1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN
NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về tài sản ngắn hạn
Đối với doanh nghiệp thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn
chiếm tỷ trọng lớn vì
vậy việc
quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rất quan
trọng đến doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động,
doanh nghiệp phải biết rõ số lượng,
giá trị mỗi loại tài sản ngắn hạn là bao nhiêu cho
hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao.
Chính vì vậy việc hiểu cho đúng về tài sản ngắn hạn là rất cần thiết. Đã có nhiều tác giả
đưa ra những khái niệm khác nhau về tài sản ngắn hạn cụ thể như:
Theo PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc, Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, NXB Đại
học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011: “Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi
vốn ngắn, trong khoảng thời gian 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp. Tài sản ngắn hạn thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất
thể hiện dưới nhiều hình thức khau.”
Theo TS.Lê Thị Xuân, Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh tế quốc dân,
TSNH được định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc
quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi
vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có
thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật dưới dạng đầu tư ngắn hạn hoặc các khoản nợ
phải thu. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm vốn bằng tiền, các khoản đầu tư
toán
và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.
Có tính thanh khoản cao: TSNH dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất
sang tiền
tệ nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong thời gian ngắn mà
không chịu
chi phí lớn. Chính bởi việc nhanh chóng chuyển đổi nên tính thanh khoản
của TSNH là rất cao.
Phải đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh
số và sản xuất: Không như
đầu tư vào tài sản cố định, các khoản đầu tư cho tài sản ngắn hạn
thường có thể điều
chỉnh tăng giảm tùy thuộc vào sự biến động của hoạt động sản xuất kinh doanh nên nó
nhanh chóng ứng biến theo tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Lệ thuộc khá nhiều vào những
dao động mang tính mùa vụ và chu kỳ trong
kinh doanh: Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành nghề khác
nhau thì lượng TSNH cần thiết tại mỗi thời điểm là khác nhau. Có nhiều doanh
nghiệp cần nguồn TSNH lớn vào đầu chu kì và ngược lại. Những loại mặt hàng, loại
hình kinh doanh như bất động sản, dệt may, du lịch còn mang tính mùa vụ tùy theo
mùa theo quý trong năm mà hoạt động sản xuất kinh doanh cũng biến động do đó
TSNH sẽ biến động theo.
1.1.3. Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Là điều kiện để doanh nghiệp có thể đi vào hoạt động: Tài sản ngắn hạn trong
hàng của khách và nhu cầu tiêu thụ nhịp
nhàng. Do đó, TSNH chiếm vai trò quan trọng trong cả hai quá trình sản xuất và lưu
thông, giúp cho doanh nghiệp hoạt động liên tục và không bị gián đoạn.
Giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán: Khi
duy trì ở một
mức độ hợp lý nó đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế nhất định như
được hưởng
chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán… Hơn nữa dựa vào khả năng tính toán
những khoản mục như hàng tồn kho, khoản phải thu… một cách hợp lý giúp doanh
nghiệp có một lượng tiền ổn định an toàn, đồng thời nhờ tính thanh khoản nhanh của
TSNH giúp doanh nghiệp có thể đảm bảo khả năng thanh toán. Từ đó giúp doanh nghiệp
tiết kiệm được chi phí, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn khiến cho công việc quản lý và sử dụng
tài sản ngắn hạn luôn diễn ra thường xuyên, liên tục. Với vai trò to lớn như vậy, việc
tăng tốc độ luân chuyển tải sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
trong doanh nghiệp là nhu cầu tất yếu.
1.1.4. Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung
và quản lý tài chính nói riêng, tùy theo yêu cầu quản lý và dựa trên tính chất vận động
của TSNH, người ta có thể phân loại TSNH như sau:
1.1.4.1. Phân loại theo tính thanh khoản
Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán TSNH bao gồm: tiền và các
khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và
Tài sản ngắn hạn sản xuất: là toàn bộ TSNH tồn tại trong khâu sản xuất của doanh
nghiệp, bao gồm: giá trị thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả
trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ TSNH tồn tại trong khâu lưu thông của
doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của
khách hàng.
Theo các phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các
nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của TSNH để đưa ra biện pháp quản lý
thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất.
