LỢI NHUẬN và một số BIỆN PHÁP CHỦ yếu làm TĂNG lợi NHUẬN tại CÔNG TY cổ PHẦN vũ VIỆT VƯƠNG - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
KHOA TÀI CHÍNH.
ĐỀ TÀI
LỢI NHUẬN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU LÀM
TĂNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
QUỐC TẾ SƠN HÀ
Giảng viên hướng dẫn : TS. VŨ QUỐC DŨNG
Sinh viên thực hiện : VŨ VIỆT VƯƠNG
Lớp : TC16.26
MSV : 11A09192
Hà Nội - 2015
1
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG 1 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP 1
1.1 Lợi nhuận và các yếu tố tác động trực tiếp đến lợi nhuận doanh nghiệp 1
1.1.1 Khái niệm về lợi nhuận 1
1.1.2 Cơ cấu giá trị của lợi nhuận trong doanh nghiệp 1
1.1.3 Các yếu tố tác động trực tiếp đến Lợi nhuận Doanh nghiệp 2
1.2 Phương pháp xác định lợi nhuận và một số tiêu chí đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh thông qua lợi nhuận. 3
1.2.1 Phương pháp xác định lợi nhuận 3
1.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua lợi nhuận 4
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng, giảm lợi nhuận doanh nghiệp 6
1.3 Vai trò của lợi nhuận doanh nghiệp 11
1.3.1 Đối với doanh nghiệp 12

TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định
TSDH Tài sản dài hạn
TSNH Tài sản ngắn hạn
VCSH Vốn chủ sở hữu
4
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập và phát triển hiện nay có thể thấy ở bất cứ
một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào cũng quan tâm đến năng suất, chất lượng
và hiệu quả. Đây là những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp, là thước đo trình độ phát triển của doanh nghiệp nói
riêng và của nền kinh tế quốc dân nói chung. Song tất cả đều thực hiện một mục tiêu
cao hơn đó chính là lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận. Phấn đấu để có lợi nhuận và tối
đa hóa lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh, nó có tính chất quyết định tới sự sống còn và phát triển của mọi doanh nghiệp.
Vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc, các nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp
nhằm làm tăng lợi nhuận đối với doanh nghiệp là hết sức cần thiết.
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Quốc tế Sơn Hà, được sự giúp đỡ
của những cán bộ nhân viên công ty cùng sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Tiến sĩ
Vũ Quốc Dũng, em đã nghiên cứu và hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“Lợi nhuận và một số biện pháp chủ yếu làm tăng lợi nhuận tại Công ty Cổ phần
Quốc tế Sơn Hà”. Mặc dù trong bài viết em đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ
hiểu biết còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong
sự góp ý của các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn để em hiểu vấn đề hơn. Em
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn và toàn thể cán bộ nhân viên
phòng kế toán đã giúp em hoàn thành bài luận văn này.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh và tình hình thực hiện lợi

