Pháp luật về quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong công ty cổ phần ở Việt Nam - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THIÊN NHẪN
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ DOANH THU,
CHI PHÍ VÀ LỢI NHUẬN
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Thiên Nhẫn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ
PHẦN VÀ QUẢN LÝ DOANH THU, CHI PHÍ VÀ LỢI NHUẬN TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN 7
1.1. Khái quát chung về công ty cổ phần 7

3.1.1. Bảo đảm công bằng giữa các chủ thể trong kinh doanh 64
3.1.2. Bảo đảm trật tự thị trƣờng 66
3.1.3. Bảo đảm phù hợp với thông lệ quốc tế 67
3.2. Một số kiến nghị 67
3.2.1. Về lập pháp 67
3.2.2. Về hành pháp 72
3.2.3. Đối với Kiểm toán viên 73
3.2.4. Đối với Nhà đầu tƣ 74
3.3. Một số kiến nghị khác 76
3.3.1. Khuyến khích các hoạt động kinh doanh dịch vụ tƣ vấn tài chính - kế
toán, tƣ vấn thuế, đại lý thuế 76
3.3.2. Tăng cƣờng mối quan hệ phối hợp với các ngành khác trong việc tuyên
truyền các chính sách thuế, cung cấp thông tin, điều tra, xử lý và giải quyết
các vụ việc liên quan 77
3.3.3. Đầu tƣ xây dựng và phát triển hạ tầng truyền thông công nghệ thông tin 77
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CTCP : Công ty cổ phần
NSNN : Ngân sách nhà nƣớc
GCNĐKKD : Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nhà nƣớc
DNTN : Doanh nghiệp tƣ nhân
HĐQT : Hội đồng quản trị
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
BKS : Ban kiểm soát
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự vận động không ngừng của nền kinh tế thị trƣờng, đã xuất
hiện nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau,
tuy đều phải trải qua các giai đoạn thăng trầm nhƣng phần lớn các doanh
nghiệp đều đã rút ra đƣợc nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu trong sản xuất,
kinh doanh nhằm thích nghi với môi trƣờng mới năng động và sáng tạo.
Nếu nhƣ trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trƣớc đây các xí
nghiệp quốc doanh đơn thuần chỉ sản xuất và giao nộp sản phẩm theo kế
hoạch mà không cần quan tâm đến chất lƣợng, giá thành và lợi nhuận thì ngày
nay khi đối mặt với nền kinh tế thị trƣờng mà mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh đều phải tính toán đến hiệu quả thật sự chứ không phải là tình trạng
“Lãi giả, lỗ thật”. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải đặt trên cơ sở
thị trƣờng, năng suất, chất lƣợng. Hay nói cách khác đều phải chú ý đến
doanh thu, chi phí mình bỏ ra và lợi nhuận thu về có khả quan hay không?
Đây đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội cũng nhƣ mỗi một
doanh nghiệp.
Song song với nó là sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nƣớc bằng pháp
luật. Vì vậy, các doanh nghiệp vừa phải tính toán làm sao để có thể quản lý
doanh thu, chi phí hợp lý và thu đƣợc lợi nhuận cao. Đồng thời vừa phải thực
hiện nghĩa vụ đối với Nhà nƣớc một cách mẫn cán, trung thực trong khuôn
khổ pháp luật cho phép.
Quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong doanh nghiệp là một
phần của các chiến lƣợc tăng trƣởng kinh doanh nhằm không những cắt giảm
chi phí mà còn tạo ra các ƣu thế cạnh tranh rõ rệt trên thị trƣờng. Nếu không
có kiến thức cơ bản về quản lý doanh thu, chi phí và lợị nhuận thì các doanh