1.1.4.3. Phân loại theo hình thái biểu hiện:
Tài sản ngắn hạn bằng tiền: gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản tương
đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, khoản ký cược, ký quỹ, khoản phải thu. Nó
được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ…
5
Tài sản ngắn hạn bằng vật tư, hàng hóa: Trong quá trình luân chuyển của vốn
phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì việc tồn tại vốn bằng vật tư hàng hóa là những
bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Vật tư hàng
hóa: gồm nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ lao động, sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa.
1.2. Một số vấn đề về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh
nghiệp quan tâm,
quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể
tồn tại trên thị
trường. Tối đa hóa lợi nhuận và
tối thiểu hóa chi phí là mục tiêu chung của bất kỳ
Do đó, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là phạm trù kinh tế đánh giá trình độ
sử dụng
tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cao nhất với mức
tài sản hợp
lý (tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí).
1.2.2.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh
nghiệp
Hiệu quả sử dụng TSNH là việc đánh giá khối lượng TSNH với cơ cấu hợp lý để
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nếu chỉ tiêu đánh giá hiệu quả TSNH hợp lý,
hiệu quả thì TSNH đảm bảo được khả năng thanh toán, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Ngược lại nếu các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả TSNH không tốt có thể dẫn đến vốn
của doanh nghiệp bị thất thoát, bị chiếm dụng; nếu dự trữ quá nhiều tiền mặt, hàng hóa,
NVL tuy có thể đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đảm bảo quá trình sản
xuất được diễn ra liên tục nhưng những lượng tài sản đó không sinh lời làm giảm hiệu
suất sử dụng TSNH của doanh nghiệp.
Thang Long University Library
6
Hiệu quả kinh tế là kết quả tổng
hợp của một loạt các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
của các bộ phận, là một phạm trù đánh
giá trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh
nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá
trình sản xuất kinh doanh, tối đa hóa lợi ích của
(2) Phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn
Cơ cấu TSNH là tỉ trọng của TSNH trong tổng TSNH như: tiền và các khoản
tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, TSNH khác…. so với tổng
TSNH có trong doanh nghiệp. Từ tỉ trọng các khoản mục trong TSNH đưa ra những
nhận định về mức độ sử dụng hiệu quả TSNH đồng thời cho ta thấy mức chênh lệch
giữa các khoản mục. Từ đó doanh nghiệp có thể đưa ra những chính sách hợp lý đồng
thời đưa ra được những giải pháp kịp thời nếu doanh nghiệp chưa biết cách sử dụng
TSNH một cách hiệu quả.
7
Tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền (K)
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thì khoản mục
tiền và các khoản tương đương tiền chiếm bao nhiêu phần trăm. Chỉ tiêu này càng lớn sẽ
đáp ứng được chi tiêu của doanh nghiệp, thuận lợi trong hoạt động đầu tư, chứng tỏ khả
năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp cao. Tuy nhiên khi khoản mục này càng lớn
thì khả năng sinh lời còn thấp từ đó làm giảm thu nhập trong doanh nghiệp khiến cho
hiệu quả sử dụng TSNH thấp đồng thời khả năng xảy ra gian lận, rủi ro, mất mát càng cao.
Ngược lại, chỉ tiêu này càng nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp hạn chế trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình, khả năng thanh toán gặp khó khăn nhưng khi khoản mục
tiền và các khoản tương đương tiền thấp sẽ có thể khiến cho các khoản mục khác trong
TSNH tăng lên dẫn đến thu nhập tăng vì vậy có khả năng gia tăng được hiệu quả sử dụng
TSNH tốt hơn và khả năng xảy ra mất mát sẽ nhỏ hơn. Do đó, mục tiêu của phân tích chỉ
tiêu này là nhằm xác định các khoản mục tiền và tương đương tiền một cách hợp lý.
