Pháp luật về tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ NGỌC HÒA

PHÁP LUẬT VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ
VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ NGỌC HÒA

5. Kết cấu luận văn 6
Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƢ VÀ
KINH DOANH VỐN NHÀ NƢỚC VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔNG
CÔNG TY ĐẦU TƢ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƢỚC 7
1.1. Sự cần thiết phải thành lập Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà
nước (SCIC) 7
1.2. Vị trí pháp lý, chức năng của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà
nước 16
1.3. Mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở một số nước trên thế
giới 21
1.3.1. Mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Trung
Quốc……………………………………………………………………23
1.3.2. Mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Singapore
(Temasek Holdings)……………………………………………………27
1.3.3. Mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Malaysia
(Khazanah Nasional)………………………………………………… 30
1.4. Nội dung pháp luật về Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà
nước 32
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƢ
VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM 39
2.1. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước 39
2.2. Quản trị nội bộ Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước 42
2.3. Các hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước 45
2.3.1. Hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
trong việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước……… 45
2.3.2. Hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
trong vai trò là nhà đầu tư của Chính phủ…………………………… 48
1

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

ADB
: Ngân hàng Phát triển Châu Á (The Asian Development Bank)
BIDV
: Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (Bank for
Investment and Development of Viet Nam)
CTCP
: Công ty cổ phần
DNNN
: Doanh nghiệp Nhà nước
DN
: Doanh nghiệp
EVN
: Tập đoàn Điện lực Việt Nam
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
HDI
: Chỉ số phát triển con người (Human Development Index)
OECD
: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organisation for
Economic Co-operation and Development)
ROE

Trang
1.1
: So sánh mối quan hệ giữa vốn, doanh thu và sử dụng lao
động của ba loại hình doanh nghiệp: DNNN, Doanh
nghiệp dân doanh và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài (FDI)
8
1.2
: Số lượng Công ty Nhà nước qua các năm
12
1.3
: Danh mục đầu tư theo địa lý của Temasek
28
1.4
: Danh mục đầu tư theo ngành của Temasek
29
1.5
: Cơ cấu danh mục tài sản nắm giữ của Khazanah
30
1.6
: Giá trị đầu tư của Khazanah từ 1/6/2004 đến 31/12/2008
31
2.1
: Tỷ trọng vốn phân bổ theo ngành của SCIC (tính đến
01/4/2010)
49
2.2
: Cơ cấu danh mục doanh nghiệp của SCIC đến năm 2020
50


của nền kinh tế quốc gia.
Vấn đề đặt ra là khi DNNN cổ phần hóa cần có người đại diện vốn của
Nhà nước trong các doanh nghiệp. Trên thực tế đã có những mô hình, cách
thức khác nhau trong việc quản lý, đầu tư, phát triển vốn nhà nước. Lựa chọn
mô hình nào tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, ở từng giai
đoạn.
Doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là một trong những
mô hình mà Việt Nam đã lựa chọn sau khi đã thí nghiệm những mô hình quản
lý vốn nhà nước trước đó (như: Cục quản lý công sản). Ngày 20/6/2005, Thủ

4

tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg và
152/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn
nhà nước (SCIC – State Capital Investment Corporation). Kể từ khi đi vào
hoạt động (tháng 8/2006) đến nay, Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn
nhà nước (SCIC) đã bước đầu thu được những kết quả nhất định; nhưng bên
cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề được đặt ra về mặt lý luận cũng như trong thực
tiễn hoạt động, chẳng hạn như vấn đề về:
- Tỷ lệ góp vốn.
- Đại diện của SCIC tại các doanh nghiệp.
- Địa vị pháp lý, quản trị nội bộ của SCIC.
- Mối quan hệ giữa SCIC với các cơ quan quản lý Nhà nước khác.
- Hiệu quả hoạt động của SCIC.
Xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản nêu trên, việc nghiên cứu làm
sáng tỏ những vấn đề liên quan đến lý luận, hiệu quả hoạt động của Tổng
công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, góp phần nhằm tháo gỡ những
khó khăn vướng mắc trong thực tế hoạt động của SCIC là một hướng đi đúng
đắn, thiết thực. Vì thế, người viết quyết định chọn: “Pháp luật về Tổng công
ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước ở Việt Nam” làm đề tài cho luận văn

cơ sở đường lối và chủ trương của Đảng về đổi mới nền kinh tế đất nước, về
xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN.
Ngoài ra, để hoàn thành luận văn, người viết còn sử dụng phối hợp
nhiều phương pháp nghiên cứu có tính truyền thống trong khoa học pháp lý

