4M s VJ *
i
7-100
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUÂT
NGUYỄN VĂN NHƯỜNG
TÁCH BẠCH GIỮA SỞ HỮU VÀ ĐIỀU HÀNH
TRONG CÔNG TY c ổ PHẦN Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ
: 60.38.50
LUẬN VÃN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
NGUỜI HUỐNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
, ĐẠI HỌC QUỐ C GIA HÀ NỘ!
ị 'RƯNG TAM ÍHỒNG TIN ĨHƯ VIỆN
' V -U O / z f o ^
HẢ NỘI - NĂM 2006
1
Chương 1. LÝ LUẬN VỀ TÁCH BẠCH GIỮA SỞ HŨU VÀ ĐIỀU HÀNH
TRONG CÔNG TY c ổ PHAN
13
1.1. Sơ lược những đặc trưng và sự cần thiết phải tách bạch giữa sở hữu và
điều hành trong CTCP
13
1.1.1. Đặc trưng của CTCP
13
1.1.2. Sự cần thiết phải tách bạch giữa sở hĩru và điều hànhtrong CTCP
1.2. Sở hữu và điều hành trong công ty cổ phần
17
19
1.2.1. Khái niệm
19
1.2.2. Chủ sờ hữu công ty cổ phần
22
1.2.3. Hội đổng quản trị
48
3
2.1.1. Giai đoạn trước khi LCT 1990 ra đời
48
2.1.2. Sờ hữu và điều hành trong CTCP theo LCT 1990 và thực tiễn thi
hành
49
2.1.2.1. Mô hình sở hữu và điểu hành
49
2.1.2.2. Thực tiễn thực thi tách bạch giữa sở hữu và điều hành
51
2.1.3. Sở hữu và điều hành trong CTCP theo LDN 1999
52
2.1.3.1. Quyển của chủ sờ hữu công ty
52
2.2.3. Thực hiện quyển giám sát công ty
70
2.2.4. Quyên của người điều hành trong CTCP
71
2.3. Các yếu tô' tác động đến thực tiễn tách bạch giữa sờ hữu và điều hành
trong CTCP ờ Việt Nam hiện nay
73
2.3.1. Tác động của truyền thống kinh doanh tới thực tiễn tách bạch
giữa sở hữu và điều hành trong CTCP theo LDN 1999
73
2.3.2. Tác động của cơ cấu phân bổ quyển lực tới thực tiễn tách bạch
giữa sở hữu và điểu hành trong CTCP
74
2.3.3. Tác động của các thể chế hỗ trợ tới thực tiễn tách bạch giữa sờ
hữu và điểu hành trong CTCP
78
2.3.4. Tác động của cơ cấu CSHCT tới thực tiễn tách bạch giữa sờ hữu
và điều hành trong CTCP
Chương 3. MỘT s ố KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM THỤC
THI CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÁCH BẠCH GIỮA s ở HŨU VÀ
ĐIỀU HÀNH TRONG CÔNG TY c ổ PHẦN ở VIỆT NAM HIỆN NAY
87
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về sở hữu và điều hành trong CTCP ở
Việt Nam hiện nay
87
3.1.1. Định hướng của Đảng vể việc hoàn thiện pháp luật sở hữu và
điều hành trong CTCP
87
3 .1.2. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về sở hữu và điều hành trong CTCP
từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
3.2. Các khuyến nghị vể sở hữu và điểu hànhtrong CTCP của OECD
3.2.1. Ọuyẻn của các CSHCT
88
91
91
3.2.3. Công khai và minh bạch
92
3.2.4. Trách nhiệm của HĐQT
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮ T
BKS
Ban Kiểm soát
CIEM
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
CSHCT
Chủ sờ hữu công ty
CTCP
Công ty cổ phần
CTTNHH
cỏng ty trách nhiệm hữu hạn
CPH
Cổ phần hóa
DNNN
So sánh sở hữu và điều hành trong CTCP với sở hữu và điều hành
trong một số loại hình doanh nghiệp phổ biến.