những vi phạm khác về công tác kế toán, kiểm toán doanh thu, chi phí và lợi
nhuận. Vì thế, pháp luật ở Việt Nam cần có những nghiên cứu đánh giá nghiêm
túc, nhìn nhận khách quan, đúng đắn góp phần hoàn thiện vấn đề này để phù
hợp với môi trƣờng kinh doanh và loại hình doanh nghiệp trong bối cảnh nền
kinh tế thị trƣờng “hợp tác và mở rộng”, “hòa nhập chứ không hòa tan”.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng đó, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Pháp luật về quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong công ty cổ
phần ở Việt Nam” làm đề tài Luận văn nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận là một trong những khâu quan
trọng và chính yếu nhất của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Bởi trong
điều kiện đất nƣớc ta hội nhập vào “sân chơi chung” thế giới, tài chính doanh
nghiệp góp phần không nhỏ thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế, huy động tối đa các
nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống
cho ngƣời lao động và góp phần làm “phong phú” thêm Ngân sách Nhà nƣớc.
Điều đó đồng nghĩa với việc pháp luật nƣớc ta cũng đã, đang và sẽ chịu nhiều
sức ép trong việc điều chỉnh quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận hợp lý để
vừa làm sao mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp nói chung, CTCP nói riêng
nhƣng vẫn đảm bảo lợi ích của Nhà nƣớc. Mặc dù, số lƣợng công trình khoa
học, các bài báo cáo, tham luận nghiên cứu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận
khá đa dạng ở một số loại hình doanh nghiệp cụ thể nhƣng chủ yếu dựa trên góc
độ quản trị tài chính, kế toán. Tiêu biểu gồm các công trình của các tác giả sau:
Nguyễn Đình Cung (2009), Cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ quản trị công ty
cổ phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Bộ kế
hoạch và đầu tƣ – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng, Hà Nội; Phạm
Ngọc Côn (2002), Một số ý kiến nhằm hoàn thiện việc quản lý doanh nghiệp sau
cổ phần hóa, Tạp chí kinh tế và phát triển, số 3/2001, tr.49; Nguyễn Hƣng, Quản
4


phí và lợi nhuận trong nội bộ CTCP ở Việt Nam hiện nay. Từ đó chỉ ra thực
trạng, đánh giá tác động, ảnh hƣởng của chúng trong thực tiễn quản lý pháp
luật về quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong CTCP ở Việt Nam.
Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng rút ra những bất cập, hạn chế
của pháp luật và đƣa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của
pháp luật về quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong CTCP ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Những vấn đề pháp lý và thực tiễn của pháp luật
về quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong công ty cổ phần.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn về việc tìm hiểu thực trạng pháp luật về
quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam
theo sự điều chỉnh chủ yếu của pháp luật thuế, Luật kế toán, Luật chứng khoán
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp, thống kê, phân
tích, so sánh để đánh giá các thông tin thu thập đƣợc liên quan đến các vấn đề
pháp lý về quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong CTCP ở Việt Nam.
Bên cạnh đó trong phần thực trạng, Luận văn sử dụng các số liệu chủ yếu từ
một số CTCP đƣợc công khai trên các diễn đàn báo chí, mạng Internet và
trong quá trình tác giả công tác tổng hợp đƣợc. Các phƣơng pháp nghiên cứu
trên sẽ giúp Luận văn làm sáng tỏ những luận cứ khoa học trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài và tăng tính thuyết phục cho các đề xuất, kiến nghị hoàn
thiện các quy định của pháp luật về quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận
trong CTCP ở Việt Nam.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung Luận văn gồm 3 chƣơng:
6

Chƣơng 1: Những vấn đề pháp lý cơ bản về công ty cổ phần và quản lý
doanh thu, chi phí và lợi nhuận trong công ty cổ phần.

chủ tƣ bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu đƣợc lợi nhuận tối đa và bành
trƣớng hơn nữa thế lực kinh tế của mình. CTCP là hình thức kinh doanh thoả
mãn đƣợc những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập
trung tƣ bản. Vì thế cho nên sự ra đời của CTCP là một tất yếu khách quan.
CTCP xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India
Company) của Anh (1600-1874). Nó đƣợc thành lập ngày 31/10/1600 bởi một
8

