BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
BÙI THỊ PHƯƠNG THẢO NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
KINH DOANH THAN MIỀN BẮC - VINACOMIN Chuyên ngành: Kinh tế công nghiệp
Mã số: 60.31.09
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Đặng Văn Dựa HÀ NỘI - 2013
1.2.2. Đặc điểm của Công ty cổ phần ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. 17
1.2.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần thuộc tập
đoàn Vinacomin 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN KINH DOANH THAN MIỀN BẮC - VINACOMIN GIAI ĐOẠN
2007 - 2011 33
2.1. Khái quát về Công ty cổ phần kinh doanh than miền Bắc- Vinacomin 33
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 33
2.1.2. Các đặc điểm chủ yếu của Công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh .34
2.2. Kế hoạch phát triển sau cổ phần hóa của Công ty cổ phần kinh doanh than Miền
Bắc-Vinacomin 43
2.3. Đánh giá hiệu quả tổng hợp hoạt động của Công ty cổ phần kinh doanh than
Miền Bắc- Vinacomin. 48
2.3.1. Đánh giá thực hiện chỉ tiêu tổng lợi nhuận. 48
2.3.2. Đánh giá thực hiện chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh 55
2.3.3. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần 57
2.3.4. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 59
2.4. Đánh giá hiệu quả hoạt động bộ phận của Công ty CPKD than Miền Bắc 61
2.4.1. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định 61
2.4.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 63
2.4.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động 68
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH THAN MIỀN
BẮC- VINACOMIN 72
3.1. Định hướng phát triển của Tập đoàn Vinacomin và định hướng phát triển Công
ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc 72
3.1.1. Định hướng phát triển của Tập đoàn Vinacomin 72
3.1.2. Định hướng phát triển của Công ty 73
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty CP Kinh
Bảng 2.1: Danh sách các đơn vị trực thuộc Công ty 37
Bảng 2.2: Cơ cấu sản phẩm theo chủng loại của Công ty 40
Bảng 2.3: Thị phần của Công ty Than Miền Bắc năm 2011 42
Bảng 2.4: Bảng tình hình góp vốn của Công ty kinh doanh than Miền Bắc 44
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu SXKD của Công ty giai đoạn 2007 - 2011 46
Bảng 2.6: Chỉ tiêu sản lượng, doanh thu của Công ty giai đoạn 2007 – 2011 47
Bảng 2.7: Các chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc
giai đoạn 2007-2011 51
Bảng 2.8: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh 55
Bảng 2.9: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần 58
Bảng 2.10: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 59
Bảng 2.11: Hệ số vòng quay hàng tồn kho giai đoạn 2007 – 2011 67
Bảng 2.12: Chỉ tiêu năng suất lao động của Công ty giai đoạn 2007 – 2011 69
Bảng 3.1: Giá thuê kho Minh Đức và kho Vật Cách giai đoạn 2007 - 2011 76
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Phân loại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 9
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của Công ty 35
Hình 2.2: Sơ đồ bộ máy đơn vị trực thuộc Công ty 38
Hình 2.3: Sản lượng than mua và bán của Công ty giai đoạn 2007 – 2011 47
Hình 2.4 Doanh thu của Công ty giai đoạn 2007 – 2011 47
Hình 2.5: Lợi nhuận gộp từ HĐSXKD và tổng LN trước thuế 48
Hình 2.6: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh 56
Hình 2.7: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần 58
Hình 2.8: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 59
Hình 2.9: Hệ số vòng quay hàng tồn kho giai đoạn 2007 - 2011 68
1
2
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những giải pháp phù hợp có căn cứ khoa học và tính khả thi nhằm
nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc-
Vinacomin.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công
ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc – Vinacomin.
- Phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc - Vinacomin,
giai đoạn 2007 - 2011.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan lý luận và thực tiễn về phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần kinh doanh than nói riêng.
- Phân tích thực trạng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần
kinh doanh than Miền Bắc - Vinacomin giai đoạn 2007 - 2011.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, áp dụng cho Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc - Vinacomim.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết kết hợp với khảo sát thực tế, hỏi ý kiến chuyên gia.
- Phương pháp thông kê và khảo sát, thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến
tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần kinh doanh than Miền Bắc -
Vinacomin.