Bảng 2.1.
So sánh thẩm quyền của ĐHĐCĐ và HĐQT.
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1.
Mô hình sở hCai và điều
hành trong công ty cổ phần ở Mỹ
Hình 1.2.
Mô hình sở hữu và điều
hành trong công ty cổ phẩn ở Nhật
Hình 1.3.
Mô hình sở hữu và điều
hành trong công ty cổ phần ở Đức
6
MỞ ĐẦU
7
vào quá trình hội nhập, mặc dù pháp luật đã được hoàn thiện ở mức độ nhất định
nhưng CTCP chưa trở thành loại hình doanh nghiệp có khả nâng huy động có hiệu
quả nguồn vốn nhàn rỗi lớn trong dân. Bởi vậy, các quy định pháp luật nói chung
trong đó có quy định về sở hữu và điều hành trong CTCP cần phải vừa tương thích
với các thông lệ quốc tế, vừa phải phù hợp với tình hình thực tế ờ nước ta để khuyến
khích nhiểu nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài có xu hướng bỏ vốn mua cổ
phần.
Trong bối cảnh đó, nhằm tìm hiểu vấn đề tách bạch giữa sở hữu và điều hành
trong CTCP, thực trạng tách bạch giữa sở hữu và điêu hành trong CTCP ở Việt Nam
hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị cần thiết hoàn thiện và bảo đảm thực thi các
quy định pháp luật về tách bạch giữa sở hữu và điểu hành trong CTCP ở Việt Nam.
Tôi mạnh dạn chọn để tài “Tách bạch giữa sở hữu và điểu hành trong CTCP ở
Việt Nam" làm Luận vãn tốt nghiệp cao học Luật.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Mục đích: Việc nghiên cứu đề tài "Tách bạch giữa sở hữu và điểu hành trong
CTCP ở Việt Nam" có mục đích góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về tách bạch giữa sở hữu và điều hành trong CTCP ở Việt Nam trên cơ sở
nghiên cứu nguồn gốc, đặc điểm, nội dung, mô hình, xu hướng, và những vấn đề
phát sinh từ thực tiễn tách bạch giữa sở hữu và điểu hành trong CTCP của các nước
trên thế giới; Nội dung và thực tiễn quá trình thực hiện tách bạch giữa sở hữu và
điều hành trong CTCP ở Việt Nam, qua đó phân tích một số nguyên nhân hạn chế
việc thực thi các quy định của pháp luật về tách bạch giữa sở hữu và điều hành trong
CTCP ở Việt Nam. Phần cuối, đưa ra một số kiến nghị mang tính định hướng nhằm
hoàn thiện đảm bảo thực thi có hiệu quả các quy định của pháp luật về tách bạch
giữa sở hữu và điều hành trong CTCP ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ: Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về đặc điểm, nguồn
Phạm vi nghiên cứu của đé tài:
Tách bạch giữa sở hữu và điểu hành trong CTCP là khái niệm chỉ mối quan
hệ giữa chủ sở hữu và người điều hành trong CTCP. Liên quan đến mối quan hệ này,
trong CTCP còn dùng đến một cơ chế sử dụng quyền lực thông qua trung gian đại
diện là HĐQT, BKS,... Trong phạm vi luận vãn này, tôi xin chỉ tập trung làm rõ một
số vấn đề về sự tách bạch giữa sở hữu và điều hành trong CTCP và những vấn đề liên
quan đến việc đảm bảo thực hiên tách bach giữa sở hữu và điều hành trong CTCP
như vấn để người đại diện; vấn đề ủy quyển và tác nghiệp trong CTCP; quyền
CSHCT; quyền của người điều hành; mâu thuẫn giữa CSHCT và người điều hành
trong CTCP.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận truyển thống của chủ
nghĩa Mác Lênin; Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử và
10
các phương pháp khác như: Đọc tư liệu, phỏng vấn chuyên gia, xây dựng mô hình,
phương pháp đối chiếu so sánh (Được sử dụng dể so sánh sờ hữu và điều hành giữa
các mô hình sở hữu và điều hành CTCP điển hình trên thế giới; so sánh kinh nghiệm
tách bạch giữa sở hữu và điều hành trong CTCP một số nước trên thế giới với thực
trạng ỡ Việt Nam...), phương pháp phân tích-tổng hợp, thống kê, xã hội học.
