1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH HUYỀN
XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Thu Thủy HÀ NỘI - 2013 3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng
1.2.
Các quy định pháp luật việt nam về mua bán, sáp nhập tổ chức
tín dụng
33
1.2.1.
Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về mua bán, sáp
nhập tổ chức tín dụng ở Việt Nam
33
1.2.2.
Trình tự, thủ tục mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng
36
1.2.3.
Chủ thể tham gia hoạt động mua bán, sáp nhập tổ chức tín dụng
44
1.2.4.
Định giá tài sản khi mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng
50
4
1.2.5.
Hợp đồng mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng
54
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP TỔ
CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM
PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP TỔ CHỨC TÍN
DỤNG CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
57
2.1.
Thực trạng hoạt động mua bán, sáp nhập tổ chức tín dụng ở
101
3.2.
Các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt
động mua bán, sáp nhập tổ chức tín dụng ở Việt Nam
103
3.2.1.
Ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán và
sáp nhập doanh nghiệp nói chung
103
3.2.2.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động mua bán và sáp nhập
tổ chức tín dụng
104
KẾT LUẬN
115
5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
117
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐQT
: Hội đồng quản trị
2.3
Tỷ lệ nắm giữ cổ phần NHTMCP nội địa của một số tổ
chức nước ngoài (tính đến hết tháng 9/2008)
61
2.4
Hoạt động nắm giữ cổ phần chéo giữa các ngân hàng
trong nước
62
2.5
So sánh chi phí giữa việc tiến hành chi trả tiền gửi và tiến
hành M&A Ngân hàng Indy Mac
80
2.6
Danh sách 5 thương vụ M&A Ngân hàng Mỹ lớn nhất (2008)
83
2.7
Kết quả thử nghiệm chi phí tối thiểu
95 8
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
phủ nhằm tái cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp trong các cuộc khủng hoảng.
Đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng tại Việt Nam, đa số các tổ chức
tín dụng (TCTD) trong nước đều có quy mô nhỏ với vốn điều lệ thấp, chất
lượng dịch vụ chưa cao, mạng lưới chi nhánh chưa rộng khắp, trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ cũng như quản lý điều hành, đội ngũ cán bộ còn thua kém so
với các nước trong khu vực và trên thế giới. Với một thực tế như vậy, các
TCTD trong nước khó có đủ năng lực để cạnh tranh với các TCTD nước
10
ngoài, đặc biệt trong thời kỳ Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện
lộ trình tự do hóa lĩnh vực tài chính theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO). Nhận thức rõ những khó khăn mà các TCTD trong nước
sẽ phải đối mặt trong giai đoạn này, Chính phủ Việt Nam đã xác định tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng là điều hết sức cần thiết và cấp bách. Trong đó,
M&A được coi là một trong những biện pháp được áp dụng phổ biến và phù
hợp với hoàn cảnh hiện nay. Mặc dù hoạt động này đã diễn ra khá phổ biến tại
nhiều quốc gia, nhưng tại Việt Nam, nó mới chỉ phát triển trong những năm
gần đây.
Trong thời gian qua, cũng phải nhận thấy rằng, pháp luật về M&A đã
được Chính phủ quan tâm xây dựng và được ghi nhận trong Luật Doanh
nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Chứng khoán, Thông tư số
04/2010/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 11/02/2010 về việc quy
định sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD (sau đây gọi tắt là Thông tư số
04/2010/TT-NHNN), nhưng vẫn chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh và thống
nhất. Hơn nữa, tại Việt Nam cũng chưa có một cơ quan chuyên môn nào trực
tiếp quản lý hoạt động M&A, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Vì vậy, để hoạt động M&A đi vào nề nếp và là một kênh đầu tư quan trọng
đối với các nhà đầu tư trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài, tác
giả chọn đề tài: "Xây dựng pháp luật về mua bán, sáp nhập các tổ chức tín
dụng ở Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ của mình. Qua nghiên cứu, tác giả
luật về mua bán, sáp nhập TCTD ở Việt Nam, phân tích các quy định của
pháp luật hiện hành về mua bán, sáp nhập các TCTD và nghiên cứu về một số
thương vụ thực tế đối với mua bán, sáp nhập TCTD tại Việt Nam cũng như
một số quốc gia trên thế giới để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và
giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về mua bán và sáp nhập các TCTD ở
Việt Nam.
12
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy
định pháp luật và thực trạng hoạt động M&A đối với các TCTD tại Việt Nam
hiện nay. Trên thực tế, hoạt động M&A chủ yếu tập trung vào trong lĩnh vực
ngân hàng. Vì vậy, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động M&A đối
với các ngân hàng thương mại (NHTM) để từ đó đưa ra những kiến nghị, giải
pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về mua bán, sáp nhập các TCTD tại
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động M&A đối với các TCTD có nhiều nội
dung khác nhau và bao quát một lĩnh vực rất rộng, không thể trình bày hết
trong luận văn. Vì vậy, luận văn này giới hạn nghiên cứu về quy định của
pháp luật hiện hành đối với hoạt động mua bán và sáp nhập NHTM, thực
trạng hoạt động M&A tại Việt Nam và kinh nghiệm pháp lý về hoạt động này
của một số quốc gia trên thế giới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được viết trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra, luận văn cũng kế
thừa có chọn lọc những vấn đề lý luận, thực tiễn được các nhà nghiên cứu đi
trước đưa ra, những tài liệu được công bố trên tạp chí, bài viết, bài báo, báo
cáo tổng kết và các tài liệu, các nguồn từ nước ngoài.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thống kê,
của một số nước trên thế giới.