tranh trên thị trường, doanh nghiệp nào trường vốn, có lợi thế về vốn thì sẽ có lợi thế
kinh doanh. Khả năng về vốn dồi dào sẽ giúp doanh nghiệp giành được thời cơ trong
kinh doanh, có điều kiện để mở rộng thị trường từ đó tại đó tạo điều kiện cho doanh
nghiệp tăng doanh thu và tăng lợi nhuận.
- Chi phí sản xuất, kinh doanh: Các loại chi phí như chi phí bán hàng, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sản xuất chung và chi
phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí liên quan tới việc tiêu thụ hàng hoá và quản lý
doanh nghiệp. Các chi phí này phát sinh sẽ làm giảm lợi nhuận và ngược lại. Đây là
các khoản chi phí có ảnh hưởng tương đối đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Mặc dù
vậy có thể thấy chi phí bán hàng tăng do quy mô tăng thì không phải là không tốt. Vì
vậy vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp giảm hai loại chi phí
này, bằng việc giám sát, kiểm tra, quản lý chặt chẽ, xây dựng các khoản mục chi phí
cho phù hợp, có như vậy mới góp phần tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Năng suất lao động: Năng suất lao động là nhân tố đảm bảo sản xuất phát
triển và đời sống con người được nâng cao. Nhờ năng suất lao động mà khối lượng
sản phẩm vật chất, dịch vụ, doanh thu và lợi nhuận tăng lên.
- Trình độ quản lý Doanh nghiệp: Tổ chức quản lý quá trình kinh doanh là rất
quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Quá trình quản lý
bao gồm các khâu cơ bản như: Định hướng chiến 1ược phát triển doanh nghiệp, xây
dựng chiến lược kinh doanh, xây dựng phương án kinh doanh, tổ chức các hoạt động
kinh doanh, kiểm tra đánh giá và điều chỉnh các hơạt động kinh doanh. Các khâu của
quá trình quản lý hoạt động kinh doanh làm tốt sẽ làm tăng sản lượng, nâng cao chất
lượng hạ giá thành sản phẩm, nhờ giảm được chi phí quản lý và chi phí bán hàng. Đó là
điều kiện quan trọng để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
2
1.2 Phương pháp xác định lợi nhuận và một số tiêu chí đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh thông qua lợi nhuận.
1.2.1 Phương pháp xác định lợi nhuận
1.2.1.1 Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp này lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định bằng tổng hợp

nhuận không dự tính trước hoặc những khoản thu mang tính chất không thường
xuyên. Những khoản lợi nhuận khác có thể do chủ quan hoặc khách quan mang lại.
Lợi nhuận hoạt
động kinh tế khác
=
Thu nhập của hoạt
động khác
-
Chi phí hoạt
động khác
-
Thuế gián thu
(nếu có)
Sau khi đã xác định được lợi nhuận của các hoạt động, tiến hành tổng hợp lại
được lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp như sau :
Lợi nhuận trước thuế thu
nhập doanh nghiệp
= Lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh
+ Lợi nhuận hoạt
động khác
Phần còn lại của lợi nhuận sau khi trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp chính là
lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận ròng).
3
Lợi nhuận sau
thuế
=
Lợi nhuận trước thuế
thu nhập
-

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng tài sản đầu tư thì
sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu
quả sử dụng tài sản là tốt, sức sinh lời của tài sản cao, đây là nhân tố giúp chủ doanh
nghiệp đầu tư theo chiều rộng cho hoạt động sản xuất kinh doanh như xây dựng thêm
nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm, mở rộng
thị phần tiêu thụ.
1.2.2.3 Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh ( ROI )
Là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của vốn kinh doanh khi chưa tính đến
ảnh hưởng của lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh
(%)
= Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ
thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Chỉ tiêu này càng cao chứng
tỏ hiệu quả sử dụng vốn tốt, sức sinh lời của vốn kinh doanh cao. Đây là nhân tố hấp
5
dẫn doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh. Qua đây có thể đánh giá được
hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp tìm ra các biện
pháp thích ứng nhằm tận dụng mọi khả năng sẵn có, khai thác sử dụng vốn tiết kiệm
và có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn của mình.
1.2.2.4 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu ( ROE )
Là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn chủ sở hữu bình quân
trong kỳ, được xác định bằng công thức:
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
( %)
= Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ

Tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm hàng hoá là quá trình thực hiện sự kết hợp
chặt chẽ giữa các yếu tố lao động, vật tư, kỹ thuật để tạo ra sản phẩm hàng hoá. Quá
trình này tiến hành tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc tạo ra số lượng sản
phẩm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm và chi phí sử dụng các yếu tố để sản xuất ra
hàng hoá (giá thành). Vấn đề được đặt ra ở đây là sau khi đã lựa chọn được quy mô
sản xuất kinh doanh tối ưu, các doanh nghiệp cần tiếp tục lựa chọn vấn đề kinh tế cơ
bản không kém phần quan trọng là sản xuất nó như thế nào để có chi phí đầu vào và
chi phí đầu ra là thấp nhất, đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao.
Việc quyết định sản xuất như thế nào đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn các đầu
vào: Lao động, vật tư, thiết bị, công nghệ có chất lượng và với giá mua thấp. Các đầu
vào được lựa chọn tối ưu sẽ tạo khả năng tăng năng suất lao động, nâng cao chất
lượng sản phẩm, chi phí sản xuất và giảm giá thành từ đó có cơ sở để tăng lợi nhuận
7
cho doanh nghiệp. Vấn đề thứ hai là các doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp
thích hợp để kết hợp tối ưu các đầu vào trơng quá trình sản xuất ra sản phẩm. Việc
phấn đấu để tìm mọi biện pháp tổ chức tốt quá trình sản xuất sản phẩm hàng hoá là
nhân tố đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng sản lượng để tăng lợi của
doanh nghiệp. Như vậy nhân tố có liên quan chặt chẽ tới quá trình sản xuất kinh
doanh hàng hoá dịch vụ và ảnh hưởng tới lợi nhuận là giá vốn hàng bán.
Giá vốn hàng bán là một trong những nhân tố quan trọng, chủ yếu ảnh hưởng
tới lợi nhuận. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu doanh nghiệp tiết
kiệm chi phí sản xuất, thu mua liên quan đến hàng tiêu thụ sẽ làm cho lợi nhuận bán
hàng tăng lên và ngược lại.
1.2.3.1.3 Việc tổ chức tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ trên thị trường
Sau khi hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra theo những quyết định tối ưu về
sản xuất thì vấn đề tiếp theo của quá trình kinh đoanh là phải tổ chức bán hàng hoá
dịch vụ ra thị trường nhằm thu lợi nhuận để tiếp tục quá trình tái sản xuất và mở rộng.
Lợi nhuận chỉ có thể thu được sau quá trình tiêu thụ và thu được tiền về. Việc tổ chức
tốt công tác tiêu thụ 1àm cho thu nhập tiêu thụ tăng lên, chi phí lưu thông giảm do đó
góp phần làm tăng 1ợi nhuận. Để làm tốt công tác này các doanh nghiệp cần tiến hành

* Các khoản giảm trừ
Giảm giá bán hàng có thể là biện pháp khuyến khích người mua cũng có thể là
do yếu kém của doanh nghiệp (giảm giá thực sự). Tuy nhiên do giảm giá hàng bán
làm giảm lợi nhuận nên ngay cả khi bớt giá cũng phải liên hệ với lợi nhuận, sao cho
lợi nhuận tăng về tổng số. Nghĩa là trong trường hợp khuyến khích người mua doanh
9
nghiệp xác định mức giảm giá cần căn cứ vào các chi phí liên quan tới việc bán hàng
như vận chuyển, bảo quản, thuê kho thuê bãi. Vì vậy doanh nghiệp phải tính toán
sao cho các khoản giảm trừ chỉ giới hạn trong phần chi phí tiết kiệm được do tiêu thụ
được nhiều hàng hoá. Trong trường hợp giảm giá thực sự do yếu kém của doanh
nghiệp thì doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp khắc phục.
* Doanh thu hàng bị trả lại
Phản ánh doanh thu của số hàng tiêu thụ bị trả lại trong kỳ. Hàng bị trả lại
thường là hàng kém phẩm chất không đảm bảo chất lượng, hoặc hàng giao không
đúng chủng loại, thời gian hay giao thừa. Nhân tố này phản ánh những yếu kém của
doanh nghiệp trong việc quản lý chất lượng cũng như tổ chức tiêu thụ.
1.2.3.2 Các yếu tố khách quan
1.2.3.2.1 Quan hệ cung cầu hàng hoá, dịch vụ trên thị trường
Mục đích kinh doanh là cái mà nhà kinh doanh cần đạt tới. Lãi là cái cuối cùng
xuyên suốt quá trình kinh doanh. Nhưng để có lãi nhà kinh doanh đụng chạm tới
nhiều đối tượng. Người quyết định sự phát triển hay phá sản của nhà kinh doanh
chính là người tiêu dùng hay là thị trường, do quy luật cung cầu của thị trường quyết
định. Sự biến động của cung và cầu trên thị trường ảnh hưởng đến khối lượng hàng
hoá bán ra của doanh nghiệp. Nếu cung lớn hơn cầu chứng tỏ nhu cầu về mặt hàng
kinh doanh đã được đáp ứng tương đối đầy đủ, người tiêu dùng không còn ham tiêu
thụ mặt hàng đó cho dù doanh nghiệp có dùng những biện pháp khuyến khích khách
hàng Lúc này việc tăng khối lượng hàng bán ra rất khó khăn và cuối cùng lợi nhuận
của doanh nghiệp sẽ giảm. Ngược lại, nếu cung nhỏ hơn cầu chứng tỏ mặt hàng đang
kinh doanh của doanh nghiệp được người tiêu dùng quan tâm và ưa thích, nói cách
khác doanh nghiệp chưa đáp ứng hết nhu cầu trên thị trường, lúc này doanh nghiệp dễ

nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Đây chính là động lực thôi thúc doanh
11
nghiệp năng động hơn nữa để khẳng định mình trong môi trường cạnh tranh gay gắt.
1.3.1 Đối với doanh nghiệp
Đây là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả của quá trình kinh
doanh, là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ tồn tại và hoạt động
khi nó tạo ra lợi nhuận, nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thu không bù
đắp được chi phí đã bỏ ra thì doanh nghiệp sẽ đi đến chỗ phá sản. Trong những năm
gần đây nước ta có rất nhiều xí nghiệp, doanh nghiệp phá sản hoặc giải thể do làm ăn
thua lỗ không có hiệu quả, trong đó có cả các doanh nghiệp của Nhà nước, tư nhân
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường khó khăn như hiện nay, cạnh tranh
càng xảy ra gay gắt và khốc liệt vì vậy lợi nhuận là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với
doanh nghiệp:
- Tạo ra khả năng tiếp tục kinh doanh có chất lượng, thúc đẩy doanh nghiệp
nâng cao năng suất và hiệu quả cao hơn.
- Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng
trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, là điều kiện quan trọng đảm bảo
cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có
lợi nhuận cao thì khả năng thanh toán mạnh, doanh nghiệp có thể hoàn trả mọi khoản
nợ đến hạn và ngược lại.
- Chỉ tiêu lợi nhuận cũng là căn cứ để đánh giá năng lực, về nhân sự, năng lực
về tài chính, năng lực quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Lợi nhuận cao cho thấy triển vọng phát triển của doanh nghiệp trong tương
lai. Doanh nghiệp có thể trích lập các quỹ phục vụ cho việc tái sản xuất giản đơn, tái
sản xuất mở rộng, phục vụ cho công tác phúc lợi.
- Thước đo trình độ quản lý của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đạt được lợi
nhuận cao khi tăng được doanh thu và đảm bảo tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn
tốc độ tăng của chi phí. Tức là doanh nghiệp sẽ tăng được lợi nhuận khi công tác
12
quản lý có hiệu quả từ khâu sản xuất đến lưu thông.

- Ngày thành lập : 23/11/1998
- Giấy phép kinh doanh số : 0100776445
- Trụ sở chính: Lô số 2 CN, cụm Công nghiệp nhỏ và vừa Từ Liêm, xã Minh
Khai, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Điện thoại : (04) 62 65 65 66
- Fax : (04) 62 65 65 88
- Vốn điều lệ: 600.000.000 đồng
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
- Công ty Cổ phần Quốc tế Sơn Hà tiền thân là Công ty TNHH Cơ Kim khí Sơn
Hà, được thành lập và hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
070376 ngày 23 tháng 11 năm 1998, do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà
Nội cấp. Công ty chuyển đổi sang mô hình Công Ty Cổ Phần từ ngày 30 tháng
10 năm 2007 và hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh donah số
0100776445 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp cùng ngày.
- Trải qua 16 năm hình thành và phát triển liên tục, Tập đoàn Sơn Hà hiện đang
là tập đoàn có thương hiệu mạnh trên thị trường Việt Nam và Quốc tế về các
sản phẩm trong lĩnh vực kim khí như Gia dụng và Công nghiệp. Các sản phẩm
chủ chốt của Sơn Hà bao gồm Bồn nước inox Sơn Hà, Máy nước nóng năng
lượng mặt trời Thái Dương Năng, Bồn nước nhựa Sơn Hà, Chậu rửa inox Sơn
Hà, Ống inox trang trí và công nghiệp, Bồn nhựa lắp ghép Sơn Hà – BK,…
14
2.1.3 Chức năng hoạt động của công ty
- Là một đơn vị có uy tín vững chắc trong ngành thép không gỉ hàng đầu Việt Nam
với hàng trăm đối tác nước ngoài tại hơn 20 quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nga,
Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Argentina, Mexico …… Sản phẩm từ thép không gỉ của Sơn
Hà luôn là sự lựa chọn hàng đầu của các đơn vị sản xuất tại thị trường trong và
ngoài nước. Sơn Hà hiện là đơn vị duy nhất tại Việt Nam được tổ chức chứng nhận
quốc tế uy tín TUV chứng chỉ PED – một chứng chỉ quan trọng giúp Sơn Hà có
thể xuất khẩu ống thép không gỉ vào các thị thị trường khắt khe như Châu Âu và
Mỹ