6

để luận văn có tính lý luận và thực tiễn cao như: phương pháp biện chứng,
lịch sử; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh luật học,
thống kê; phương pháp logic; phương pháp đối chiếu; phương pháp diễn giải;
phương pháp quy nạp; phương pháp xã hội học pháp luật… để giải quyết
những vấn đề cơ bản của luận văn.
5. Kết cấu luận văn
Luận văn được kết cấu thành ba chương chính có quan hệ chặt chẽ với
nhau như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh
vốn nhà nước và pháp luật về Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà
nước.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh
vốn nhà nước ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.



lớn cho ngân sách, vẫn còn một bộ phận doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả,
thậm chí còn buông lỏng quản lý tài chính. Kết quả kiểm toán tại một số Tổng
công ty năm 2008 đã chỉ ra không ít sai phạm về tài chính. Sự yếu kém của
một bộ phận DNNN thể hiện rõ trên bảng xếp hạng của Bộ Tài chính. Theo
đó, chỉ có 44,4% doanh nghiệp xếp loại A; 39,5% doanh nghiệp xếp loại B;
16,1% doanh nghiệp loại C và có tới 19,5% doanh nghiệp làm ăn thua lỗ [30].
TT
Chỉ tiêu
Đơn
vị
Phân nhóm Doanh nghiệp
DNNN
DN ngoài Nhà nƣớc
DN có vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài
2005
2006
2007
2005
2006
2007
2005
2006
2007
1
Cơ cấu trên
tổng vốn
%
54.88

47.76
50.19
53.28
19.57
21.52
22.84
Bảng 1.1: So sánh mối quan hệ giữa vốn, doanh thu và sử dụng lao
động của ba loại hình doanh nghiệp: DNNN, Doanh nghiệp dân doanh và
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
(Nguồn: Báo cáo ngày 4/11/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tóm
tắt kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng
vốn, tài sản Nhà nước tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước).
Qua bảng trên có thể thấy, tỷ trọng vốn của khối DNNN trong tổng vốn
của nền kinh tế từng năm luôn cao nhất, tuy nhiên tỷ trọng đóng góp trong
tổng doanh thu luôn thấp hơn so với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê và Bộ tài chính, nhìn chung kết quả sản
xuất kinh doanh của DNNN thấp - trừ những DNNN có lợi thế kinh doanh,
được hưởng nhiều chính sách đặc biệt là có kết quả cao. Chẳng hạn, năm
2005, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia doanh thu đạt 42.310 tỷ đồng, lợi nhuận đạt

9

24.924 tỷ đồng. Tập đoàn Điện lực doanh thu đạt 38.818 tỷ đồng, lợi nhuận
đạt 3.200 tỷ đồng. Phần lớn những DNNN còn lại kinh doanh kém hiệu qủa,
chủ yếu thuộc các ngành: nông nghiệp, giấy, cà phê Tính chung giai đoạn
2001-2005, doanh thu của DNNN chỉ tăng 9,1%/năm. Nhiều doanh nghiệp lỗ
lớn như các tổng công ty: Xi măng, Cà phê, Dâu tơ tằm… Trong các đơn vị
trên, đơn vị lỗ ít nhất lên tới 220 tỷ đồng, đơn vị lỗ nhiều nhất lên đến 1.352
tỷ đồng, gấp gần 13 lần vốn bình quân một DNNN [32].
Sự kém hiệu quả trong hoạt động của DNNN là do nhiều nguyên nhân,

quá trình sắp xếp, chuyển đổi, cổ phần hoá DNNN còn chậm; dẫn tới số
lượng doanh nghiệp có tỷ trọng vốn nhà nước lớn còn nhiều, chưa tập trung
được nguồn lực để xây dựng nên các DNNN có tầm cỡ khu vực, làm nòng cốt
để nước ta chủ động và thực hiện có hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Hơn
nữa, nếu như việc chủ tư nhân mang tiền của mình đi kinh doanh sẽ quan tâm
sống còn đến đồng vốn của mình bỏ ra sao cho đem lại hiệu quả cao nhất; thì
các DNNN sử dụng tài sản của Nhà nước để kinh doanh, và khi kinh doanh
không đem lại hiệu quả thì đã có Nhà nước “chịu”. Tâm lý “cha chung không
ai khóc”, lối suy nghĩ “tiền chùa”, “của chùa” đã ảnh hưởng nghiêm trọng
đến hiệu quả kinh doanh của DNNN. Mặt khác, vẫn còn tình trạng Nhà nước
ưu ái với các DNNN như miễn thuế, nộp thuế chậm… khiến DNNN không
nhạy cảm với lợi nhuận, tiết kiệm, tăng hiệu suất và gây ra nhiều tác hại khác.
Thực tế cho thấy, hiện nay DNNN đang tồn tại ở hầu hết các nước trên
thế giới, không chỉ ở các nước đi theo con đường XHCN mà cả ở những nước
tư bản chủ nghĩa. Sự cần thiết tồn tại DNNN ở các nước có chế độ chính trị và
trình độ phát triển khác nhau là do nhiều nguyên nhân. Trước tiên, đó là do
yêu cầu của việc quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bên cạnh việc sử dụng
các công cụ như: pháp luật, chính sách kinh tế… thông qua các DNNN, Nhà

