.2%.
+) Thứ tư, về đặc điểm nhân thân của người phạm tội phổ biến là nam giới
chiếm tỉ lệ đến 96.2% trên tổng số người phạm tội này. Người phạm tội là dân tộc
thiểu số chiếm đa số với 64% trên tổng số người phạm tội. Người phạm tội lần đầu
là phổ biến chiếm 96.7% trên tổng sô người phạm tội. Người phạm tội có độ tuổi từ
18 đến dưới 30 tuổi là phổ biến nhất chiếm tỉ lệ 65% trên tổng số người phạm tội.
Trình độ văn hóa của người phạm tội tập trung chủ yếu học đến hoặc xong cấp 2
chiếm 39.5%.
+) Thứ năm, thời gian phạm tội này từ 19 giờ đến trước 24 giờ chiếm tỉ lệ
đáng kể là 44 %.
+) Thứ sáu, phương tiện phạm tội là hung khí nguy hiểm (như dao, kiếm, mã
tấu, thanh sắt, vật sắc, nhọn bằng sắt) chiếm tỉ lệ đáng kể tới 45.3%.
III. Nhận xét về cách trình bày, kết quả nghiên cứu của tác giả:
1. Nhận xét về cách trình bày của tác giả:
Cách trình bày về bố cục của luận văn của tác giả là theo quan điểm của Tiến
sĩ Dương Tuyết Miên. Theo TS. Dương Tuyết Miên, các bộ phận hợp thành của
tình hình tội phạm bao gồm: thực trạng của tình hình tội phạm, diễn biến (động
thái) của tình hình tội phạm, cơ cấu của tình hình tội phạm, tính chất của tình hình
tội phạm. Các bộ phận hợp thành này có hai loại:
- Thông số về lượng của tình hình tội phạm bao gồm: thực trạng và diễn biến
của tình hình tội phạm.
14
- Thông số về chất của tình hình tội phạm bao gồm: cơ cấu, tính chất của tình
hình tội phạm. Trên cơ sở cơ cấu của tình hình tội phạm sẽ cho chúng ta rút ra
những đặc điểm đặc trưng của tình hình tội phạm – tính chất của tình hình tội
phạm.
2. Nhận xét về kết quả nghiên cứu của tác giả:
Tác giả đã vẽ ra toàn bộ "bức tranh " về tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006 –
2010.
Qua nghiên cứu phân tích của tác giả cho ta thấy, thực trạng tình hình tội này
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006 – 2010 ngày một tăng cao. Tuy vậy, qua
số liệu từ cơ quan công an, trung tâm giám định pháp y và bệnh viện đa khoa tỉnh
Lạng Sơn, tội phạm ẩn trên địa bàn còn khá cao. Nhìn vào bảng số liệu thống kê về
số vụ và số bị cáo từ năm 2008 đến 2010 luôn là những con số tăng lên. Điều này
chứng tỏ, khi số vụ của năm sau tăng cao hơn năm trước, thì tỉ lệ số bị cáo trong
các vụ đồng phạm tăng cao hơn, điều đó cũng có nghĩa với việc số vụ đồng phạm
của năm sau nhiều hơn so năm trước.
Với việc khảo sát và đánh giá trên nhiều phương diện về cơ cấu, tác giả rút ra
được các kết luận của tình hình của tội này trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Cụ thể: tuy
số vụ thực hiện đồng phạm có tăng, song tỉ lệ số vụ thực hiện đơn lẻ phổ biến hơn,
hành vi phạm tội thường nghiêm trọng, hình phạt áp dụng phổ biến là phạt tù có
thời hạn, người phạm tội chủ yếu là nam, nghề nghiệp làm ruộng hoặc không có
nghề nghiệp, trình độ học vấn thấp, phạm tội lần đầu, độ tuổi phạm tội phổ biến từ
18 đến 30 và là người dân tộc thiểu số, địa bàn phạm tội xảy ra phổ biến ở thành
phố Lạng Sơn, thời gian phạm tội chủ yếu từ trước 19 giờ đến trước 24 giờ, phương
tiện phạm tội chủ yếu là dao, các vật sắc nhọn bằng sắt, động cơ phạm tội chủ yếu
là do người phạm tội sĩ diện, ra oai vì muốn thể hiện cái tôi cá nhân.
16
Từ những kết luận đó, tác giả có cái nhìn sâu, rộng hơn về tình hình tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn để đưa ra được những nguyên nhân và giải pháp sát thực với thực tiễn về tội
này để áp dụng trên địa bàn tỉnh cũng như trên cả nước.