Thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án và quyết định hình sự của tòa án ở việt nam luận văn ths luật - Pdf 31

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN VN DIN

THI HàNH NGHĩA Vụ DÂN Sự TRONG BảN áN
Và QUYếT ĐịNH HìNH Sự CủA TòA áN ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s
Mó s: 60 38 40

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN NGC CH

H NI - 2014


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Diễn


MỤC LỤC

1.3.1. Khái niệm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự ................................................................................................. 14
1.3.2. Đặc điểm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự ................................................................................................. 20


1.4.

CƠ SỞ CỦA QUI ĐỊNH THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ
TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ................................... 20

1.4.1. Cơ sở của qui định nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự ...... 20
1.4.2. Cơ sở của qui định thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết
định hình sự ......................................................................................... 24
1.5.

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUI ĐỊNH THI
HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH
HÌNH SỰ ............................................................................................. 26

1.5.1. Giai đoạn từ 1945 đến 1989 ................................................................ 26
1.5.2. Giai đoạn từ 01/01/1990 - 30/6/1993 .................................................. 30
1.5.3. Giai đoạn từ 1993 đến nay .................................................................. 32
1.6.

LUẬT CỦA MỘT SỐ NƢỚC VỀ THI HÀNH NGHĨA VỤ
DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ .................. 38

1.6.1. Thi hành án công ................................................................................. 38
1.6.2. Tổ chức thi hành án bán công ............................................................. 39

2.3.2. Tồn tại ................................................................................................. 56
2.3.3. Nguyên nhân ....................................................................................... 57
2.4.

THỰC TIỄN THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ VÍ DỤ CỤ THỂ ........ 61

2.4.1. Thực tiễn thi hành thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết
định hình sự ......................................................................................... 61
2.4.2. Một số ví dụ cụ thể .............................................................................. 66
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH NGHĨA
VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN Ở VIỆT NAM .................................................................... 78
3.1.

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÒA ÁN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
TIỀN, HÌNH PHẠT TỊCH THU TÀI SẢN VÀ CÁC QUYẾT
ĐỊNH DÂN SỰ KHÁC ........................................................................ 78

3.1.1. Hình phạt tiền ...................................................................................... 78
3.1.2. Hình phạt tịch thu tài sản .................................................................... 79
3.1.3. Các quyết định dân sự khác ................................................................ 81
3.2.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH NGHĨA VỤ
DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA
TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................. 82


3.2.1. Hoàn thiện pháp luật ........................................................................... 82

65

Bảng 2.4: Kết quả thi hành thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án và
quyết định hình sự (về tiền) từ 01/10/2013 đến 31/3/2014

65

Bảng 3.1: Số bị cáo bị áp dụng hình phạt tiền ở nƣớc ta giai đoạn
2008-2013

78

Bảng 3.2: Số bị cáo bị áp dụng hình phạt tịch thu tài sản ở nƣớc ta
giai đoạn 2008-2013

79

Bảng 3.3: Số bị cáo bị áp dụng các quyết định dân sự khác ở nƣớc
ta giai đoạn 2008-2013

81


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự mang tính
quyền lực nhà nƣớc nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa
án trong thực tiễn. Nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm thi hành các hình phạt
tiền, tịch thu tài sản và thi hành các quyết định dân sự khác mà Tòa án áp
dụng đối với ngƣời bị kết án. Đó cũng chính là việc tƣớc bỏ một phần hay

cơ bản về vấn đề này.
Tác giả của luận văn có thể nêu một vài ví dụ các công trình, bài viết
sau: GS.TSKH Lê Cảm: "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố
tụng hình sự", Tạp chí Kiểm sát, số 02/2004; PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí:
"Bàn về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự", Tạp chí
Khoa học, (Luật học), số 26, 2010; Hoàng Thị Sơn: "Việc giải quyết vấn đề
dân sự trong vụ án hình sự", Tạp chí Luật học, số 6, 1998, Nguyễn Thanh
Thủy: "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự", Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, 2001; Lê Kim Dung: "Civil Execution in

ViêtNam;

Reality

Problems

and

Suggestion

Towrds

a

WellFunctioning System" (Thi hành án dân sự Việt Nam; thực tiễn, vấn đề
và những gợi ý hướng tới một hệ thống hoàn thiện), Luận văn thạc sĩ Luật
học, 2002; Lê Xuân Hồng: "Xã hội hóa một số nội dung thi hành án dân sự",
Luận văn thạc sĩ Luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, 2002; Nguyễn
Quang Thái: "Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam",
Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003;

vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự
trong bản án, quyết định hình sự của tòa án ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3


Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là qui định của pháp luật về nghĩa
vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án bao gồm các nghĩa vụ
dân sự phát sinh từ quyết định hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết
định dân sự khác trong bản án, quyết định hình sự và thực tiễn áp dụng. Luận
văn cũng đồng thời nghiên cứu thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản
án, quyết định hình sự của tòa ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là qui định của pháp luật và thực
tiễn thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác
trong bản án, quyết định hình sự với thời gian từ năm 2005 đến năm 2013.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, hoàn thiện Nhà nƣớc
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, về chính sách thi hành nghĩa vụ dân
sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án. Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ
sở quán triệt các nghị quyết và chỉ thị của Đảng, các văn bản pháp luật của
Nhà nƣớc về pháp luật hình sự và pháp luật về thi hành nghĩa vụ dân sự trong
bản án, quyết định hình sự của tòa án. Cơ sở thực tiễn của các báo cáo chuyên
đề vÒ thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án,
của Tổng Cục thi hành án dân sự - Bộ Tƣ pháp, Bộ Công an, Vụ Kiểm sát thi
hành án - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao v.v...
Cơ sở phƣơng pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN Ở VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT
ĐỊNH HÌNH SỰ
1.1.1. Khái niệm hình phạt tiền và căn cứ áp dụng hình phạt tiền
1.1.1.1. Khái niệm hình phạt tiền
Theo Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được qui định
trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [29].
Mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị ngƣời phạm tội, giáo dục họ
trở thành ngƣời có ích cho xã hội đồng ngoài ra còn nhằm đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm.
Mặc dù đƣợc ghi nhận khá sớm trong pháp luật hình sự, song vẫn
chƣa có một khái niệm pháp lý chính thức nào về hình phạt tiền trong các văn
bản pháp luật hình sự và cho đến nay hình phạt tiền mới chỉ đƣợc ghi nhận
trong các giáo trình, sách báo pháp lý chuyên ngành. Có thể kể đến một số
quan điểm sau:
- Phạt tiền là một loại hình phạt đƣợc áp dụng là hình phạt chính hoặc
hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác. Phạt tiền do Tòa
án quyết định trong những trƣờng hợp do luật định mà theo đó ngƣời bị kết án
bị tƣớc một số tiền tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, đồng thời
xem xét đến tình hình tài sản của ngƣời bị kết án và sự biến động của giá cả.
- Phạt tiền là hình phạt không tƣớc tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo

6




dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung. Trong tổng số 272 điều luật
qui định về tội phạm cụ thể, số điều luật qui định hình phạt tiền là hình phạt
chính có 74/272 chiếm tỷ lệ 27,2%.
Khoản 1 Điều 30 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 qui định căn cứ để
áp dụng phạt tiền là hình phạt chính nhƣ sau: “1. Phạt tiền được áp dụng là
hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội
phạm khác do Bộ luật này qui định” [29].
Nhƣ vậy, phạt tiền đƣợc qui định là hình phạt chính cho ba nhóm tội
phạm sau:
+ Nhóm tội phạm có tính chất vụ lợi, ví dụ nhƣ: tội buôn lậu; tội vận
chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm; tội đầu cơ; tội trốn thuế; tội lừa dối khách hàng...
+ Nhóm tội phạm dùng tiền làm phương tiện phạm tội, ví dụ nhƣ: tội
đánh bạc; tội tổ chức đánh bạc; tội gá bạc...
+ Nhóm tội phạm khác: đây là một số tội tuy không thuộc hai trƣờng
hợp trên nhƣng nhà làm luật thấy rằng cần thiết áp dụng phạt tiền là hình phạt
chính đối với ngƣời phạm tội nhằm đạt đƣợc tối đa mục đích của hình phạt.
Ví dụ nhƣ: tội gây rối trật tự công cộng; tội hành nghề mê tín dị đoan; tội
truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy; tội vi phạm qui chế về khu vực biên giới; tội
xuất nhập cảnh trái phép; tội ở lại nƣớc ngoài hoặc ở lại Việt Nam trái phép...
Ngoài ra để quyết định áp dụng phạt tiền là hình phạt chính thì phải
căn cứ theo qui định chung tại Điều 45 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009:
“Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào qui định của Bộ luật hình sự,
cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm
hình sự” [29].

