bản chất và vai trò của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia - Pdf 28

bản chất và vai trò của các tổ chức
độc quyền xuyên quốc gia.
mục lục
Trang
Lời mở đầu..............................................................................................2
I. Bản chất và quá trình phát triển các tổ chức độc quyền ......................4
1. Tổ chức độc quyền xuyên quốc gia?..............................................4
2. Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức độc quyền
xuyên quốc gia...................................................................................4
1. Bản chất và đặc trng của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia. .7
II. Vai trò của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia...........................11
1. Thúc đẩy thơng mại quốc tế ........................................................11
2. Thúc đẩy đầu t nớc ngoài.............................................................13
3. Phát triển nguồn nhân lực.............................................................15
4. Phát triển nghiên cứu, chuyển giao công nghệ ............................16
III. Hoạt động của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia ở Việt Nam 21
1. Đặc điểm hoạt động......................................................................21
2. Tác động của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia tới nền kinh
tế Việt Nam...................................................................................23
3. Những vấn đề đặt ra hiện nay đối với hoạt động và thu hút các tổ
chức độc quyền xuyên quốc gia ở Việt Nam.................................27
Kết luận.................................................................................................32
1
lời mở đầu
Chủ nghĩa t bản độc quyền- giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa t bản .
Sự phát triển nhanh chóng và sự trì trệ thối nát là hai xu thế cùng song song
và tồn tại trong nền kinh tế của chủ nghĩa t bản độc quyền.
Xu thế phát triển nhanh chóng của đợc thể hiện ở chỗ: tốc độ phát tăng trởng
thần kì của các nớc t bản sau chiến tranh thế giới thứ hai, hiệu quả lao động
sản xuất đợc nâng cao một cách rõ rệt, sự phát triển không ngừng của lực l-
ợng sản xuất, cuộc cách mạng nh vũ bão của khoa học công nghệ... Làm cho

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh toàn cầu của các tổ chức độc quyền xuyên
quốc gia cũng làm tăng nhân tố không ổn định của nền kinh tế thế giới.
Hoà cùng vào xu thế kinh tế chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng
trở thành một nền kinh tế mở, mở cửa để nhìn ra thế giới, sẵn sàng làm bạn
với tất cả các nớc trên thế giới, mở cửa để phát triển kinh tế đất nớc, để tiếp
nhận các nguồn lực...Vì vậy các nhà kinh tế tơng lai của đất nớc phải có
những kiến thức cơ bản, nền tảng tránh những lúng túng, bỡ ngỡ khi hoà vào
nền kinh tế thế giới. Chúng em- những sinh viên kinh tế khi trớc mắt chúng
em mọi thứ còn đang rất mờ mờ tỏ tỏ, cha rõ; mang trong mình bản chất hiếu
động thích khám phá, tìm hiểu cái mới. Đồng thời với sự tò mò của riêng em
và những kiến thức đã đợc tích luỹ trong trờng đại học em đã quyết định
chọn đề tài:
Bản chất và vai trò của các tổ chức độc quyền xuyên quốc
gia .
Bài viết của em còn nhiều thiếu sót do sự tích luỹ tri thức cha đợc nhiều đồng
thời em còn cha có những kinh nghiệm sâu sắc trong những bài viết công
phu. Rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy. Em xin trân trọng cảm ơn.
Sinh viên
Trần Thuý Diệp-BH45A.
i.bản chất và quá trình phát triển của các tổ chức
độc quyền xuyên quốc gia:
3
1.Tổ chức độc quyền xuyên quốc gia:
Độc quyền là sự tập trung vào trong tay một số ít các xí nghiệp, các công
ti lớn những u thế và những quyền lực về kinh tế trên cơ sở đó họ có những u
thế về chính trị.
Tổ chức độc quyền là những liên minh giữa các nhà t bản nắm phần lớn
việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá nhất định trên cơ sở đó loại trừ
đợc cạnh tranh quy định giá cả độc quyền cao.