Tỷ trọng khoản phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này cho biết giá trị các khoản phải thu chiếm bao nhiêu phần trăm trong
tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này thấp thể hiện doanh nghiệp quản lý tốt nợ phải thu, có chính sách thu
nợ hợp lý. Ngược lại nếu chỉ tiêu này càng cao thể hiện TSNH của doanh nghiệp bị
khách hàng chiếm dụng càng nhiều, làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp.
hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp. Phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cần xem xét trong
mối tương quan với sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp hoạt động ở thị
trường mới bùng nổ và doanh thu của doanh nghiệp tăng liên tục trong nhiều năm có thể
dẫn đến gia tăng dự trữ để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Ngược lại trong giai đoạn
kinh tế suy thoái thì tỷ trọng hàng tồn kho có xu hướng giảm. Khi hàng tồn kho chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng TSNH và có xu hướng tăng, điều đó cho thấy lượng hàng tồn kho
của doanh nghiệp là lớn khi đó chi phí quản lý, chi phí lưu kho sẽ tăng lên, đồng thời cho
thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp giảm từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng TSNH. Ngược lại, nếu hàng tồn kho chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng TSNH và có
xu hướng giảm điều đó có thể do doanh nghiệp dự trữ lượng hàng quá ít như vậy sẽ có
khả năng không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của khách hàng, từ đó đánh mất cơ hội
kinh doanh và cũng sẽ khiến hiệu quả sử dụng TSNH giảm.
Khi phân tích hàng tồn kho ta cần phải phân tích trong nhiều kỳ để đánh giá hợp lý
trong công tác dự trữ. Từ đó điều chỉnh tỉ trọng phù hợp với từng giai đoạn giúp doanh
nghiệp quản lí tốt đầu ra, đầu vào nhằm tăng hiệu quả lao động, tăng thu nhập dẫn tới đạt
được hiệu quả sử dụng TSNH một cách tốt nhất.
9
Các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần định kỳ xác định và so sánh các chỉ
tiêu tài chính căn bản theo thời gian hoặc so với mục tiêu cần đạt được để đánh giá thực
trạng và diễn biến tình hình tài chính của doanh nghiệp hàng năm. Đối với doanh nghiệp
kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn
chiếm tỷ trọng lớn.
Để phân tích được quy mô và cơ cấu của TSNH trong doanh nghiệp cần thông qua
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán qua đó đánh giá các
khoản mục. Từ đó đánh giá tỉ trọng TSNH so với tổng tài sản để thấy được quy mô cơ
cấu cũng như chính sách quản lý của doanh nghiệp đối với TSNH.
1.2.3.2. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn
(1) Chính sách quản lý tiền mặt
Nội dung chủ yếu của quản lý tiền mặt bao gồm: xác định mức tồn quỹ tối ưu, dự
Trong đó: - C/2: Mức dự trữ tiền mặt trung bình.
- K: Lãi suất chứng khoán/ thời kỳ (thường là một năm).
Tổng chi phí (TC - Total Cost): Tổng chi phí liên quan đến tồn quỹ bằng chi phí cơ hội
cộng với chi phí giao dịch:
Tổng chi phí = TC = TrC + OC = [(T/C) * F] + [(C/2) * K]
Xác định mức dự trữ tiền tối ưu
Tổng chi phí sẽ đạt min tại điểm mà đạo hàm bậc nhất của nó theo biến C bằng 0.
Ta có : TC = (C/2) K + (T/C) F = 0
↔
Quản lý hoạt động Thu – Chi tiền
Hai khía cạnh chính của quản lý tiền đề cập đến giảm thời gian thu tiền thông qua
hệ thống thu tiền và quản lý chặt chẽ luồng tiền ra thông qua hệ thống chi tiền.
Mức độ phức tạp của hệ thống thu tiền phụ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động
của doanh nghiệp. Các công ty nhỏ mang tính địa phương có hệ thống thu tiền rất đơn
giản; các công ty lớn cỡ quốc gia hay đa quốc gia có hệ thống thu tiền rộng rãi.
Lựa chọn phương thức thu – chi tiền:
Để lựa chọn được phương thức thu - chi tiền tối ưu, chúng ta cần đánh giá hiệu quả
của các phương thức thu - chi tiền đó, phương thức thu - chi tiền đề xuất và phương thức
thu - chi tiền hiện tại trên cơ sở so sánh lợi ích sau thuế tăng thêm và chi phí sau thuế
tăng thêm.