công việc khác theo ủy quyền khi giám đốc đi vắng.
 Các phòng ban:
• Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ lập kế hoạch cho công tác quản lý nhân
sự. Lập kế hoạch cho công tác tiền lương, chế độ lao động, định mức lao động và cấc
chế độ chính sách hợp lý với người lao động, thực hiện công tác văn thư, y tế và quản
lý văn phòng.
• Phòng kế toán tài chính:
+ Có nhiệm vụ chỉ đạo và thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, thông tin
kinh tế, tổ chức hạch toán kinh tế trong nội bộ công ty. Thông qua số liệu tập hợp, kế
hoạch thu chi tài chính, kế hoạch thu nợ, kế hoạch thanh toán. Kiểm tra việc bảo quản
sử dụng các loại tài sản, vật tư tiền vốn từ đó phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi
tham ô lãng phí, các hành vi vi phạm chính sách quản lý kinh tế, chế độ và kỷ luật tài
chính của nhà nước. Cung cấp các tài liệu, số liệu cho nhà điều hành và quản trị
doanh nghiệp về các hoạt động sản xuất kinh doanh.
• Phòng kinh doanh: làm nhiệm vụ tiêu thụ hàng hóa, có trách nhiệm giúp giám
đốc biết về tình hình kinh doanh và tiêu thụ hàng hóa của công ty nhằm mục đích thực
hiện kinh doanh có hiệu quả.
16
- Các phân xưởng: chịu trách nhiệm về công tác chế tạo, gia công sản phẩm theo kế
hoạch của công ty giao hàng tháng, quý, năm. Sử dụng và bảo quản máy móc, thiết
bị, nhà xưởng. Chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên trong phân xưởng.
17
2.2Tình hình hoạt động kinh doanh tại Công ty cổ phần Quốc tế Sơn Hà
2.2.1 Vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần quốc tế Sơn Hà
2.2.2 Tình hình doanh thu, chi phí của Công ty CP Quốc tế Sơn Hà giai đoạn
2012-2014
2.2.2.1 Tình hình doanh thu
Bảng 2.2: Tình hình doanh thu năm 2012- 2014 công ty Cổ phần Quốc tế Sơn Hà
(Đơn vi tính: Triệu đồng)
Chỉ tiêu