Kết cấu của luận văn:
Chương 1. Lý luận vế tách bạch giữa sở hữu và điểu hành trong CTCP.
Chương 2. Thực trạng pháp luật điểu chỉnh tách bạch giữa sờ hữu và điều hành trong
CTCP ở Việt Nam.
Chương 3. Một số kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm thực thi các quy định pháp luật
về tách bạch giữa sở hữu và điểu hành trong CTCP ờ Việt Nam hiện nay.
đó giới hạn quyền của người cho vay đối với những tài sản của công ty, chứ không
có quyển đối với những tài sản cá nhân của các CSHCT, người điều hành, hay những
người tham gia khác như người lao động, nhà cung ứng, hay khách hàng của công
ty, chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số tiền đã góp vào công ty trước
các khoản nợ của công ty và công ty đương nhiên vẫn phải chịu trách nhiệm tài sản
vô hạn bằng tài sản của công ty trước các khoản nợ của công ty.
Trong khi tư cách pháp nhân cho phép công ty được sở hữu tài sản, và do vậy,
đóng vai trò như một bảo đảm dành cho chủ nợ của công ty; thì trách nhiệm hữu hạn
bảo đảm bảo toàn tài sản cá nhân của các CSHCT trước những rủi ro mà công ty có
thể găp phải. Như vậy, tư cách pháp nhân và tính trách nhiệm hữu hạn của CSHCT
trong CTCP tạo nên một đặc trưng pháp lý trong CTCP đó là tài sản riêng của cá
nhân nhà đầu tư được bảo toàn, trong khi tài sản của công ty được bảo đảm ưu tiên
cho các khoản nợ của các chủ nợ của công ty.
Trong lịch sử, trách nhiệm hữu hạn không phải luôn luôn gắn liền với hình
thức CTCP. Lịch sử đã từng tồn tại một số hệ thống pháp luật qui định trách nhiệm
vô hạn của CSHCT đối với các khoản nợ của công ty. Tuy nhiên, ngày nay trách
nhiệm hữu hạn của các CSHCT cổ phần đã trờ thành một đặc điểm gần như phổ biến
13
mang tính toàn cầu của hình thức CTCP. Tính trách nhiệm hữu hạn ra đời được xem
như là một phát minh trong phát triển kinh tế của loài người, đáp ứng được nhu cầu
đầu tư của nhiều người, đáp ứng nhu cầu tích tụ và tập trung vốn lớn phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Ngày nay, CTCP đã trở thành hình thức tổ chức doanh nghiệp mang tính
thống trị với những ưu việt giải quyết nhu cầu vể vốn trên thế giới. Đây là hình thức
huy động vốn trên quy mô lớn một cách hiệu quả nhất. Các CSHCT có thể đầu tư
vào công ty mà không phải chịu rủi ro vể trách nhiệm cá nhân và không phải lệ
thuộc vào uy tín hay độ tin cậy cùa những người cùng đầu tư như trong hình thức
đầu tư vốn rút lui khỏi tư cách là chủ sở hữu thực thụ đối với những tài sản mà mình
góp để hình thành nên tài sản của công ty hay vốn điều lệ của công ty. Thay vào đó,
các nhà đầu tư vốn sẽ trở thành CSHCT cổ phần đó và được gọi là các cổ đông
(CSHCT) [49,13]. Điểu này có nghĩa ỉà nếu các CSHCT đã góp vào công ty một
chiếc xe taxi theo một giá trị nhất định thì cổng ty và CSHCT đó phải tuân theo các
nguyên tắc về chuyển quyển sờ hữu tài sản góp vốn từ CSHCT sang công ty. Như
vậy, Những tài sản mà thành viên công ty đóng góp cho công ty sẽ trở thành tài sản
của cỏng ty. Tài sản của công ty do tất cả thành viên góp và được ghi vào Điều lệ
công ty. CSHCT sở hữu các cổ phần hay sở hữu chung công ty, còn công ty với tư
cách pháp lý độc lập sẽ là sở hữu chủ đối với những tài sản đã góp vào công ty.