nhóm có 218 ngƣời và đƣợc cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15
năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi và đƣợc đi
lại từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở châu Á, châu Phi
và Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào nhƣ thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng (Cape of
Good Hope) và Eo biển Magellan. Ngày 01/6/1874, công ty bị giải thể khi
giấy phép lần sau cùng không đƣợc gia hạn. Công ty đầu tiên này hoạt động
hết sức lỏng lẻo:“Người đầu tư góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi
chuyến đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi” [39, tr.35]. Đến năm 1602, ở
Hà Lan xuất hiện các CTCP theo hình thức tƣơng tự công ty Đông Ấn của
Anh, rồi lần lƣợt CTCP xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức…
Ở Mỹ, CTCP cũng ra đời sớm và phát triển rất mạnh. Lúc đầu là vì
phải xây dựng đƣờng xe lửa, sau này là để thiết lập mạng lƣới phân phối và
bán lẻ trên toàn lãnh thổ rộng lớn của Mỹ. Chính do yêu cầu tài trợ cho các
công ty làm đƣờng xe lửa mà thị trƣờng chứng khoán ở NewYork phát triển.
Năm 1811, bang NewYork ban bố luật về tính TNHH dành cho các công ty
sản xuất. Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về NewYork và tính hữu hạn kia trở
thành phổ biến vì bang nào không dùng đến nó là không thu hút đƣợc vốn
[20, tr.36].
Chính từ nhu cầu khách quan phát triển kinh tế – xã hội cần có sự liên
kết hùn vốn, đồng thời về mặt chủ quan, các nhà đầu tƣ muốn chia sẻ những
gánh nặng rủi ro trong kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn đã dẫn đến
sự ra đời của CTCP. Sự ra đời của CTCP đã giúp cho các nhà doanh nghiệp

Cho đến ngày 21/12/1990, khi Luật công ty đƣợc ban hành, hình thức
CTCP mới chính thức đƣợc quy định cụ thể.
Sau khi Luật Công ty ra đời, nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã
đƣợc ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động
10

trong các lĩnh vực khác nhau nhƣng đƣợc tổ chức dƣới hình thức CTCP. Hoạt
động của các doanh nghiệp này một mặt phải tuân thủ các quy định của Luật
Công ty, mặt khác, do đặc thù riêng của các ngành nghề kinh doanh, hoạt
động của các doanh nghiệp này còn phải tuân thủ theo quy định của các luật
chuyên ngành.
Sau gần 10 năm thực hiện, Luật Công ty đã phát huy đƣợc tích cực vai
trò của mình, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển và đổi mới kinh
tế đất nƣớc. Tuy nhiên, thực tiễn các quan hệ kinh doanh ở nƣớc ta trong thời
kỳ này liên tục biến đổi, Luật công ty đã bộc lộ rất nhiều bất cập, không đáp
ứng đƣợc nhu cầu điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp theo
cơ chế thị trƣờng và thông lệ quốc tế. Vì thế yêu cầu đặt ra là phải sửa đổi
thay thế luật này nhƣ là một tất yếu khách quan.
Ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp để thay thế
cho Luật Công ty và Luật DNTN. Sau hơn 5 năm đi vào hoạt động, Luật
doanh nghiệp 1999 đã đƣợc thay đổi bằng Luật doanh nghiệp 2005. Kể từ khi
Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực, lần đầu tiên chúng ta có một Luật doanh
nghiệp duy nhất, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với tất cả
các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu, ngƣời trong
nƣớc cũng nhƣ ngƣời nƣớc ngoài đƣợc lựa chọn bất kỳ loại hình doanh
nghiệp nào theo quy định của pháp luật.
Nhƣ vậy, cùng với các loại hình doanh nghiệp khác, mặc dù CTCP ở Việt
Nam ra đời khá muộn so với các nƣớc trên thế giới nhƣng với những đặc trƣng
vốn có, CTCP đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đƣợc hình
thành và phát triển cùng với sự thừa nhận nền kinh tế thị trƣờng có điều tiết, thể