Tổ chức độc quyền xuyên quốc gia là các tổ chức, các công ti t bản độc

tạo ra một sức sản xuất mới, xuất hiện những ngành mới : luyện kim, hóa
chất, điện ... máy móc ra đời đã làm thay thế bớt sức ngời và nâng cao năng
suất lao động : động cơ điezen, máy phát điện, máy tiện, máy phay, ngoài ra
các phơng tiện vận tải mới : ôtô, tàu thủy, máy bay, đờng sắt ... nó dẫn đến
năng suất lao động tăng, khả năng tích lũy t bản lớn ngày càng nhiều thúc
đẩy sản xuất lớn .
Các cuộc khủng hoảng kinh tế làm phá sản của hàng loạt các công ti, xí
nghiệp, sự thâm nhập và thôn tính lẫn nhau dẫn tới sự đổi mới hàng loạt t bản
cố định ngày càng hiện đại hơn đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản
xuất.
Do tác động của những quy luật kinh tế vốn có của chủ nghĩa t bản: quy luật
giá trị thặng d, quy luật tích lũy t bản, quy luật cạnh tranh sản xuất càng đẩy
nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất .
Cuộc cạnh tranh giữa các nhà t bản ngày càng quyết liệt hơn bao giờ hết buộc
họ phải tăng quy mô để thắng thế trong cạnh tranh . Mặt khác sự phát triển
của hệ thống tín dụng tạo điều kiện cho việc mở rộng sản xuất bằng các hình
thức lập các công ti cổ phần.
Khi tích tụ và tập trung sản xuất diễn ra với tốc độ cao và trên quy mô rộng
lớn nh vậy đã dẫn thẳng tới độc quyền đây là một quy luật phổ biến và căn
bản trong sự phát triển của chủ nghĩa t bản vào thời kì này . Sở dĩ nh vậy là
do:
Một số các xí nghiệp lớn bao giờ cũng dễ tìm thấy sự thỏa thuận với nhau
hơn các xí nghiệp nhỏ.
Quy mô to lớn hơn của các xí nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình cạnh tranh mặt
khác cũng đặt xí nghiệp muốn né tránh cạnh tranh, muốn né tránh đối đầu
tìm kiếm các giải pháp trong sự thỏa hiệp.
Chính vì vậy các xí nghiệp đi đến thỏa hiệp với nhau, kí kết với nhau những
hiệp ớc mang tính chất độc quyền.
Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hóa hình thức liên kết chủ yếu theo
chiều ngang: đó chính là sự liên kết các doanh nghiệp cùng ngành, tiến thêm

- Do tác động của cạnh tranh trong nội bộ ngành ngân hàng, các ngân
hàng nhỏ bị thôn tính hoặc sát nhập vào các ngân hàng lớn
Xuất hiện những ngân hàng khổng lồ, trên cơ sở những ngân hàng khổng lồ
đó các tổ chức độc quyền trong ngân hàng ra đời và nó giữ vai trò mới. Ngoài
vai trò truyền thống là nhận gửi tiền tệ, do đợc tích luỹ hầu hết t bản tiền tệ
trong tay nên nên ngân hàng đã trở thành một tổ chức có thế lực vạn năng đ-
ợc xem là trung tâm thần kinh chi phối toàn bộ nền kinh tế quốc dân, vì vậy
cả ngân hàng và độc quyền trong công nghiệp đều muốn thống lĩnh nền kinh
tế, họ bắt tay nhau và quá trình thâm nhập lẫn nhau giữa ngân hàng và công
nghiệp làm xuất hiện t bản tài chính. Từ sự xuất hiện của t bản tài chính kéo
theo sự xuất hiện của bọn đầu sỏ tài chính đó là những t bản tài chính kếch
6
sù nắm trong tay hầu hết của cải và thu nhập quốc dân , thống trị các ngành
kinh tế chủ yếu; có quyền lực kinh tế ắt có quyền lực về mặt chính trị nên nó
thống trị về mọi mặt của đời sống xã hội .