11

nước sẽ điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới nền kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thêm nữa, DNNN còn đi đầu
trong việc mở đường, tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát
triển; trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng (đặc biệt đối
với địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, với các vùng kinh tế
khó khăn, vùng sâu, vùng xa). Thêm vào đó, DNNN còn là công cụ sắc bén
để khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường như: tính bất ổn định,
sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, ảnh hưởng không tốt tới sự tăng
trưởng bền vững của nền kinh tế, gây ra sự mất cân đối, phân hóa giàu nghèo

3.808
3.067
0
1.000
2.000
3.000
4.000
5.000
6.000
7.000
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Số lƣợng Công ty nhà nƣớc qua các năm

Bảng 1.2: Số lượng Công ty Nhà nước qua các năm
(Nguồn: Cục Tài chính doanh nghiệp - Bộ Tài chính)
Nếu mục tiêu quản lý vốn của Nhà nước tại DNNN chỉ dừng lại ở mức
bảo toàn, không làm thất thoát vốn thì việc quản lý hành chính là có thể phù
hợp. Tuy nhiên, nếu muốn sử dụng nguồn vốn đó sao cho hiệu quả nhất,
không những thế, có thể dùng vốn đó để phát triển nền kinh tế, thì cần phải
thay đổi cơ bản cách quản lý vốn nhà nước như hiện nay. Một trong những
điểm mấu chốt để đạt được mục tiêu đó chính là việc cần phải tách bạch chức
năng quản lý Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh. Điều này có
nghĩa các quyết định kinh doanh phải do những nhà kinh doanh đưa ra, chứ
không phải do các nhà chính trị hay nhà quản lý hành chính thuần túy đưa ra.
Bên cạnh đó, thay vì đầu tư vào những lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư
nhân muốn làm và có thể làm tốt (chẳng hạn như dệt may hay bất động sản)
thì Nhà nước có thể dành nguồn vốn để đầu tư cho các lĩnh vực khác cần đến
vai trò của Nhà nước, tránh đầu tư tràn lan, chồng chéo. Điều này có nghĩa là
khi đầu tư vốn, Nhà nước không chỉ coi trọng đến hiệu quả tài chính, mà còn
phải nhìn vào hiệu quả kinh tế và xã hội. Thêm nữa, hoạt động kinh doanh

công cuộc cải cách DNNN. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành

14

TW Đảng khóa VIII về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội
lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nêu rõ phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, chấn chỉnh và nâng cao hiệu
quả hoạt động của DNNN, trong đó cần: “Tổng kết mô hình tổng công ty Nhà
nước, trên cơ sở đó có phương án xây dựng các tổng công ty thực sự trở
thành những tập đoàn kinh tế mạnh, có hiệu quả và sức cạnh tranh cao, thực
sự là xương sống của nền kinh tế. Xem xét, sắp xếp lại các tổng công ty không
phù hợp, hoạt động kém hiệu quả. Nghiên cứu bổ sung, sửa đổi mô hình tổng
công ty theo hướng phối hợp quan hệ liên kết theo chiều ngang với quan hệ
liên kết theo chiều dọc; chuyên môn hóa theo một ngành hàng và từng bước
thực hiện kinh doanh đa ngành nghề. Nghiên cứu chuyển cơ chế quản lý vốn
theo phương thức hành chính sang cơ chế công ty tài chính” [22].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN khẳng
định: “phải đẩy mạnh sắp xếp, nâng cao hiệu quả DNNN, kiên quyết chấm
dứt tình trạng cơ quan hành chính Nhà nước can thiệp trực tiếp, cụ thể vào
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; phân định rõ quyền quản
lý hành chính kinh tế của Nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp”, “thí điểm lập công ty đầu tư tài chính Nhà nước để thực hiện
đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nghiên cứu ban hành Luật
sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào kinh doanh” [23].
Đến Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX nhấn
mạnh: “Nghiên cứu việc thành lập công ty đầu tư tài chính của Nhà nước và
cơ quan quản lý Nhà nước để thực hiện thống nhất và có hiệu quả chức năng
đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp thuộc mọi ngành
trong nền kinh tế quốc dân Khẩn trương xóa bỏ đặc quyền và độc quyền

chủ sở hữu, vốn điều lệ của SCIC tại thời điểm chuyển đổi là 19.000 tỷ đồng.