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp đối với các cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết
12

không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác và hạn chế quyền tự
do chuyển nhượng cổ phần phổ thông trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công
ty cổ phần được cấp GCNĐKKD đối với các cổ đông sáng lập quy định tại
khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này".
 Đặc điểm của CTCP
Về cơ bản có thể thấy cách định nghĩa CTCP theo LDN 2005 mang
tính chất liệt kê các thuộc tính. Từ khái niệm này, có thể khái quát đặc điểm
của CTCP nhƣ sau:
Thứ nhất, về phƣơng diện pháp lý: CTCP là một tổ chức có tƣ cách
pháp nhân độc lập; vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, ngƣời mua cổ phiếu
gọi là cổ đông, lợi nhuận có đƣợc hàng năm gọi là lợi tức; CTCP chỉ chịu
trách nhiệm đối với khoản nợ bằng tài sản riêng của công ty.
Thứ hai, về phƣơng diện sở hữu: CTCP là một doanh nghiệp đa sở hữu,
hiểu theo số lƣợng chủ sở hữu (các cổ đông) của CTCP thƣờng rất lớn và
không giới hạn số lƣợng, đồng thời lại có tính phân tán cao. Việc có quá
nhiều chủ sở hữu dẫn đến hệ lụy thông thƣờng các cổ đông sẽ không trực tiếp
tham gia vào việc quản lý, điều hành công việc hàng ngày của công ty mà sẽ
thông qua các thiết chế là HĐQT và Giám đốc/Tổng giám đốc (ban giám
đốc). Các cổ đông thể hiện quyền sở hữu của mình thông qua việc nhận cổ
tức, tham gia ĐHĐCĐ để thảo luận các vấn đề quan trọng mang tính chiến
lƣợc của công ty nhƣ: thông qua Điều lệ công ty (mới hoặc sửa đổi); ứng cử,
bầu cử các thành viên HĐQT, các chức danh quản lý công ty; đề ra phƣơng
hƣớng kinh doanh; xem xét, thông qua báo cáo tài chính

nhiên, do CTCP thƣờng có quy mô kinh doanh lớn, số lƣợng thành viên đông
14

nên việc quản lý, điều hành sẽ gặp không ít khó khăn, trở ngại đặc biệt là
trong việc quản lý tài chính về doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
1.1.3. Quản lý công ty cổ phần
Khi nói đến quản lý CTCP là nói đến các trung tâm hay cơ cấu quyền
lực ở đó. Theo quan niệm của luật học, quản lý CTCP là phƣơng thức tổ chức
các cơ quan quyền lực trong công ty và mối quan hệ quyền lực giữa các cơ
quan đó. Chính vì có liên quan đến việc bố trí và tổ chức quyền lực nên quản
lý CTCP còn đƣợc gọi là “Cơ cấu quản lý CTCP” (Corporate Governance
Structure) [38, tr.7]. Nhìn chung, trong các CTCP thƣờng thiết lập ba cơ quan
quyền lực chủ yếu là ĐHĐCĐ, HĐQT và BKS.
Theo nghĩa hẹp, quản lý CTCP có nghĩa là cách thức tổ chức và phân
chia quyền lực giữa ba cơ quan nêu trên và mối quan hệ giữa chúng. Luật
Công ty Anh Quốc năm (1985) xác định quản lý công ty là một thiết chế pháp
lý về mối quan hệ giữa cổ đông, thành viên HĐQT và kiểm soát viên. Theo
đó, các thành viên HĐQT là ngƣời quản lý điều hành và lãnh đạo công ty thực
hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận; các cổ đông bảo đảm các thành viên
HĐQT làm việc đúng hƣớng và đúng luật pháp; và các kiểm soát viên thực
hiện quyền và nhiệm vụ giám sát hoạt động quản lý kinh doanh của HĐQT để
bảo đảm công ty không có sai phạm về tài chính và đảm bảo HĐQT đƣợc đề
xuất báo cáo tài chính một cách chân thực và công bằng.
Ở Việt Nam, khái niệm quản lý CTCP cũng tƣơng tự nhƣ ở các nƣớc
khác. Theo TS. Nguyễn Ngọc Côn (2002): “Cơ cấu quản lý doanh nghiệp là
sự thiết lập, vận hành các cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp và mối quan
hệ giữa các cơ quan quyền lực đó. Một cơ cấu quản lý doanh nghiệp có hiệu
quả được thể hiện ở sự hợp tác lâu dài giữa những người có quan hệ lợi ích
trên cơ sở cân đối trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích” [22, tr.49]. Ở đây,
“doanh nghiệp” có thể hiểu là CTCP.