Lợi ích tăng thêm: ∆B = ∆t *TS * I * (1-T)
Trong đó: - ∆B: Lợi ích tăng thêm
- ∆t: Số ngày chênh lệch giữa hai phương thức
- ∆t = t
1
– t
2
trong đó t
1
là thời gian chuyển tiền của phương thức hiện tại,
thu chi ngân quỹ, chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán và lãi suất.
Khoảng dao động (mô hình Miller):
Trong đó:
D: khoảng dao động tiền mặt (khoảng cách giữa giới hạn trên và giới
hạn dưới
của lượng tiền mặt dự trữ).
C
b
: Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh khoản.
V
b
: Phương sai của thu chi ngân quỹ
i : lãi suất
Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau: Đây là mô hình mà thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng
mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu.
Thang Long University Library
12
Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế cửa
một quỹ trước đó để tính toán
Vì vậy, việc doanh nghiệp thực hiện tốt các chính sách quản lý tiền mặt có vai trò
rất quan trọng đối với hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh
nghiệp dễ dàng đối phó với những biến động bất thường có thể xảy ra trong tương lai
vì không phải loại hàng tồn kho nào cũng có vai trò như nhau. Phương pháp ABC
13
được sử dụng để phân loại nhóm hàng phát triển dựa trên nguyên lý của nhà kinh tế
học người Italia và thế kỷ 19 là Pareto.
Giá trị hàng tồn kho được xác định bằng cách lây nhu cầu hàng năm của từng
loại hàng tồn kho nhân với chi phí tồn kho đơn vị và dựa trên tiêu chuẩn để xếp loại
như sau:
Nhóm A: Gồm các loại hàng chiếm 10% về mặt số lượng trong danh mục
nhưng lại chiếm đến 50% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho.
Nhóm B: Gồm các loại hàng chiếm 30% về mặt số lượng trong danh mục
và chiếm 35% giá trị tiền đầu tư vào hàng lưu kho.
Nhóm C: Gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, chiếm 60% về mặt
số lượng trong danh mục nhưng chỉ chiếm 15% giá trị tiền đầu tư vào hàng
lưu kho.
Hình 1.1. Mô hình ABC (The ABC Inventory Method)
Bằng việc chia hàng lưu kho thành nhiều nhóm, các công ty có thể tập trung vào
nhóm mà cần sự kiểm soát hiệu quả nhất, mà cụ thể ở ví dụ này là nhóm A, tiếp theo là
nhóm B và cuối cùng là nhóm C. Nếu như nhóm A được xem xét quản lý một cách
thường xuyên thì nhóm B sẽ ít được thường xuyên hơn, có thể là hàng tháng, hàng quý
và nhóm C sẽ ít hơn nữa, có thể là hàng năm.
Mô hình EOQ (The Economic Order Quantity Model)
Khi sử dụng mô hình này, người ta phải tuân theo các giả định quan trọng sau đây:
(1) Nhu cầu về hàng lưu kho ổn định.
(2) Thời gian chờ hàng (kể từ khi đặt hàng cho tới khi nhận hàng) không thay đổi
và phải được biết trước;
(3) Sự thiếu hụt dự trữ hoàn toàn không xảy ra nếu đơn hàng được thực hiện đúng;
(4) Toàn bộ số lượng đặt mua hàng được nhận cùng một lúc;
60%
Thang Long University Library
lược này thường kéo theo việc thay đổi hoàn toàn kế hoạch và hợp đồng lao động để
đạt được lợi ích mong đợi của chiến lược cung cấp đúng lúc trong quản lý hàng tồn kho.
Hàng tồn kho là một bộ phận chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng TSNH vì vậy việc
quản lý và sử dụng hàng tồn kho có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng TSNH cũng
như hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Quản lý hàng tồn kho
tốt giúp doanh nghiệp dễ dàng quản lý và kiểm soát hoạt động sản xuất đồng thời có
thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng, từ đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng
cao được hiệu quả sử dụng TSNH.