16

Việc thành lập SCIC được xem như một quyết định đúng đắn của
Chính phủ trong việc nỗ lực cải cách mạnh mẽ khu vực kinh tế Nhà nước, và
là một phần của quá trình đổi mới DNNN nhằm chuyển đổi từ cơ chế quản lý
hành chính sang mô hình đầu tư kinh doanh vốn; góp phần quan trọng bảo
toàn và phát triển vốn nhà nước. Theo điều lệ, SCIC sẽ thực hiện quyền sở
hữu Nhà nước trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước, nhằm giảm thiểu can
thiệp chính trị vào việc quản lý tài sản Nhà nước, hướng tới bán nốt phần vốn
nhà nước ở các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ cổ phần chi phối.
Như vậy, qua tìm hiểu có thể thấy, việc thành lập Tổng công ty Đầu tư
và kinh doanh vốn nhà nước là cần thiết nhằm mục đích: quản lý, sử dụng sao
cho có hiệu quả nguồn vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; cải cách phương
thức quản lý DNNN (tách biệt và loại bỏ dần sự can thiệp quản lý hành chính
của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp); chấm dứt tình trạng không xác định rõ ràng người đại diện sở hữu
phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp.
1.2. Vị trí pháp lý, chức năng của Tổng công ty Đầu tƣ và kinh doanh vốn
nhà nƣớc
Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước được thành lập để
thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty TNHH Nhà
nước một thành viên hoặc do chuyển đổi từ các công ty Nhà nước độc lập
hoặc do SCIC thành lập; thực hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà
nước và quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của Nhà
nước tại các doanh nghiệp đã chuyển đổi sở hữu hoặc hình thức pháp lý từ
các công ty Nhà nước độc lập (khoản 3 Điều 47 Luật DNNN 2003).
Được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng, SCIC là tổ chức tài
chính đặc biệt để thực hiện mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp có


3. Thực hiện việc đầu tư và quản lý vốn đầu tư của Tổng công ty vào
các lĩnh vực, ngành kinh tế quốc dân theo nhiệm vụ Nhà nước giao.
4. Tổ chức huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để bổ sung
vốn kinh doanh thông qua việc vay vốn, phát hành trái phiếu công ty, trái
phiếu công trình, lập quỹ tín thác đầu tư theo quy định của pháp luật đối với
công ty Nhà nước.
5. Cung cấp các dịch vụ tài chính: tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính, tư
vấn cổ phần hoá, tư vấn chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; nhận uỷ thác các
nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
6. Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh vốn.
7. Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.
8. Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật”.
 Điều 6 Quyết định 152/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng
ghi nhận các chức năng, nhiệm vụ của SCIC gồm:
“1. Tiếp nhận và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước
đầu tư tại các công ty TNHH Nhà nước một thành viên, công ty TNHH có hai
thành viên trở lên, công ty cổ phần được chuyển đổi từ các công ty Nhà nước
độc lập hoặc mới thành lập.
2. Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước vào các ngành, lĩnh vực kinh tế
trong nước và nước ngoài để đạt các mục tiêu sau:
- Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn.
- Tạo động lực để phát triển, nâng cao năng lực hoạt động, khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước.
3. Thực hiện việc đầu tư và quản lý vốn đầu tư của Tổng công ty vào
các lĩnh vực, ngành kinh tế quốc dân theo nhiệm vụ Nhà nước giao.

19

4. Tổ chức huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước theo quy định

7. Huy động vốn để kinh doanh dưới hình thức phát hành trái phiếu, kỳ
phiếu; vay vốn của tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính khác theo quy
định của pháp luật và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn huy động.
8. Nhận ủy thác các nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức và cá nhân trong,
ngoài nước, chịu trách nhiệm về việc quản lý sử dụng các nguồn vốn này.
9. Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước giao, chịu trách nhiệm về việc
thất thoát vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
10. Thực hiện báo cáo công khai, minh bạch về hoạt động kinh doanh
và tài chính của Tổng công ty với các cấp có thẩm quyền theo quy định.
11. Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật
DNNN và Điều lệ này”.
Như vậy, tựu chung lại, SCIC được thành lập nhằm thực hiện những
chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau:
 Thứ nhất: Tiếp nhận và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn
nhà nước với vai trò là cổ đông Nhà nước tại doanh nghiệp.
 Thứ hai: Chiếm hữu, sử dụng vốn nhà nước để đầu tư, và đảm bảo
một cách tốt nhất các lợi ích hợp pháp của Nhà nước qua việc quản lý vốn nhà
nước đầu tư tại doanh nghiệp. Tổ chức huy động vốn trong nước và quốc tế
nhằm tăng năng lực tài chính của Nhà nước đầu tư cho nền kinh tế, thay cho
phương thức cấp phát ưu đãi vốn qua ngân sách Nhà nước như trước kia.
 Thứ ba: Thực hiện đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước vào các
ngành, lĩnh vực theo nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao; vào các

Trích đoạn Mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở Trung Các quy định của pháp luật về cơ chế tài chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status