- Phương pháp phân tích, so sánh, dự báo…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở nghiên cứu và vận dụng các lý luận cơ bản về
lý thuyết quản trị kinh doanh, về kinh tế thị trường, quản trị sản xuất… tìm ra các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh góp phần vào lý thuyết khoa học về
nâng cao hiệu quả kinh doanh than của Công ty cổ phần.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên của đề tài luận văn có giá trị tham khảo
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh doanh là điều kiện sống còn để các
doanh nghiệp tồn tại, phát triển. Hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của
bất kỳ nền sản xuất nào. Đó cũng là vấn đề bao trùm, xuyên suốt thể hiện chất
lượng của toàn bộ công tác quản lý kinh tế. Bởi suy cho cùng quản lý kinh tế là để
đảm bảo tạo ra kết quả và hiệu quả cao nhất cho mọi quá trình, mọi giai đoạn của
hoạt động sản xuất kinh doanh. Phạm trù hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất
lượng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh doanh
phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng lại
khó tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh. Vậy hiệu quả
kinh doanh là gì? hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Theo [1]: Hiệu quả kinh doanh là đại lượng so sánh giữa đầu ra và đầu vào,
giữa kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh đã bỏ ra. Chi phí ở đây được hiểu là
chi phí lao động xã hội, là sự kết hợp giữa các yếu tố của quá trình sản xuất với một
tương quan hợp lý trong quá trình kinh doanh để tạo ra kết quả. Kết quả có thể là
một đại lượng vật chất hoặc mức độ thỏa mãn nhu cầu có phạm vi xác định.
Theo [2]: Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu đề ra của quá trình sản xuất kinh
doanh, được đặc trưng bằng các chỉ tiêu định lượng, thể hiện quan hệ giữa chi phí
bỏ ra và kết quả mà doanh nghiệp đạt được sau quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo [10] [12]: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền
vốn…) để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất.
5
tiêu thụ được và thu tiền về… Nếu kết quả là mục tiêu quá trình sản xuất kinh
doanh thì hiệu quả là phương tiện để có thể đạt được các mục tiêu đó.
6
+ Hao phí nguồn lực của một thời kỳ trước hết là hao phí về mặt hiện vật, cũng
có thể được xác định bởi chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị. Hao phí nguồn lực được
đánh giá thông qua phạm trù chi phí kinh doanh vì nó phản ánh tương đối chính xác
hao phí nguồn lực thực tế của doanh nghiệp.
Mặc dù hiệu quả kinh doanh còn có nhiều quan điểm và cách tính khác nhau,
song nhìn chung tất cả các quan điểm về hiệu quả đều gắn liền với kết quả mà doanh
nghiệp thu được sau một quá trình kinh doanh nhất định và thường được phản ánh
thông qua chỉ tiêu tổng lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ.
Qua phân tích trên cho thấy, mặc dù có những điều không hoàn toàn giống
nhau khi xem xét, đánh giá hiệu quả. Song tác giả có thể đưa ra khái niệm về hiệu
quả như sau: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế biểu thị mỗi quan hệ giữa kết quả lợi
ích thu được với chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Với khái niệm trên ta có thể rút ra:
+ Hiệu quả là một phạm trù tương đối phản ánh mặt chất lượng của quá trình
kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong một thời kỳ và
được tính bằng tỉ số giữa kết quả đạt được và chi phí đã bỏ ra.
+ Kết quả quan trọng nhất, tổng hợp nhất đồng thời phản ánh trực tiếp nhất
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là chỉ tiêu tổng lợi nhuận.
+ Chí phí ở đây là chi phí sản xuất kinh doanh. Đó là hao phí các nguồn lực cần
thiết để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như nhân lực,
vật lực, tiền vốn…
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế,là một chỉ tiêu chất lượng tổng
hợp. Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và
kết quả thu về với mục đích đã được đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề
cơ bản của nền kinh tế thị trường đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và
sản xuất cho ai? Do vậy việc nghiên cứu và xem xét các vấn đề để nâng cao hiệu
quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu đối với mối doanh nghiệp trong quá trình kinh
- Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: Là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh
giá trong khoảng thời gian ngắn: Tuần, tháng, quý, năm.
8
- Hiệu quả kinh doanh dài hạn: Là hiệu quả kinh doanh được xem xét,đánh
giá trong khoảng thời gian dài gắn với các chiến lược, kế hoạch dài hạn hay một dự
án đầu tư.
1.1.2.4. Theo quan điểm đánh giá
- Hiệu quả tĩnh: Là hiệu quả trong đó các số liệu tính toán được xem xét với
quan điểm tĩnh,tức là chúng không chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của nhân tố
thời gian và những nhân tố ảnh hưởng khác như lãi suất, giá cả…Hiệu quả tĩnh
thường được dùng để tính hiệu quả thực tế của doanh nghiệp trong thời gian ngắn.
- Hiệu quả động: Là hiệu quả trong đó số liệu tính toán được xem xét với
quan điểm động,tức là chúng có thể chịu ảnh hưởng bởi sự biến động của nhân tố
thời gian và những nhân tố ảnh hưởng khác. Hiệu quả động thường được dùng để
tính hiệu quả kinh tế của đầu tư theo số liệu của một dự án cho trước.