Để hình thành nên các tổ chức độc quyền các công ti các xí nghiệp phải liên
doanh, liên kết với nhau, phải thôn tính, đồng hoá lẫn nhau nhằm tạo ra sức
mạnh to lớn cho mình nâng cao sức cạnh tranh, từ đó hình thành nên những
làn sóng sát nhập. Lần đầu tiên, vào cuối thế kỉ XIX, các xí nghiệp hợp nhất
với nhau theo chiều ngang để tạo thành công ti độc quyền. Tiếp theo là vào
những năm 20 của thế kỉ XX một làn sóng hợp nhất theo chiều dọc diễn ra
mạnh mẽ kéo theo nạn đầu cơ tiền tệ, đó chính là một trong những nguyên
nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng 29-33. Lần thứ ba, vào nửa cuối những năm
1960, sự sáp nhập hỗn hợp đã tạo thành những công ti khổng lồ, nhng khó
quản lí nên hiệu quả không cao. Và lần sát nhập thứ t đợc bắt đầu từ nửa cuối
những năm 1980- làn sóng sát nhập thôn tính lẫn nhau giữa các công ti đã trở
thành một xu thế phổ biến trên thế giới và nó mang những đặc điểm rất mới :
- Việc mua bán sát nhập không còn hãn hữu mà đang trở thành một xu thế
tất yếu, mạnh mẽ.
- Làn sóng sát nhập động chạm tới tất cả các ngành.

rộng các cổ đông, việc hình thành các cổ phiếu liên công ti, khả năng vay
vốn , làm xuất hiện xu thế phi cá thể hoá sở hữu t nhân lớn. Từ những năm
1990 trở đi xu thế này xuất hiện ngày càng mạnh, ở Nhật tỉ lệ cổ phiếu của
các liên công ti đã lên tới 72%, vốn t nhân của các cổ đông trong công ti
trong tổng số vốn hoạt động cao nhất thờng chiếm 19%, còn lại là số vốn của
các cổ đông còn lại hoặc có thêm một phần vốn đi vay. Xu thế này đã biến
các tổ hợp công ti lớn thành các chủ thể sở hữu liên kết kinh tế, hay đúng hơn
là tạo nên hình thức sở hữu hỗn hợp. Trong loại hình này, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, các công nhân cùng tham gia vào tập đoàn với t cách là các vệ
tinh, các chủ sở hữu về mặt kinh tế và địa vị của họ đợc thực hiện theo chế độ
tham dự.
Nh vậy, trong các xí nghiệp , các công ti, tập đoàn và các siêu tập đoàn có cả
nhà t bản lớn, nhà t bản nhỏ, và công nhân cùng tham gia và là đồng sở hữu
với các tỉ lệ khác nhau. Việc ngời công nhân cùng sở hữu với nhà t bản là
một xu hớng dân chủ hoá về kinh tế và đảm bảo sự dân chủ hoá cho công
nhân hơn trớc, đồng thời cũng kích thích sự nhiệt tình trong lao động hơn của
công nhân và làm dịu mâu thuẫn giữa nhà t bản với công nhân.
Đối tợng sở hữu cũng có sự biến đổi. Đối tợng sở hữu không còn bị bó hẹp
trong việc sở hữu t liệu sản xuất( sở hữu hiện vật) mà là sở hữu về mặt giá trị
(dới nhiều hình thức nh : vốn tự có, vốn cổ phần, vốn cho vay, trí tuệ...), sở
hữu trí tuệ, sở hữu các công trình khoa học, bằng phát minh sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, thông tin ..., các hình thức này ngày càng trở nên quan
trọng và mang tính quyết định đối với việc tăng trởng kinh tế.
8
Ngày nay khi nền kinh tế tri thức đang ngày càng đóng vai trò quan trọng, thì
sở hữu trí tuệ có vai trò đặc biệt quan trọng, vì chính trí tuệ là nguồn gốc sinh
ra của cải của xã hội. Sở dĩ nói đợc nh vậy là vì lao động không chỉ là lao
động chân tay mà còn bao gồm cả lao động trí thức, lao động này tạo ra sự
tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nhờ có sự tiến bộ này mà năng suất lao động
ngày càng cao khối lợng của cải tạo ra ngày càng nhiều, chất lợng ngày càng

9
ngoài để tránh hàng rào thuế quan của nớc nhận đầu t. Ngay từ đầu những
năm 60 các công ti của Mĩ đã quyết định đầu t vào Philipin, ấn độ để khai
thác thị trờng trong nớc .