8

9


thì khi áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung, điều kiện kinh tế của ngƣời
phạm tội không phải là điều kiện bắt buộc để áp dụng.
1.1.2. Khái niệm hình phạt tịch thu tài sản và căn cứ áp dụng hình
phạt tịch thu tài sản
1.1.2.1. Khái niệm hình phạt tịch thu tài sản
Theo Điều 26 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được qui định
trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [29].
Mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị ngƣời phạm tội, giáo dục họ
trở thành ngƣời có ích cho xã hội đồng ngoài ra còn nhằm đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm.
Điều 40 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, định nghĩa: “Tịch thu tài
sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án
sung quỹ nhà nước” [29].
Tịch thu tài sản là biện pháp cƣỡng chế rất nghiêm khắc về mặt kinh
tế. So sánh với các hình phạt chính không tƣớc quyền tự do và cả với một
số hình phạt bổ sung khác thì hình phạt tịch thu tài sản còn nghiêm khắc
hơn rất nhiều.
Tính nghiêm khắc của hình phạt này thể hiện ở chỗ ngƣời bị kết án có
thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của họ sung vào
quỹ Nhà nƣớc, nhằm mục đích triệt để thu hồi các tài sản của ngƣời bị kết án
do thu lợi bất chính mà có, đồng thời triệt tiêu cơ sở kinh tế của họ nhằm ngăn
ngừa họ có thể sử dụng các tài sản đó vào hoạt động phạm tội, gây nguy hại
cho xã hội, thông qua đó giáo dục ngƣời bị kết án ý thức tôn trọng pháp luật,
không phạm tội mới và răn đe những ngƣời có nguy cơ phạm tội trong xã hội,
thực hiện phòng ngừa chung trong xã hội. Nhƣ vậy, chức năng cơ bản của loại

thể chứng minh đƣợc.

11


1.1.3. Khái niệm quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình
sự và căn cứ áp dụng quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự
1.1.3.1. Khái niệm quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự
Quyết định dân sự nhƣ quyết định về án phí; các quyết định dân sự
thuộc phần các biện pháp tƣ pháp qui định trong chƣơng VI Bộ luật hình sự
sửa đổi năm 2009 nhƣ: quyết định tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm (Điều 41); quyết định trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thƣờng thiệt hại;
quyết định buộc công khai xin lỗi (Điều 42).
1.1.3.2. Căn cứ áp dụng quyết định dân sự trong bản án, quyết định
hình sự
Cơ sở pháp lý để thực hiện vấn đề này là Bộ luật tố tụng hình sự. Điều
28 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định giải quyết vấn đề dân sự trong
vụ án hình sự nhƣ sau: Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
đƣợc tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự.
Trong trƣờng hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thƣờng, bồi
hoàn mà chƣa có điều kiện chứng minh và không ảnh hƣởng đến việc giải
quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Đây là điều luật mới, đƣợc bổ sung vào Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Các hoạt động của cơ quan Nhà nƣớc nói chung và của các cơ quan
tiến hành tố tụng nói riêng đều cần một khoản chi phí nhất định. Chính vì vậy
mà Nhà nƣớc buộc ngƣời bị kết án phải chịu một khoản chi phí là án phí để
bù đắp các chi phí tiến hành tố tụng hình sự.
Ngƣời phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm nếu có lỗi và làm
phát sinh các thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng và danh dự, nhân phẩm
của ngƣời khác nên ngoài trách nhiệm hình sự còn phải chịu trách nhiệm về

thể hiện tính tuyệt đối quyền lực Nhà nƣớc, ngƣời bị kết án sẽ bị Tòa án quyết
định áp dụng mà không có bất cứ sự thỏa thuận nào trong quá trình tố tụng.
Sau khi các quyết định này có hiệu lực pháp luật thì ngƣời bị kết án phải thi

13


hành và ngƣời đƣợc thi hành là Nhà nƣớc, tiền và tài sản thu đƣợc sẽ sung
quỹ Nhà nƣớc.
Các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các quyết định về trả lại tài sản, sửa
chữa hoặc bồi thƣờng thiệt hại, công khai xin lỗi tuy mang tính quyền lực Nhà
nƣớc nhƣng không phải tuyệt đối vì trong quá trình tố tụng các cơ quan tố
tụng có thể cho các bên thỏa thuận giải quyết trừ các trƣờng hợp thiệt hại vật
chất là yếu tố thuộc cấu thành của tội phạm. Đến giai đoạn thi hành các nghĩa
vụ này các bên vẫn tiếp tục có quyền thỏa thuận thi hành cho dù không đƣợc
thỏa thuận ở giai đoạn tố tụng.
1.3. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ
TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
1.3.1. Khái niệm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết
định hình sự
Để làm sáng tỏ khái niệm thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết
định hình sự của tòa án, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm thi hành án.
Theo Hán - Việt từ điển của tác giả Đào Duy Anh, "Thi hành" là "đem
cái việc đã trù định sẵn mà làm ra cho có hiệu quả" [1]. Theo Đại Từ điển
tiếng Việt, thi hành là "thực hiện điều đã chính thức quyết định" [48]. Nhƣ
vậy, thi hành bản án và quyết định hình sự có thể đƣợc hiểu là đem bản án và
quyết định hình sự của tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế
cho có hiệu quả. Bản án, quyết định hình sự của Tòa án đƣợc hiểu là văn bản
pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nƣớc tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các
vấn đề trong vụ án hình sự.

thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức thi hành án của cơ quan thi
hành án. Thi hành án là giai đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn xét xử và các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt
động thi hành án. Song không thể nói đây là cơ sở pháp lý duy nhất, mà mới
chỉ là điều kiện cần. Để tiến hành hoạt động thi hành án có hiệu quả, phải có
các điều kiện đủ là có cơ quan thi hành án, các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi

15


hành án đƣợc qui định cụ thể trong pháp luật thi hành án. Cho nên, hoạt động
thi hành án không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng mà chịu sự điều
chỉnh của pháp luật thi hành án.
Thứ hai, mặc dù có sự lệ thuộc và chịu sự chi phối nhƣ trên, nhƣng ở
giai đoạn thi hành án, tính chất tố tụng đã chấm dứt, bởi lẽ khi bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, chức năng xét xử đã hoàn thành,
chân lý đã đƣợc làm sáng tỏ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã đƣợc phân xử
rõ ràng. Ở thời điểm này, quyền lực của Nhà nƣớc mới chỉ đƣợc thể hiện trên
các bản án, quyết định công nhận các sự kiện pháp lý, các quan hệ pháp luật
hoặc buộc ngƣời bị kết án có nghĩa vụ phải làm một việc hoặc không làm một
việc vì lợi ích của Nhà nƣớc hoặc của ngƣời đƣợc thi hành án, chứ việc công
nhận này chƣa đƣợc thể hiện trên thực tế. Để thực hiện nhiệm vụ đƣa các
phán quyết của Tòa án trở thành hiện thực trên thực tế, cơ quan thi hành án
phải có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan, trong đó có Tòa án.
Thứ ba, thi hành án không mang tính chất hành chính, bởi hành chính
là hoạt động chấp hành, điều hành, các quyết định hành chính đƣợc đƣa ra
trên cơ sở mệnh lệnh có tính bắt buộc thi hành của cấp trên đối với cấp dƣới.
Hoạt động của cơ quan hành chính chủ yếu xoay quanh ngƣời đứng đầu là
Thủ trƣởng cơ quan hành chính, trong khi đó thi hành án là hoạt động tƣ pháp
có những điểm khác cơ bản.

danh dự và nhân phẩm của công dân.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đƣa ra khái niệm thi hành án nhƣ sau:
Thi hành án là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm
quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án,
quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp
luật, được thự c hiệ n trên thự c tế , nhằ m bả o đ ả m lợ i ích

củ a Nhà nư ớ c, quyề n, lợ i ích hợ p pháp của các công dân, tổ

17


chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Thi hành án đối với bản án, quyết định hình sự của Tòa án gồm hai phần:
Phần thứ nhất là thi hành án hình sự (gồm: Thi hành án phạt tù; Thi
hành án tử hình; Thi hành án treo; Thi hành án phạt cải tạo không giam
giữ; Thi hành án phạt cấm cƣ trú; Thi hành án phạt quản chế; Thi hành án
phạt trục xuất; Thi hành án phạt tƣớc một số quyền công dân; Thi hành án
phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định; Thi hành biện pháp tƣ pháp bắt buộc chữa bệnh; Thi hành biện pháp
tƣ pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn; Thi hành biện pháp tƣ pháp đƣa
vào trƣờng giáo dƣỡng).
Phần thứ hai là thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình
sự của tòa án. Theo qui định tại khoản 5 Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003: "Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và
quyết định dân sự trong vụ án hình sự" [25]. Gồm: Thi hành hình phạt tiền;
thi hành hình phạt tịch thu tài sản và thi hành các quyết định dân sự khác
trong bản án, quyết định hình sự nhƣ: thi hành nghĩa vụ công khai xin lỗi; thi
hành nghĩa vụ sửa chữa hoặc bồi thƣờng thiệt hại; thi hành nghĩa vụ hoàn trả
tài sản; thi hành nghĩa vụ cấp dƣỡng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status