1.1.2.5. Theo căn cứ đánh giá
- Hiệu quả theo dự án đầu tư: Là hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp được
đánh giá căn cứ vào số liệu của dự án đầu tư.Hiệu quả của dự án đầu tư thường
được xét cho cả quá trình từ lúc bỏ vốn để xây dựng dự án đến khi dự án kết thúc
hoạt động.
- Hiệu quả thực tế: Là hiệu quả được đánh giá căn cứ vào báo cáo kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh được lập hàng năm của doanh nghiệp. Hiệu quả thực
tế là cơ sở để kiểm tra hiệu quả đã được nêu trong dự án đầu tư và để điều chỉnh kế
hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trong ngắn hạn.
9
Hiệu quả kinh
xã hội
Hiệu quả tĩnh Hiệu quả trực
tiếp
Hiệu quả theo
dự án đầu tư
Hiệu quả KD
dài hạn
Hiệu quả doanh
nghiệp
Hiệu quả động Hiệu quả gián
tiếp
10
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3.1 Các nhân tố bên trong
- Lực lượng lao động: Trong điều kiện kinh tế hiện nay, mặc dù khoa học-kỹ
thuật-công nghệ đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp. Việc áp dụng kỹ thuật
sản xuất tiên tiến là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp. Tuy nhiên,dù kỹ thuật sản xuất có hiện đại đến đâu chăng nữa
cũng do con người sáng tạo ra, nếu không có lao động sáng tạo của con người thì
không có những máy móc thiết bị tiên tiến đó. Và dù máy móc thiết bị có hiện đại
đến đâu thì cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật,trình độ sử
dụng của người lao động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh,lực lượng lao động
của các doanh nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và áp dụng vào
quá trình sản xuất sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực
lượng lao động trong doanh nghiệp đã tạo ra các sản phảm có chất lượng cao với
hình thức, mẫu mã, kiểu dáng phong phú, phù hợp với nhu cầu, đòi hỏi ngày càng
cao của thị trường. Lực lượng lao động đã tác động trực tiếp đến năng suất lao
trên thị trường. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp các nhà quản trị
phải biết khai thác, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất. Kết quả
là hiệu quả hoạt động của quản trị doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào trình độ
chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị, phụ thuộc vào bộ máy quản trị doanh
nghiệp cũng như việc thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu ấy.
- Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin: Để thành công trong điều kiện cạnh
tranh gay gắt, các doanh nghiệp cần có nhiều thông tin chính xác về tình hình thị
trường (Công nghệ, đối thủ cạnh tranh, tình hình cung, cầu, giá cả hàng hóa, nguyên
nhiên vật liệu, chính sách, phong tục tập quán…) Vì vậy thông tin được coi là
nguồn tài nguyên vô tận trong số các nguồn tài nguyên khác. Nắm bắt được các
thông tin cần thiết, biết xử lý và sử dụng các thông tin kịp thời là điều kiện quan
trọng để các nhà quản trị xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược
kinh doanh và đưa ra những quyết định kinh doanh hiệu quả. Nhu cầu về thông tin
của các doanh nghiệp đòi hỏi phải phát triển mạnh mẽ hệ thống thông tin dưới nhiều
hình thức khác nhau. Việc tổ chức khoa học hệ thống thông tin vừa đáp ứng được
nhu cầu thông tin trong sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo giảm chi phí cho quá
trình thu thập, xử lý, lưu trữ và sử dụng thông tin.
12
1.1.3.2. Các nhân tố bên ngoài
- Môi trường pháp lý: Gồm luật và các văn bản dưới luật. Mọi quy định
pháp luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Môi trường pháp lý tạo ra “sân chơi” để các doanh nghiệp cùng
tham gia, vừa cạnh tranh lại vừa hợp tác với nhau nên việc tạo ra môi trường pháp
lý lành mạnh là rất quan trọng. Một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình,
vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vi mô theo hướng không chỉ chủ ý đến kết quả
và hiệu quả riêng mà còn chú ý đến lợi ích của các thành viên khác trong xã hội.
Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hình doanh nghiệp, điều
chỉnh các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, cạnh tranh nhau một cách lành
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chỉ có thể phát triển sản
xuất trên cơ sở hạ tầng đầy đủ, hiện đại và thuận tiện. Bên cạnh đó trình độ dân trí
tác động lớn đến chất lượng và lực lượng lao động xã hội nên tác động trực tiếp đến
nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Mặt khác chất lượng của đội ngũ lao động lại là
nhân tố bên trong ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2. Cở sở thực tiễn về phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2.1. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp công
nghiệp
Quyết định số 271/2003/QĐ-TTg ngày 31/1/2003 của Thủ Tướng Chính
Phủ về việc ban hành quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp nhà nước đã đưa ra việc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp công
nghiệp nhằm phân loại doanh nghiệp và có các biện pháp khuyến khích động viên
về vật chất và tinh thần đối với những doanh nghiệp và người quản lý điều hành
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, xử lý kịp thời đối với những doanh nghiệp và
người quản lý điều hành doanh nghiệp yếu kém. Tại điều (12),(13) của quyết định
này đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp công nghiệp gồm:
14
1/ Chỉ tiêu doanh thu và thu nhập khác
Chỉ tiêu doanh thu áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Than
Khoáng sản Việt nam – Vinacomin là doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ, số tăng
giảm % của doanh thu so với năm trước là cơ sở để xếp loại doanh nghiệp:
- Doanh thu và thu nhập khác tăng từ 5% trở lên là doanh nghiệp xếp loại A.