Chính do đặc điểm độc lập, tách khỏi các CSHCT của nó nên CTCP không bị
ảnh hưởng bởi sự chuyển nhượng vổn của các CSHCT cho nên dù CSHCT có chết đi
thì công ty vẫn tồn tại. Trên thế giới đã có CTCP tồn tại hàng trăm nãm[10, tr 45].
CTCP có nhiều chủ sở hữu:
CTCP được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài
người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế quốc gia phát
triển [10, tr 18Ị. Trên thế giới có những CTCP rất lớn, có số CSHCT lên đến hàng
triệu người với số vốn khổng lổ. Chẳng hạn như công ty IBM, ATT, GMC của Mỹ
có sô' CSHCT (cổ đông) lên đến hàng triệu người. Ngay như ờ Việt Nam số CSHCT
của ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank cũng lên tới con số gần 7 nghìn cổ
đông, CTCP cơ khí xăng đầu ở thành phố HCM có số CSHCT cũng lên đến gần 6
nghìn. Theo quy định của pháp luật nước ta sô' lượng CSHCT trong công ty cổ phân
tối thiểu là ba và không có giới hạn về tối đa số lượng CSHCT (Điều 77 khoản I
điểm b LDN 2005). Thâm chí, các nghiên cứu gần đây còn cho rằng việc quy định
15
16
hiệu quả kinh tế trong điều hành công ty, vì lợi ích của công ty[30, tr265].
1.1.2. Sự cần thiết phải tách bạch giữa sở hữu và điều hành trong CTCP
Số lượng CSHCT cổ phần có thể rất đông, do vậy, khó có thể đuy trì hình
thức quản lý theo kiểu thành viên góp vốn đứng ra trực tiếp điều hành, quản lý công
ty như Hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, CTTNHH; hay mọi thành viên trong công
ty đều có quyển tham gia trong hoạt động điều hành và có thể nhân danh công ty
trong mọi giao dịch như các thành viên hợp doanh trong công ty hợp danh. Khó có
thể tưởng tượng một CTCP với hàng triệu CSHCT[10, trl8], mỗi người đều có thể
hành động nhân danh công ty và mỗi người phải chịu trách nhiệm về hành động của
hàng triệu thành viên còn lại.
Do vậy, ờ loại hình CTCP, thường có sự tách bạch giữa quyền sờ hữu công ty
và quyền điểu hành công ty (30, tr267]. Ông Nguyễn Ngọc Bích đã ví nếu CTCP ỉà
một chiếc xe Taxi thì người chủ của CTCP là người chủ của chiếc xe, còn tài xê
chính là người điều hành công ty đó. Người chủ có thể có rất nhiều xe và không nhất
thiết phải biết lái xe[ 10, trló]. Còn theo Clark, lợi ích kinh tế của sự tách bạch này là
góp phần chuyên môn hóa hoạt động của công ty. Bởi vì, nhà đầu tư không phải và
không nhất thiết phải là người có khả năng trực tiếp điều hành công ty tốt. Sự
chuyên mốn hóa làm giảm chi phí quản lý, điêu hành công ty. Nếu hàng triệu
CSHCT cùng trực tiếp tiếp nhận thông tin, cùng đánh giá, phân tích và thảo luân để
đưa ra được một quyết định tác nghiệp kinh doanh tốt nhất là một quy trình cực kỳ
phức tạp và không hiệu quả.