(Nguồn: Báo cáo tài chính - Công ty cổ phần Quốc tế Sơn Hà)
Nhận xét : Trong tổng doanh thu của công ty đạt được thì doanh thu về bán hàng và
cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất và gần như là toàn bộ (> 98%). Điều đó cho
thấy khối lượng lớn sản phẩm của công ty được tiêu thụ trên thị trường và đây cũng là
hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho công ty. Mặc dù vậy qua 3 năm từ 2012
đến 2014 tỷ trọng của doanh thu bán hàng và CCDV đang có xu hướng giảm dần. Đi
sâu vào phân tích ta thấy :
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ : Năm 2013 tăng so với năm 2012
là 175.267 triệu đồng tức là tăng 9,59%, năm 2013 là một năm làm ăn tốt của doanh
nghiệp. Tuy nhiên năm 2014 lại là một năm đầy biến động. Doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ giảm so với năm 2013 là 342.411 triệu đồng tương ứng giảm 17,1%.
18
Nguyên nhân chủ yếu là do năm 2014 là một năm nền kinh tế có nhiều biến động, tiêu
thụ hàng hóa giảm sút đáng kể.
- Doanh thu từ HĐTC : Mặc dù chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng doanh thu
và hầu như là không đáng kể. Qua 3 năm từ 2012 đến 2014 doanh thu từ hoạt động tài
chính đang có xu hướng tăng, giảm thất thường. Năm 2012 là 23.004 triệu đồng năm
2013 chỉ còn 15.352 triệu. Năm 2014 đã tăng lên 19.739 triệu đồng, khoản doanh thu
này chủ yếu từ tiền gửi lãi ngân hàng.
- Thu nhập khác : Cũng giống như doanh thu từ hoạt động tài chính, thu nhập
khác cũng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu và đang có xu hướng giảm dần tỷ
trọng qua các năm. Mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ và không thường xuyên nhưng nó
cũng góp phần làm tăng doanh thu.
Tóm lại: Trong giai đoạn 2012-2014 này, kinh tế đang khó khăn và đầy biến động,
tuy nhiên năm 2013 công ty đã hoạt động kinh doanh tốt hơn rất nhiều khi tổng doanh
thu tăng tương đối nhiều (tăng 156.976 triệu đồng tương ứng tăng 8,43%). Tuy nhiên
đến năm 2014 lại giảm đi 338.689 triệu đồng, tương ứng giảm đến 16,78% so với
năm 2013. Mặc dù thời buổi kinh tế khó khăn nhưng điều này đòi hỏi doanh nghiệp
cần phải có các biện pháp thích hợp để cải thiện được tình hình và làm tăng được
doanh thu, đưa kinh tế đi lên. Qua đây ta thấy được tầm quan trọng của doanh thu,

1.837.295 100 2.002.269 100 1.673.407 100 164.974 8,98 -328.862 -16,42
(Nguồn: Báo cáo tài chính - Công ty cổ phần Quốc tế Sơn Hà)
Nhận xét: Để có thể biết rõ hơn những nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty,
ta cùng theo dõi và phân tích các nhân tố chi phí trong bảng số liệu trên:
- Giá vốn hàng bán : Năm 2012 là 1.604.531 triệu đồng, chiếm 87,33% trong
tổng chi phí, sang năm 2013 giá vốn hàng bán là 1.798.204 triệu đồng, chiếm tỷ trọng
89,81% trong tổng chi phí. Đến năm 2014 giá vốn hàng bán là 1.460.113 triệu đồng
chiếm 87,25% trong tổng chi phí. Có thể thấy do doanh thu tăng (giảm) nên giá vốn
tăng (giảm) là điều tất nhiên, tuy nhiên do năm 2014 giá nguyên vật liệu đầu vào thì
tăng do lạm phát do đó công ty đã chủ động giảm giá bán để kích thích tiêu dùng và
để có thể tiếp tục duy trì được sản xuất.
- Chi phí hoạt động tài chính: Đang biến động nhưng có xu hướng giảm dần
qua các năm. Cụ thể năm 2012 là 147.454 triệu đồng sang năm 2013 giảm xuống còn
119.113 triệu đồng. Sang đến năm 2014 là 95.843 triệu đồng, giảm 23.270 triệu đồng
so với năm 2013 tương ứng tỷ lệ giảm là 19,54%. Chi phí tài chính giảm là do công ty
đã trả bớt các khoản vay nợ. Tuy chỉ ở mức nhỏ nhưng công ty cần có các biện pháp
để cắt giảm chi phí này, tránh những khoản vay không cần thiết, vì để chi phí này cao
công ty hoàn toàn không thu được lãi từ hoạt động tài chính, thậm chí còn lỗ.
20

Trích đoạn Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận của công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status