- Doanh thu và thu nhập khác tăng giảm dưới 5% là doanh nghiệp xếp loại B.
- Doanh thu và thu nhập khác giảm quá 5% trở lên là doanh nghiệp xếp loại C.
2/ Chỉ tiêu lợi nhuận và lợi nhuận thực hiện, tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn
nhà nước: Doanh nghiệp có chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn Nhà nước
cao hơn so với năm trước xếp loại A, tỷ suất lợi nhuạn trên vốn nhà nước thấp hơn
Doanh nghiệp xếp hạng C là doanh nghiệp chỉ có một chỉ tiêu xếp loại A, các chỉ
tiêu còn lại xếp loại C. Doanh nghiệp xếp loại B là doanh nghiệp còn lại không
được xếp hạng A và C.
Ngày 20/5/2004, Bộ tài chính đã có thông tư số 42/2004/TT-BTC hướng
dẫn giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp công nghiệp. Thông
tư đã giải thích và hướng dẫn cụ thể cho quyết định số 271/2003/QĐ-TTg ngày
31/1/2003 của Thủ Tướng Chính Phủ. Thông tư đã nêu rõ và giải thích các tiêu
chỉ để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp công nghiệp như sau:
1/Doanh thu và thu nhập khác: Chỉ tiêu này được xác định tại báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh (mẫu số B02 – DN ban hành theo quyết định số 167/2000/QĐ
- BTC ngày 25/10/2000 và sủa đổi bổ sung theo thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày
09/10/2002 của bộ tài chính) bao gồm doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp
dịch vụ (mã số 10) + doanh thu từ hoạt động tài chính (mã số 21) + thu nhập khác
(mã số 31). Các doanh nghiệp khai thác và chế biến kinh doanh than tính theo sản
lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.
- Doanh thu thuần về bán hàng: Được xác định bằng cách lấy doanh thu bán
hàng trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu (chiết khấu bán hàng, hàng bán
bị trả lại ). Thời điểm để ghi nhận doanh thu bán hàng là khi doanh nghiệp đã xuất
giao sản phẩm và hàng hóa cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận thanh
toán.
16
Doanh thu bán hàng: Là toàn bộ lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được
tự việc bán sản phẩm,hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.[8]
DT =
piqi
n
i
1
doanh nghiệp ra đời (năm 2005), ngày 06 tháng 10 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ
đã có quyết định số 224/2006/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế giám sát và đánh
giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Trong đó nêu cụ thể mục đích,
căn cứ, đối tượng giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ngoài
các chỉ tiêu đã nêu trong quyết định số 271/2003/QĐ-TT và thông tư 42/2004/TT-
BTC, còn bổ sung thêm 2 ý trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp: các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kể trên được xác định
và tính toán từ số liệu trong báo cáo tài chính, báo cáo thống kê định kỳ theo quy
định hiện hành. Các chỉ tiêu trên khi tính toán được xem xét loại trừ những yếu tố
ảnh hưởng bao gồm:
- Do nguyên nhân bất khả kháng
- Do đầu tư mở rộng phát Triển sản xuất, làm ảnh hưởng đến lợi nhuận trong hai
năm kể từ năm đưa công trình đầu tư vào sử dụng.
- Do nhà nước điều chỉnh giá (đối với sản phẩm do nhà nước quy định giá) làm ảnh
hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp.
1.2.2. Đặc điểm của Công ty cổ phần ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp góp vốn, trong đó vốn điều lệ
được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm
về nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công
ty. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ
trường hợp có quy định của pháp luật.
- Công ty cổ phần có khả năng huy động vốn lớn, vì loại hình này có thể phát
hành các loại chứng khoán để huy động vốn trực tiếp trên thị trường tài chính. Tuy
nhiên gây tốn kém về thời gian và chi phí cho việc huy động vốn (chi phí quảng
cáo, hoa hồng, bảo lãnh môi giới phát hành in ấn…) làm tăng chi phí kinh doanh và
ảnh hưởng đến hiệu qua kinh doanh của công ty.