Với mục đích giảm chi phí, các CSHCT sẽ ủy quyẻn cho các nhà quản lý
chuyên nghiệp điểu hành công ty của mình. Và để đảm bảo rằng các nhà quản lý
không đi ngược lại lợi ích của mình, các CSHCT thành lập ra bộ máy, cơ chế để
quản lý, kiểm soát hoạt động của bộ máy điều hành. Đó là HĐQT, BKS, và các chế
định quan trong như phát hành thêm cổ phiếu hay chia cổ tức sẽ được các CSHCT
quyết định tại ĐHĐCĐ. Dù vậy, nói chung, các CSHCT thụ động hơn nhiều so với
người điểu hành công ty. Sự tách bạch giữa sở hữu và điểu hành công ty luôn luôn là
mối quan tâm của các CSHCT do có xung đột lợi ích, nhĩmg người điều hành công
ty có khuynh hướng hành động vì quyển lợi của riêng họ chứ không vì lợi ích tối đa
của các CSHCT.
Có người còn cho rằng, tách bạch giữa sở hữu và điều hành là một hiện tượng
trong CTCP, cứ là CTCP thì có sự tách bạch giữa sờ hưu và điểu hành, đây là hiện
tượng hiển nhiên không cần phải chứng minh. Tuy nhiên, cũng chính vì hiện tượng
này mà lý luận cũng như thực tiễn pháp lý đã tốn không biêt bao nhiêu giấy mực để
tìm cách giải quyết các vấn để mâu thuẫn lợi ích có nguyên nhân từ việc tách bạch
18
giữa sở hữu và điểu hành, và cũng chính vì thế mà quản trị CTCP mới trở nên cần
thiết.
1.2.
Sở hữu và điểu hành trong công ty cổ phần
1.2.1. Khái niệm
Sở hữu và điều hành trong một sô loại hình doanh nghiệp:
Bảng 1.1. So sánh sở hữu và điều hành trong CTCP với sở hữu và điều
hành trong một sô loại hình doanh nghiệp phổ biến.
Thuộc tính
Loại
Hợp danh
Vô hạn,
(Partnership)
liên đới.
Một cá
nhân
Thấp, gần
như bằng
không
Quen biết,
tin tường
(Limited liability
hạn số
Thấp
(Corporation)
tách biệt
hữu thuê.
lượng
company)
hoặc
nhau
nhau, giới
Hữu hạn
hữu
Là chủ sở
Quen biết
CTTNHH
Là chủ sở
Hữu hạn
quen biết,
phân tán
Cao, tổ
Làm thuê,
sàng từ bỏ quyển kiểm soát, quyển điều hành công ty cho người khác để đổi lấy tính
trách nhiệm hữu hạn đối với phẩn vớn góp vào công ty. Thậm chí ngay cả trong
trường hợp xấu nhất, các CSHCT cổ phần vẫn có thể bán cổ phần của mình đi nếu
vẫn còn kịp, cùng lắm thì họ cũng chỉ chịu rủi ro trong phạm vi số vốn đã góp vào
công ty mà thôi.
Nếu trong công ty hợp danh các thành viên hợp danh có quyền nhân danh
cồng ty, điểu hành công ty và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn trước các chủ
nợ của công ty thì ngược lại, trong CTCP, các CSHCT không có quyền gì đáng kể
đối với hoạt động điều hành của công ty, ngoài quyền yêu cầu công ty mua lại cổ
phẩn hoặc bán cổ phần của mình cho người khác nếu không hài lòng với cách thức
điểu hành công ty.
