ĐẠI HỌC QUỐC (ỈIA HÀ NỘI
LUẶN VAN THẠC SY
Đ ề tài:
THỰC HIỆN QUYỂN CỦA CHỦ SỞ HỮU NHÀ N ư ớ c
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Học viên thực hiện
: Bùi Thị Hoài Thu
Lớp
: Cao học IX
Chuyên ngành
: Luật Kinh doanh
Hà Nội- 2008
M Ụ C LỤC
M Ở ĐẦU
1
Chương 1: Lý luận chung về sở hữu nhà nước và quyền của chủ sở hữu nhà
nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở VN
6
Quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiep
nhà n ư ớ c ở VN
17
CHƯƠNG II: Thực trạng pháp luật về quyền của chủ sở hữu nhà nước đối
với doanh nghiep nhà n ư ớ c ở VN
21
2.1. Những quy định pháp luật về quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với
doanh nghiep nhà n ư ớ c ở VN
21
2.2. N hững hạn chế của pháp luật hiện hành về quyền của chủ sở hữu nhà
nước đối với doanh nghiep nhà n ư ớ c ở VN
46
CHƯƠNG III: Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện quyền của chủ sở hữu
nhà nước đối với doanh nghiep nhà n ư ớ c ở VN
56
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về quyền của chủ sở hữu nhà
nước đối với doanh nghiep nhà n ư ớ c ở VN
56
trọng nhất, vì hiện nay DNNN đang nắm giữ 75% tài sản cố định quốc gia,
20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư nhà nước, hơn
70% tổng vốn vay nước ngoài và gần 60% tổng lượng tín dụng của các ngân
hàng thương mại quốc doanh, trên 90% đôi tác Việt Nam tham gia các doanh
nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài là DNNN [8]. Có thể nhận định
ràng, các DNNN đã thực hiện tốt các chức nãng của mình, luôn giữ vững vị trí
then chốt góp phần đắc lực cho kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo,
hướng dẫn các hoạt động của các thành phần kinh tế khác và đảm bảo được sự
vận hành thông suốt của toàn bộ nền kinh tế. Trong thời gian vừa qua, việc sáp
xếp lại, đổi mới và cổ phần hóa DNNN đã đem lại những kết quả tích cực: hầu
hết các DNNN được cổ phần hóa đều có doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách
cao hơn trước khi cổ phần hóa; việc làm và đời sống người lao động trong
doanh nghiệp đã cổ phần hóa được bảo đảm, nhiều vấn đề xã hội được giải
quyết tốt hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được trong quá trình
sắp xếp lại DNNN, thực trạng phát triển DNNN hiện nay vẫn còn nhiều tổn
tại, bất cập so với yêu cầu phát triển các doanh nghiệp Việt Nam trong xu
hướng hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế khu vực và thế giới. Đó là quy mô
DNNN vẫn chưa lớn, còn nhiéu doanh nghiệp hoạt động trong một số ngành,
lĩnh vực mà Nhà nước không cần chi phối và vốn của Nhà nước trong doanh
nghiệp còn lớn, tín dụng dành cho DNNN chiếm tỷ lệ cao: tỷ lệ nợ trên vốn
của DNNN còn quá cao, một số công ty có số nợ phải trả gấp năm lần vốn nhà
nước tại công ty, có công ty vay gấp hơn 20 lần vốn, dẫn đến rủi ro cao, khả
năng thanh toán nợ tháp. Số lượng DNNN tham gia nhiệm vụ cung cấp sản
phẩm, dịch vụ công ích còn nhiẽu, đặc biệt là khối an ninh, quốc phòng.
Nhiéu đơn vị ty trọng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thấp, tý trọng hoạt
động sản xuất, kinh doanh lớn nhưng vẫn tiếp tục duy trì DNNN. Việc sắp xếp
các nông, lâm trường còn chậm và lúng túng. Kết quả sản xuất, kinh doanh
Thứ nhất, luận chứng sự cần thiết của sở hữu nhà nước, DNNN trong
nền kinh tê thị trường nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam nói riêng.
Thứ hai, nhiều công trình đã tổng kết đánh giá quá trình phát triển và
hiện trạng DNNN ớ Việt Nam trong giai đoạn đổi mới vừa qua, nêu rõ sự cẩn
thiết của khu vực này.
Thứ ba, luận chứng về các giải pháp sắp xếp lại DNNN theo các hướng
cơ bản là: phân loại doanh nghiệp, thành lập tổng công ty, đa dạng hóa sở hữu
DNNN.
Thứ tư, luận chứng về các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý của Nhà
nước đối với DNNN, các hình thức xác lập quyền sở hữu của Nhà nước đối với
DNNN.