Một số động cơ khác khi đầu t ra nớc ngoài là để tận dụng lợi thế về giá nhân
tố sản xuất, đặc biệt là giá lao động rẻ. Sản phẩm trớc tiên có thể đợc sản
xuát tại nớc nhận đầu t với chi phí thấp, sau đó đợc tái xuất khẩu sang nớc
đầu t hay xuất khẩu sang nớc thứ ba. Hình thức đầu t này phục vụ cho việc
mở rộng thơng mại và tận dụng tốt những lợi thế của nớc nhận đầu t.
Cuối cùng là tận dụng lợi thế của phân công lao động. Các công ti đa quốc
gia thờng mở rộng các hoạt động của họ ra khỏi phạm vi một quốc gia, bao
gồm các hoạt động mang tính kĩ thuật cao nh nghiên cứu và phát triển, hoạt
động thiết kế sản xuất .
Khi đã tận dụng đợc lợi thế cuả mình các công ti bắt đầu bành chớng thế lực
độc quyền, do chiếm đợc vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền bắt đầu
áp đặt giá cả độc quyền; giá cả độc quyền thấp khi mua và cao khi bán. Các
tổ chức độc quyền thao túng nền kinh tế bằng giá cả độc quyền và thu lợi
nhuận độc quyền cao. Nguồn gốc của lợi nhuận độc quyền cao là lao động
của công nhân ở các xí nghiệp độc quyền; một phần lao động không công
của các xí nghiệp không độc quyền; một phần giá trị thặng d của nhà t bản
vừa và nhỏ bị mất do thua thiệt trong cạnh tranh , ...
Nh vậy cuộc cạnh tranh giữa các tổ chức của các nhà t bản diễn ra rất khốc
liệt nó bao gồm :
Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệp ngoài độc quyền,
các tổ chức độc quyền tìm mọi cách chèn ép, chi phối, thôn tính các xí
nghiệp ngoài độc quyền.
Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau ...
Một trong những đặc điểm quan trọng nữa của các tổ chức độc quyền
xuyên quốc gia là xuất khẩu t bản nhằm thoả mãn khát vọng độc quyền cao.
Nó đợc thể hiện chủ yếu qua hình thức đầu t trực tiếp FDI, đây là hình thức

chóng, đến giữa những năm 1990, giá trị thơng mại của các chi nhánh này ở
nớc ngoài đã lớn hơn giá trị nhập khẩu của khu vực Nam, Đông và Đông
Nam á.
Theo số liệu của IMF, tổng khối lợng xuất nhập khẩu hàng hoá trên toàn thế
giới tăng gấp 3 lần từ năm 1980. Tổng giá trị thơng mại quốc tế về hàng hóa
và dịch vụ năm 1997 đã đạt 6.700 tỉ USD, lớn hơn GNP của tất cả nền kinh tế
các nớc Mỹ La Tinh và Châu á kết hợp lại. Từ năm 1996 tăng trởng mậu
dịch hàng hoá toàn cầu đã tăng 10% hàng năm. Trong thế giới đang phát
triển, tổng mậu dịch của cả Châu á, Cận Đông và Mỹ La Tinh đã vợt tỉ lệ
tăng trởng trung bình của thế giới...
Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về khối lợng, cơ cấu mặt hàng và phơng hớng
địa lí của các luồng thơng mại quốc tế cũng biến đổi mạnh trong những thập
kỉ vừa qua. Tỉ trọng hàng sơ chế giảm trong khi tỉ trọng hàng chế tạo, đặc
11
biệt là các sản phẩm có hàm lợng trí tuệ và công nghệ trong thơng mại quốc
tế tăng. Sự thay đổi cơ cấu mặt hàng trong thơng mại quốc tế phản ánh quá
trình phân công lao động quốc tế theo chiều sâu. Các lợi thế về tài nguyên và
các sản phẩm dùng nhiều dùng lao động ngày càng giảm, nhờng chỗ cho các
sản phẩm tinh chế. Sự thay đổi này đã gây ra những bất lợi đối với các nớc
đang phát triển xuất khẩu hàng nguyên liệu nông sản và nhập máy móc thiết
bị , ảnh hởng đến quan trọng đến sự thay đổi phơng hớng địa lí của luồng th-
ơng mại.
Một điểm nổi bật nữa là trong những năm gần đây là sự gia tăng mạnh mẽ
của thơng mại dịch vụ bao gồm: vận tải, du lịch, viễn thông, bảo hiểm, dịch
vụ ngân hàng, và các dịch vụ nghề nghiệp khác. Trong năm 1995 đã có 1200
tỉ USD dịch vụ đợc trao đổi giữa các nớc, trong đó 30% số đó là của các nớc
đang phát triển.
Tầm quan trọng của thị trờng quốc tế là kết quả của quá trình tự do hoá thơng
mại, đồng thời cũng là lực đẩy cho sự hình thành thị trờng thế giới thống
nhất.

toàn cầu. Năm 1997, các chi nhánh của tổ chức xuyên quốc gia với tổng tài
sản trên 12,6 nghìn tỉ USD đã đầu t ra nớc ngoài lợng FDI là 422 tỉ USD, và
năm 1999 theo UNCTAD.FDI của thế giới là 644 tỉ USD trên phạm vi rộng
hơn 100 quốc gia.
Năm 1996, nguồn FDI ra của thế giới là 346,8 tỉ USD, trongđó từ các nớc
phát triển là 294,7 tỉ USD (chiếm khoảng 85%), Mĩ là nớc đầu t nhiều nhất
thế giới với 85 tỉ USD ( 1995 là 93 tỉ USD) chiếm khoảng 25% FDI của thế
giới. Nhiều nớc Đông Nam á và cả Trung Quốc cũng đầu t ra nớc ngoài, nh-
ng với giá trị không lớn đạt 9,14 tỉ USD và 2,2 tỉ USD ( chiếm khoảng 2,6%
và 0,63% lợng FDI ra thế giới).
Nh vậy có thể thấy nguồn đầu t chính ra nớc ngoài là các nớc phát triển, trớc
hết là các nớc G7 và một số nớc Châu Âu, và các nớc này lại có công nghệ
nguồn, do đó nguồn vốn FDI của chúng có ý nghĩa quan trọng hơn.
FDI chiếm một tỉ lệ khá quan trọng trong GDP của các nớc. Năm 1996, tỉ
trọng FDI vào và ra trong GDP của thế giới chiếm 10,6% và 10,8% đối với
các nớc Đông, Nam, và Đông Nam á tỉ trọng đó là 15,8% và 8,1%. Đối với
Việt Nam tỉ trọng FDI vào trong GDP rất lớn, chiếm 40,2%.
Xu hớng gia tăng việc sát nhập và thôn tính các công ti ngoai quốc của tổ
chức độc quyền xuyên quốc gia, trong đó chủ yếu là Mỹ và Tây Âu, là một
trong những nguyên nhân gây quan trọng gây bùng nổ đầu t nớc ngoài (giai
đoạn 1995-1996) .
Các tổ chức xuyên quốc gia tác động mạnh đến động thái dòng vốn đầu t nớc
ngoài, nó tăng mạnh qua các năm và đạt đến con số 3,2 nghìn tỉ USD vào
năm 1996 . Hơn nữa cơ cấu dòng vốn đầu t cũng có sự thay đổi lớn do điều
chỉnh chiến lợc kinh doanh của các tổ chức xuyên quốc gia. Trong những
thập kỉ gần đây, các tổ chức xuyên quốc gia đã chuyển sang hoạt động ở
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status