CTTNHH được xem là cầu nối giữa công ty hợp danh và CTCP, kết hợp được
ưu điểm của CTCP và công ty hợp danh, khắc phục được nhược điểm pháp lý phức
tạp vể sở hữu và điểu hành, chi phí đại diện cao trong CTCP và không phân chia rủi
ro ờ công ty hợp danh. Các CSHCT trách nhiệm hữu hạn trên cơ sở quen biết nhau
(không được đặt ờ vị trí hàng đầu như trong công ty hợp danh), phần vốn góp vào
công ty mà tự phân công nhau đảm nhiệm các chức vụ quản lý, điều hành trong
công ty. Đối với CTCP, sở hữu và điều hành phức tạp hơn nhiều, nhiệm vụ quan
trọng của các CSHCT là bầu đại diện của mình vào HĐQT, nhiệm vụ tiếp theo của
20
HĐQT mới là lựa chọn, thuê, giám sát, sa thải người điều hành. Các CSHCT cổ phần
không có quyền can thiệp trực tiếp vào hoạt động tác nghiộp thường nhật của người
điều hành công ty.
Sở hữu và điều hành trong CTCP:
Điều hành (management) trong CTCP được hiểu là một tập hợp các cơ chế
nhằm điều khiển và kiểm soát hoạt động của công ty. Bộ máy điều hành phân định
thể thường xuyên đưa ra các quyết định sai lầm nếu như không được giam sát đầy
đủ và chịu sự điều chỉnh thường xuyên của cơ chế giám sát, kiểm tra[30, tr332].
Những công ty được điều hành theo kiểu gia đình tỏ ra không phù hợp với sự
đa dạng hóa, chuyên môn hóa của môi trường hoạt động kinh doanh hiện nay: Việc
điều hành công ty đòi hòi ngày càng phải chuyên nghiệp hơn. Rõ ràng, xung đột về
mặt lợi ích chưa xuất hiện trong các công ty đóng kín [10, tr268]. Hơn nữa, việc mở
rộng quy mô, địa bàn hoạt động để nâng cao sức cạnh tranh của công ty đòi hỏi phải
thu hút vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài: cùng với đó là yêu cầu về tính rõ ràng,
minh bạch của hệ thống điều hành trong công ty để những nhà đầu tư bên ngoài có
thể tin cậy mà "gửi" tiền vào kinh doanh.
1.2.2. Chủ sở hữu của công ty cổ phần
Thuyết quyền thành viên cho rằng, quyển của CSHCT thể hiện địa vị pháp lý
của các CSHCT dựa vào việc họ là (hành viên của công ty. Quyền CSHCT là quyền
thành viên tương ứng với phần vốn góp của mình trong công ty. Quyền thành viên
gổm hai nhóm quyền: quyển lợi ích riêng và quyển lợi ích chung. Hai nhóm quyền
này không phải là những quyền độc lập với nhau mà là hai quyền năng có nguồn
gốc từ quyển thành viên. Lý thuyết này đã được Nhật Bản, Trung Quốc kế thừa cũng
như đã trở thành lý thuyết chung của hệ thống dân luật (civil law) vé bản chất của
quyền CSHCT. Tuy nhiên, thuyết quyển thành viên dù đã khẳng định quyền CSHCT
gồm tổng thể các nhóm quyền lợi của CSHCT, nhưng về cơ bản, chưa trả lời thỏa
đáng câu hỏi vị trí pháp lý quyển của các CSHCT. Người ta không thể dùng lý
thuyết này để giải thích một cách hợp lý mối quan hệ nội bộ giữa công ty với các
CSHCT và giải thích thỏa đáng những xung đột lợi ích giữa CSHCT và công ty.
Thuyết địa vị CSHCT cho rằng, quyền CSHCT thể hiện địa vị pháp lý của
CSHCT dựa vào phần vốn góp hoặc cổ phần của họ, mà nhờ có địa vị pháp lý này,
các CSHCT thụ hường các quyền lợi đối với công ty. Lý thuyết này thực chất không '
22
chia phần tài sản còn lại khi công ty đã thanh toán hết nợ nần trong trường hợp giải
thể hay phá sản công ty.