Tuy nhiên, vấn đề quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN ở Việt
Nam chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, thỏa đáng. Do đó,
tác giả đã mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này, làm sáng tỏ vai trò quan trọng của
việc thực hiện quyển của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam và
những tác động tích cực của nó trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của
DNNN.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu để tài
- Mục đích của việc nghiên cứu để tài:
+ Giải quyết một số vấn để lý luận vế bản chất sở hữu nhà nước và
quyển của chủ sở hữu nhà nước đối với các DNNN ở Việt Nam;
+ Phân tích sâu sắc những quy định của pháp luật hiện hành về quyển
chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam, đưa ra mô hình thực hiện
quyển chủ sở hữu với DNNN ở một sô nước trong khu vực, ý kiến của các
chuyên gia xung quanh vấn để này;
3
- Phương pháp phân tích tổng hợp được tác giả sử dụng để khái quát
hóa, đánh giá và nhận định về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền của chù
sở hữu nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam;
- Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để đối chiếu với pháp luật
cua một sô nước trên thê giới, để thây được sự tương đổng và khác biệt cúa
pháp luật Việt Nam so với pháp luật một số nước về vấn để này.
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn được tác giả viết trên cơ sở nghiên cứu, so sánh quy định pháp
luật về DNNN của Việt Nam trong quá trình phát triển và của một số nước
trên thế giới. Trên cơ sở đó đúc rút những kinh nghiệm từ thực tế áp dụng
pháp luật về quyền sở hữu DNNN ở một số nước đối với Việt Nam. Chính vì
vậy, luận văn thể hiện những ý tưởng khoa học, giải quyết một số vấn đề lý
luận về quyển của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN Việt Nam. Đồng thời,
Luận văn đã phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về
việc thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam. Từ
đó, để xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của chủ sở hĩru nhà
nước với DNNN ở Việt Nam nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động của DNNN.
7. Kết cấu nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Lý luận chung về sở hữu nhà nước và quyển của chủ sở hữu
nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền của chủ sở hữu nhà nước đối
với DNNN ở Việt Nam;
Chương 3. Những giải pháp hoàn thiện việc thực hiện quyền của chủ sở
hữu nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam.
5
cổ tức hoặc tái đầu tư để phát triển doanh nghiệp. Nhà nước không bù lỗ cho
doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp hoạt động công ích). Trường hợp Nhà nước
yêu cầu các doanh nghiệp này thực hiện các chính sách xã hội hoặc phục vụ
mục tiêu tổng thể của Nhà nước (giảm giá bán sản phẩm xuống dưới mức giá
14
thành hoặc vận chuyển khách trên tuyến đường thua lỗ,...) thì Nhà nước mới
thực hiện bù đắp phần thua lỗ đã ghi trong hợp đổng trách nhiệm giữa Nhà
nước với doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp thua lỗ quá mức quy định, doanh
nghiệp phải dùng vốn tự có để bù đắp.
1.2. KHÁI NIỆM, CÁC LOẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Tại Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 quy định "DNNN là
tổ chức kinh tếcỉo Nhà nước sử dụng toàn bộ vốn diều lệ hoặc có cổ phán, vốn
góp chi phôi, được tô chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữi( hạn".
Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh
nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lộ.
Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp có một
phần vốn của Nhà nước là doanh nghiệp mà phần vốn góp của Nhà nước là
trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống. DNNN gồm: công ly TNHH nhà
nước một thành viên, công ty cổ phần nhà nước, công ty TNHH nhà nước hai
thành viên trở lên và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước.
Nghị quyết Trung ương lần thứ 3 khóa IX đã khẳng định: “Thực hiện
chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn đối với DNNN giữ 100% vốn nhà nước”.
Thể chế hóa chủ trương đó, Luật DNNN 2003 đã thừa nhận loại hình công ty
TNHH nhà nước một thành viên và định nghĩa tại Điều 3 khoản 3 như sau:
“Công ty TNHH nhà nước một thành viên là công ty TNHH do Nhà nước sỏ
chủ chốt trong doanh nghiệp;
- Quyền kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp, quy
định nguyên tắc phân phối lợi nhuận sau thuế.
- Quyền thụ hưởng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đồng thòi, chủ sở hữu nhà nước cũng phải thực hiện các nghĩa vụ với
doanh nghiệp nhà nước, đó là:
- Đầu tư đủ vốn điều lệ cho doanh nghiệp;
- Chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp;
- Tuân theo các quy định của pháp luật về hợp đồng trong việc mua,
bán, vay, cho vay, thuê và cho thuê giữa doanh nghiệp và Nhà nước;
- Bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm của doanh
nghiệp, tuân theo điều lệ doanh nghiệp;
- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước có phạm vi rất
rộng. Nếu các quyền và nghĩa vụ này được phân bổ, phân tán cho các cơ quan
quản lý nhà nước, tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng phân tán, không những không
hỗ trợ được cho doanh nghiệp phát triển mà còn cản trở, kìm hãm các hoạt
động bình thường của doanh nghiệp, v ề mặt dài hạn, rõ ràng là phải có các
thiết chế chuyên thực hiện chức năng đại diện cho chủ sở hữu như công ty đầu
tư tài chính, ủy ban chuyên trách...
Đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN
Mặc dù quan niệm và cách gọi sở hữu nhà nước ở các nước cóthê khác
nhau nhưng đều thống nhất người đại diện thực hiện chức năng chủ sở hữu
phần vốn và tài sản nhà nước đầu tư trong nền kinh tế là bộ máy nhà nước bao
18
gồm cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính các cấp. Vì vậy, chủ sở hữu
nhà nước. Chính phủ trực tiếp thực hiện, hoặc ủy quyền cho Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ); phân cấp cho
ủ y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là ủ y
ban nhân dân cấp tỉnh); giao cho Hội đổng quản trị tổng công ty nhà nước,
công ty nhà nước độc lập có Hội đổng quản trị (sau đây gọi tắt là Hội đồng
quản trị) thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu. Điểu 2 Nghị định sô
132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 của Chính phủ về thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối vói công ty nhà nước đã quy định cụ thể
hơn về đại diện quyền chủ sở hữu đối với DNNN, theo đó:
- Thủ tướng Chính phủ trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho các Bộ
liên quan thực hiện một số quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với tổng công
ty nhà nước và công ty nhà nước độc lập đặc biệt quan trọng do Thủ tướng
Chính phủ quyết định thành lập.
- Bộ, ủ y ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu đối với công ty
nhà nước do Bộ, ủ y ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập; thực hiện
một số quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với tổng công ty nhà nước và công
ty nhà nước độc lập đặc biệt quan trọng do Thủ tướng Chính phủ quyết định
thành lập theo ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tài chính và các Bộ
chức năng thực hiện một sô' quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty
nhà nước theo lĩnh vực được phân công.
- Hội đồng quản trị là đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại công ty
nhà nước có Hội đổng quản trị và đại diện chủ sở hữu đối với công ty do mình
đầu tư toàn bộ vốn điều lệ.
Trong hoạt động của mình, Nhà nước quản lý hệ thống DNNN với hai
tư cách: cơ quan quản lý mang tính công quyền và là chủ sở hữu. Vì vậy, việc
tách bạch chức năng của Nhà nước giữa cơ quan quản lý nhà nước, đại diện
chủ sở hữu và chức năng của doanh nghiệp là một yêu cầu có ý nghĩa quyết
định tính hiệu quả của quản lý nhà nước đối với DNNN.
đo doanh nghiệp quản lý. Luật DNNN 1995 cũng khẳng định: Chính phủ thống
nhất thực hiện quyền của chủ sở hữu, đồng thời phân cấp, ủy quyền cho những
cơ quan nhất định thực hiện một số quyên của chủ sởhĩm đối với DNNN.
Để xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước và DNNN, pháp luật đã trao cho
DN quyền chủ động, tự chủ trong việc quyết định phương hướng, kế hoạch
sản xuất kinh doanh, khắc phục tình trạng Nhà nước trực tiếp điều hành hoạt
động này như trước đây. Bên cạnh đó, quyền quản lý, giám sát của Nhà nước
cũng được chú trọng. Đối với toàn bộ hệ thống DNNN, Nhà nước kiểm soát
định hướng phát triển của khu vực này, bao gồm: xác định lĩnh vực ưu tiên và
lĩnh vực hạn chê thành lập mới DNNN; xác định quy mô của khu vực DNNN;
quy định các điều kiện, tiêu chuẩn để thành lập, tổ chức lại, giải thê’ DNNN
21
nhằm hạn chế việc thành lập các DNNN không đủ điều kiện và sắp xếp lại
khu vực DNNN. Đối với từng DN, việc thực hiện quyền chủ sở hữu của Nhà
nước tập trung vào việc kiểm soát các mục tiêu chiến lược dài hạn, quyền
quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến tài sản, vốn, nhân sự chủ chốt
và những vấn đề vượt thẩm quyền của bộ máy quản lý DN.
Tuy nhiên, thực hiện quyền sở hữu của Nhà nước đối với DNNN là một
vấn đề rất phức tạp. Việc tách bạch rõ ràng mối quan hệ giữa Nhà nước với
doanh nghiệp về mặt sở hữu là mấu chốt để giải quyết vấn đề này, nhưng các quy
định pháp luật ở giai đoạn này chưa xác định rõ ranh giới của chủ sở hữu, đại
diện chủ sở hữu và đơn vị kinh doanh. Pháp luật vẫn tồn tại một số bất cập như:
Một là, việc phân cấp thực hiện quyền chủ sở hữu chưa thống nhất, rõ
ràng và có cơ chế đảm bảo hiệu lực.
Hai là, còn có sự tách rời giữa đầu tư thành lập và phát triển DNNN, thể
hiện ở chỗ, thể hiện ở chỗ: Nhà nưóc đầu tư, xây dựng cơ bản xong mới
chuyển sang thành lập DNNN. Điều này dẫn đến sự phân đoạn trách nhiệm