2*S*O
C
15
(3) Chính sách quản lý các khoản phải thu
Khoản phải thu là yếu tố quan trọng để tạo nên uy tín của doanh nghiệp đối với
các đối tác của mình và trở thành sức mạnh cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Hầu hết
mỗi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phát sinh các
khoản phải thu. Mỗi doanh nghiệp lại có các khoản phải thu khác nhau và độ lớn
khoản phải thu cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tốc độ thu hồi nợ cũ, tốc độ tạo ra
nợ mới và sự tác động của các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp như
chu kì suy thoái, khủng hoảng tiền tệ…. Việc quản lý khoản phải thu tốt sẽ giúp cho
dòng tiền lưu thông ổn định đồng thời giảm tỉ lệ nợ xấu trên doanh thu trong doanh
nghiệp giúp gia tăng thu nhập và hiệu quả sử dụng TSNH. Chính vì vậy quản lý các
khoản phải thu luôn là mối quan tâm của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần đặc
biệt chú ý tới các yếu tố có thể kiểm soát được nhằm tác động tới độ lớn và chất lượng
của khoản phải thu để quản lý được một cách hiệu quả.
Nội dung quản lý khoản phải thu:
Các bước xây dựng chính sách tín dụng
Điều khoản bán trả chậm: Thời hạn bán chịu, tỷ lệ chiết khấu, thời hạn được hưởng
chiết khấu, phương thức thanh toán.
Phân tích tín dụng:
Phân tích uy tín của khách hàng trước khi quyết định có nên bán chịu cho
t
và giá trị đầu tư vào khoản phải thu khách hàng CF
0
.
Đó là CF
0
= VC* S * (ACP/ 365 ngày)
Và: CF
t
= [S * (1- VC) - S * BD - CD] * (1-T)
Trong đó: VC: Dòng tiền ra biến đổi tính theo tỷ lệ % trên dòng tiền vào.
S: Dòng tiền vào (doanh thu) dự kiến hàng năm
ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày)
BD: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu (%)
CD: Dòng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng cho việc quản lý và
thu các khoản phải thu khách hàng.
T: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
1.2.3.3. Phân tích các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
(1) Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Tài sản ngắn hạn có đặc điểm là tính thanh khoản cao, vì vậy việc sử dụng hiệu
quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời với tính thanh
khoản. Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì thường sử dụng
các chỉ tiêu sau đây:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Khả năng thanh toán hiện hành
=
Tài sản ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể
chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay nói cách
tỷ trọng lớn hơn trong tổng tài sản nên hệ số này tương đối cao. Do đó, khi
đánh giá
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cần phải dựa vào hệ số trung bình của
doanh nghiệp
cùng ngành. Hệ số này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh
toán
của doanh nghiệp vì tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu và hàng tồn
kho.
Chính vì vậy để đánh giá chính xác hơn về khả năng thanh toán của doanh
nghiệp, ta
cần xét thêm một số chỉ tiêu khác.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Khả năng thanh toán nhanh
=
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là chỉ tiêu thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn bằng
các
tài sản có khả năng chuyển thành tiền một cách nhanh, đôi khi chúng còn được gọi là
tài sản có tính thanh khoản. Tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sản ngắn
hạn trừ hàng tồn kho (vì hàng tồn kho là tài sản không dễ dàng chuyển đổi thành
tiền). Tức là một
không. Trong đó các
khoản tương đương tiền bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có
thời gian thu hồi hoặc
đáo hạn không quá 3 tháng, dễ dàng chuyển đổi thành một
lượng tiền xác định mà
không có rủi ro khi chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua
khoản đầu tư đó tại thời
điểm báo cáo như kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc,
Khi trị số của chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 và càng nhỏ thì thể hiện doanh nghiệp
không đảm bảo khả năng thanh toán tức thời, khi có nhu cầu thanh toán bán hàng xảy
ra doanh nghiệp sẽ phải tìm mọi nguồn lực để đáp ứng nhu cầu thanh toán, thậm chí
doanh nghiệp phải chấp nhận trả lãi suất cao để có nguồn vốn này, từ đó sẽ làm tăng
chi phí và giảm hiệu quả sử dụng TSNH. Trị số của chỉ
tiêu khả năng thanh toán tức
thời có giá trị cảnh báo vì vậy nếu doanh nghiệp không đảm
bảo đủ khả năng thanh
toán tức thời, nhà quản trị doanh nghiệp sẽ phải áp dụng ngay
các biện pháp tài
chính khẩn cấp để tránh cho doanh nghiệp không bị lâm vào tình
trạng phá sản. Và
ngược lại khi trị số của chỉ tiêu này lớn hơn 1, doanh nghiệp bảo đảm và thừa khả
nghiệp có thể thu hồi vốn sớm.