16

và chi phí liên quan trực tiếp đến thu nhập doanh nghiệp, các sắc thuế và các
quyền nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp. Đồng thời chịu sự điều
chỉnh của Luật kế toán, pháp luật về thuế.
 Khái niệm và đặc điểm về quản lý doanh thu
* Khái niệm doanh thu
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về doanh thu:
Theo chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) định nghĩa: “Doanh thu là giá
trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt
động sản xuất, kinh doanh thông thƣờng góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu,
không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Theo Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) định nghĩa : “Thu
nhập là các yếu tố làm tăng lợi ích kinh tế trong niên độ kế toán dƣới hình
thức tăng tài sản hay giảm công nợ kết quả là làm tăng vốn tự có mà không
phải do việc đóng góp vốn của các bên chủ hữu”. Trong khái niệm này thu
nhập bao gồm cả doanh thu bán hàng và các khoản thu nhập từ các hoạt động
khác, IASC nhấn mạnh đến dấu hiệu xác định doanh thu phải thoả mãn hai
điều kiện: tăng lợi ích kinh tế của doanh nghiệp bằng cách tăng vốn tự có và
không phải do việc góp vốn của các chủ sở hữu. Nhƣ vậy, doanh nghiệp
muốn tăng lợi ích kinh tế, tăng khả năng độc lập về tài chính thì một trong
những biện pháp cơ bản là tăng doanh thu .
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 18 (IAS 18) định nghĩa: “Doanh
thu là luồng thu gộp các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt
động thông thƣờng, làm nguồn vốn chủ sở hữu, chứ không phải phần đóng
góp của những ngƣời tham gia góp vốn cổ phần. Doanh thu không bao gồm
những khoản thu cho bên thứ ba”.
Theo Học viện Đào tạo các kế toán viên cộng đồng của Mỹ (AICPA)
định nghĩa: “Doanh thu là tổng giá trị gia tăng tài sản hay là sự giảm gộp các
17

ngay thì doanh thu đƣợc xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của
các khoản sẽ thu đƣợc trong tƣơng lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận
doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận
doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu đƣợc trong tƣơng lai. Vì
thế nếu hàng hóa hoặc dịch vụ đƣợc trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
tƣơng tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không đƣợc coi là một giao
dịch tạo ra doanh thu. Ngƣợc lại khi hàng hóa hoặc dịch vụ đƣợc trao đổi để
lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tƣơng tự thì việc trao đổi đó đƣợc coi
là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trƣờng hợp này doanh thu đƣợc xác định
bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các
khoản tiền hoặc tƣơng đƣơng tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định
đƣợc giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu đƣợc xác
định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều
chỉnh các khoản tiền hoặc tƣơng đƣơng tiền trả thêm hoặc thu thêm. Còn theo
TS. Mai Ngọc Anh (2011): "Doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp đã
chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa cho người mua hoặc doanh
nghiệp đã hoàn thành các nghĩa vụ cung cấp dịch vụ cho người mua theo hợp
đồng "[19, tr.23].
Tóm lại, doanh thu đƣợc ghi nhận khi bán hàng hóa và cung cấp dịch
vụ, là cơ sở xác định khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp đầu tƣ. Doanh
thu chịu sự tác động của nhiều yếu tố nhƣ: khách hàng, thời hạn thanh toán,
các điều kiện thanh toán Vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý là phải có cơ
chế quản lý doanh thu nhƣ thế nào để đảm bảo thu hồi vốn nhanh nhất, hiệu
quả cao và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nƣớc.

Trích đoạn Đánh giá thực trạng phân phối lợi nhuận Nguyên tắc phân chia lợi nhuận Bảo đảm công bằng giữa các chủ thể trong kinh doanh Về lập pháp Về hành pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status