CSHCT thực hiện quyền lực của mình qua việc tham gia ĐHĐCĐ thực chất
chỉ thực hiện có hai việc: một là, chọn lựa hoặc bãi nhiệm HĐQT; hai là, phê chuẩn
một số hoạt động bất thường của công ty. Trong hai việc này thì bầu ra HĐQT là
quyền lớn nhất của CSHCT vì qua đó họ chọn ra người đại diện cho mình. Bầu chọn
hay bãi nhiệm thành viên HĐQT tạo ra một áp lực lớn để buộc các thành viên
24
HĐQT làm tốt công việc của mình. Luật cho phép các CSHCT có quyển bãi nhiệm
thành viên HĐỌT cũng như cả HĐQT không cần lý do, trừ khi điểu lệ công ty có
quy định khác. Như vậy, CSHCT không có quyền can thiệp trực tiếp đến quyén của
người điều hành công ty, nếu muốn can thiệp, họ chỉ có thể can thiệp bằng cơ chế
trung gian đó là HĐQT. Đây là đặc trưng pháp lý của CTCP khiến cho loại hình
doanh nghiệp này khác biệt với các loại hình đoanh nghiệp khác.
Một sô' hoạt động bất thường của công ty đòi hỏi phải có sự phê chuẩn của
CSHCT vì chúng liên quan trực tiếp tới số phận của công ty, hoặc ảnh hưởng đến
mục đích ban đầu của các CSHCT. Luật pháp giới hạn các hoạt động bất thường đó
là: cho thành viên HĐQT vay tiền, bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của công ty
nằm ngoài kế hoạch, chiến lược kinh doanh bình thường đã được thông qua, sáp
nhập, sửa đổi điều lệ công ty, giải thể công ty. Tuy nhiên, liên quan đến những
quyển này, CSHCT chỉ có quyền phê chuẩn mà không có quyền đề xuất.
Bảo đảm cho việc thực thi quyền biểu quyết của mình tại cuộc họp một cách
hiệu quả, CSHCT có quyên được cung cấp thông tin vể tình hình hoạt động của cỏng
ty. Tuy nhiên, LCT nhiểu nước quy định, thông tin mà các CSHCT có quyền được
cung cấp bị giới hạn, chỉ trong phạm vi: biên bản họp HĐQT; sổ sách kế toán; danh
sách CSHCT.
LCT các nước trôn thế giới nhìn chung đều có quy định bảo vệ quyền lợi cho
Các chủ sở hữu CTCP bầu ra HĐQT, yêu cầu bộ phận này chịu trách nhiệm
việc quản lý công ty, lựa chọn người điều hành, giám sát hoạt động điều hành, và
bảo đảm rằng công ty lúc nào cũng tạo ra lợi nhuận, HĐỌT phải là người đại diện
cho các CSHCT: được giao quyền lực và bị ràng buộc bằng cơ chế chịu trách nhiệm.
Quyền hạn của hội đồng quản trị:
HĐQT là bộ phận đại diện cho các CSHCT và làm việc theo chế độ tập thể.
Quyển lực trong CTCP bản chất thuộc về các CSHCT, nhưng các CSHCT thì không
thể tham gia trực tiếp các công việc quản ỉý hàng ngày, vì vậy quyền lực thực hiện
thuộc vế HĐQT. Tất cả quyền lực trong công ty đều phải được quyết định thông qua
HĐQT hay theo sự uỷ quyền của HĐQT cho người điểu hành. Hoạt động kinh
doanh và quản lý nội bộ trong cồng ty được thực hiện theo sự hướng dẫn, cho phép
của HĐQT. Do vậy, người điều hành tiến hành công việc theo sự uỷ quyển từ
HĐQT, và chịu trách nhiộm trước HĐQT. Nếu như quyển quan trọng nhất của
CSHCT là bầu ra HĐQT và hầu như không có quyền hạn gì can thiệp trực tiếp vào
26