Hai chỉ tiêu này thể hiện trình độ quản lý và sử dụng TSNH của doanh nghiệp.
Việc sử dụng TSNH hiệu quả hay không biểu hiện ở tốc độ luân chuyển vốn nhanh
hay chậm. TSNH của doanh nghiệp luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng
TSNH của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Vòng quay các khoản phải thu
=
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng
với khách hàng, cho biết trong kỳ phân tích báo cáo các khoản phải thu quay được
bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi
tiền hàng, giảm được thời gian bị chiếm dụng vốn. Ngoài ra, chỉ tiêu này còn cho biết
mức độ hợp lý các khoản phải thu đối với
từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên
thị trường.
Chỉ số vòng quay càng cao cho thấy doanh nghiệp được khách hàng trả nợ càng
nhanh, giúp thu nhập tăng nhanh và ổn định đồng thời giảm chi phí quản lý các khoản
phải thu cũng như giảm thiểu tình trạng chiếm dụng vốn, điều đó chứng tỏ doanh
nghiệp đã sử dụng TSNH hợp lý và hiệu quả. Nhưng nếu so với các doanh nghiệp
cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá cao thì có thể phương thức
thanh toán tiền của
doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng
hàng hóa tiêu thụ,
và có thể bị mất khách do họ sẽ chuyển sang tiêu dùng các hàng hóa của đối thủ cạnh
tranh mà có thời gian tín dụng dài hơn, vì vậy tùy thuộc vào tình hình ngành và thị
trường kinh doanh mà doanh nghiệp nên đưa ra những điều chỉnh hợp lý để TSNH
được sử dụng hiệu quả trong vòng quay các khoản phải thu, nếu không sẽ gây ra
cuối kỳ. Chỉ tiêu này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế
nào và thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị
hàng tồn
kho của doanh nghiệp. Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao cho thấy doanh
nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp
giúp doanh nghiệp tạo nhiều lợi nhuận và chứng tỏ rằng hiệu quả sử dụng TSNH của
doanh nhiệp và cao. Tuy nhiên nếu chỉ số này quá cao cũng sẽ không tốt vì điều đó
tương đương với việc hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng
đột biến thì rất có khả năng doanh nghiệp sẽ không đáp ứng nhu cầu của khách hàng
và bị đối thủ cạnh tranh giành mất khách khiến cho thu nhập bị giảm và hiệu quả sử
dụng TSNH sẽ không đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy để tính được chỉ tiêu này hợp lý
doanh nghiệp cần phải có chính sách quản lý hàng tồn kho hiệu quả.
Các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất luôn phải tính đến mức dự trữ bởi
doanh
nghiệp không thể nào đến lúc sản xuất mới mua nguyên vật liệu. Để tránh
trường hợp
bị ứ đọng thì doanh nghiệp phải có trước một lượng vật tư hàng hóa vừa
phải bởi nếu
quá nhiều doanh nghiệp sẽ mất khoản chi phí để bảo quản vật liệu. Nếu
lượng vật tư quá ít không đủ cho sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn ở các khâu
tiếp theo. Vì vậy nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều hay quá ít đều dẫn đến tình trạng
sử dụng TSNH không hiệu quả.
Thời gian luân chuyển kho trung bình
Thời gian luân chuyển kho
trung bình
Mặt khác nó là điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất kinh doanh để
doanh nghiệp
có điều kiện mở rộng quy mô của quá trình sản xuất mà không cần tăng
thêm vốn đầu
tư.
Hai chỉ tiêu tốc độ luân chuyển hàng tồn kho trung bình và thời gian luân chuyển
kho là hai chỉ số cho thấy tương đối rõ ràng hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp.
Đối với nhiều doanh nghiệp với lượng hàng tồn kho lớn, việc quản lý tốt hàng tồn kho
cho thấy việc sử dụng TSNH là có hiệu quả cao, và ngược lại nếu việc quản lý hàng
tồn kho chưa tốt thì doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc sử dụng TSNH. Việc hàng
tồn kho xoay vòng nhanh và tốt giúp cho doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh
doanh liên tục liền mạch, không bị gián đoạn giúp giảm chi phí hoạt động, tăng thu
nhập và đạt được hiệu quả sử dụng TSNH một cách tối đa.
Vòng quay các khoản phải trả
Vòng quay các khoản
phải trả
=
Giá vốn hàng bán
+ Chi phí chung, chi phí bán hàng quản lý
Phải trả người bán
+ lương, thưởng, thuế phải trả
Đây là chỉ tiêu nói lên số vòng quay các khoản phải trả, chỉ tiêu này đánh giá bao
nhiêu đồng chi phí bán hàng, chi phí quản lý chung và giá vốn hàng bán bỏ ra thì có 1
đồng doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn của khách hàng, người lao động. Chỉ tiêu này
càng thấp càng tốt. Việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm
được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung
cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng vì vậy sẽ giúp gia tăng thu nhập góp
thay đổi của nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khoa học – Công nghệ
Khoa học – Công nghệ đã chiếm một vị trí quan trọng, trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, là động lực cơ bản cho phát triển kinh tế xã hội. Việc áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi
phí sản xuất, tạo ưu thế, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp giúp doanh
nghiệp tăng thu nhập và đạt được hiệu quả sử dụng TSNH một cách tốt nhất. Không
những thế nó còn tác động trực tiếp và thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, hướng tới xã
hội thông tin và nền kinh tế tri thức.
Thị trường và đối thủ cạnh tranh
Thị trường ngày càng mở rộng và phát triển, có nhiều cơ hội nhưng cũng có
muôn vàn thách thức. Quan tâm đến khả năng của đối thủ cạnh tranh và các sản phẩm
thay thế cho các
sản phẩm của doanh nghiệp là một bước quan trọng giúp doanh
nghiệp không bị lạc
lõng trong điều kiện thị trường luôn biến đổi, yêu cầu của khách
hàng ngày càng cao, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Muốn tồn
tại và phát triển, doanh nghiệp phải luôn có những thay đổi phù hợp, nâng cao chất
lượng, hạ giá thành sản phẩm. Điều kiện cần là hạ được giá thành, nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản nói chung, và tài sản ngắn hạn nói riêng. Dự đoán được trước nhu cầu
23
thị trường, hiểu tâm lý khách hàng, xác định được khách hàng mục tiêu là những bước
cần thiết giúp doanh nghiệp chủ động trong sản xuất chính là điều kiện đủ.
1.2.4.2. Các nhân tố chủ quan
Trình độ cán bộ quản lý
được những sản phẩm tốt doanh nghiệp cần có hệ thống cơ sở hạ tầng (trụ sở làm việc,
chi nhánh, cơ sở sản xuất, hệ thống bán hàng…) được bố trí hợp lý sẽ giúp cho doanh
nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả hơn, làm cho quá trình sản xuất
được diễn ra nhanh chóng và bảo quản được nguyên vật liệu cũng như sản phẩm được
đảm bảo.
Mục đích lựa chọn dự án đầu tư
Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy khả năng
không chắc chắn giá trị trong tương lai. Khi phân tích xem có nên đầu tư vào dự án
hay không người ta không chỉ xem xét đến mục đích mà còn đến hiệu quả về mặt tài
Thang Long University Library
24
chính của dự án. Đôi khi nhiều dự án đều có hiệu quả tài chính được đề xuất cùng một
lúc, để lựa chọn dự án cần xem xét nhiều mặt và dự án nào mang lại lợi nhuận cũng
như giúp doanh nghiệp có được hiệu quả sử dụng TSNH hợp lý nhất sẽ được ưu tiên.
25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN HÀ NỘI
2.1. Khái quát về công ty Cổ phần Đầu tư bất động sản Hà Nội
2.1.1.
Sơ lược quá trình phát triển của công ty Cổ phần Đầu tư bất động sản Hà Nội
Thang Long University Library