Chương 3: Một số đề xuất nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
mua bán, sáp nhập các tổ chức tín dụng ở Việt Nam. 14
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP
TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP TỔ CHỨC
TÍN DỤNG
1.1.1. Quan niệm về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp
Khái niệm về M&A hiện đang được định nghĩa theo các tiêu chí khác
nhau (trong các tài liệu như Mergers, Consolidation, Acquitions, Leverged
Buyouts, Takeovers (friendly/hostile), Management Buyouts, Share-Due,
Asset-Due ), nhưng đều có nội dung về quan hệ sáp nhập, hợp nhất hoặc thâu
tóm giữa các doanh nghiệp với mong muốn tìm kiếm, mở rộng thị trường,
nâng cao quy mô doanh nghiệp. M&A cũng góp phần "làm sạch" thị trường
đối với những doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản, hoặc những doanh nghiệp
cần phải được đầu tư về vốn, quản trị, công nghệ từ các doanh nghiệp khác.
Hơn nữa, cũng như quy luật của sự phát triển, các doanh nghiệp không chỉ
chọn giải pháp phát triển "tự sinh" thông qua việc tự thành lập các doanh
nghiệp trực thuộc, mà còn thông qua các biện pháp phát triển "ngoại sinh" với
việc sáp nhập, thâu tóm doanh nghiệp khác.
M&A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh Mergers and Acquisitions) có
nghĩa là mua bán và sáp nhập. M&A thể hiện hoạt động của hai doanh nghiệp
kết hợp lại với nhau nhằm đạt được những mục tiêu đã được xác định trong
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. M&A là một trong các hình thức
Mua lại: là quá trình mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hay
thậm chí là toàn bộ công ty.
16
Từ định nghĩa trên có thể thấy mặc dù có nhiều điểm tương đồng, nhưng
Mergers and Acquisitions có những điểm khác nhau có thể phân biệt được.
Khi một công ty mua lại (tiếp quản) một công ty khác và đặt mình vào
vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua bán. Công ty bị mua
lại sẽ chấm dứt tồn tại, trong khi cổ phiếu của công ty mua lại vẫn tiếp tục
giao dịch bình thường. Trên thực tế, không phải bất cứ lúc nào một thương vụ
mua lại cũng sẽ chấm dứt sự tồn tại của công ty mục tiêu, trường hợp này chỉ
xảy ra khi công ty đi mua mua lại toàn bộ tài sản của công ty mục tiêu (được
gọi là hình thức buy-out), phần lớn những thương vụ mua lại là mua lại một
phần tài sản hoặc vốn cổ phần của công ty mục tiêu, khi đó công ty mục tiêu
vẫn hoạt động bình thường, chỉ có điều phần tài sản bị mua sẽ thuộc về công
ty đi mua. Trong trường hợp mua lại cổ phần thì công ty đi mua sẽ trở thành
một cổ đông của công ty mục tiêu.
Đối với sáp nhập, hiểu theo nghĩa hẹp, là giao dịch trong đó một hoặc
một số doanh nghiệp từ bỏ pháp nhân của mình để gia nhập vào một doanh
nghiệp khác. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền,
lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập. Sau khi việc sáp
nhập hoàn thành thì doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của
mình. Hiểu theo nghĩa rộng, sáp nhập doanh nghiệp bao gồm cả việc hai hoặc
nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp
pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới; đồng thời, chấm dứt sự
tồn tại của các doanh nghiệp trước sáp nhập. Sáp nhập theo nghĩa rộng, bao
gồm cả hợp nhất. Trong trường hợp này thì cổ phiếu của hai công ty được
thay thế bằng cổ phiếu của công ty mới.
Vậy, có thể thấy, quan niệm phổ biến về M&A trên thế giới được hiểu
bao gồm không chỉ sáp nhập, mua lại, mà bao gồm cả hợp nhất và giành
Hiện nay, Luật Doanh nghiệp mới chỉ quy định về mua bán/mua lại
doanh nghiệp tư nhân tại Điều 145 như sau:
18
1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp
của mình cho người khác. Chậm nhất mười lăm ngày trước ngày
chuyển giao doanh nghiệp cho người mua, chủ doanh nghiệp phải
thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh
2. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn
phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà
doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán
và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác [19].
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty TNHH, Công ty
cổ phần, Luật Doanh nghiệp chỉ quy định về việc mua bán/chuyển nhượng
phần vốn góp hoặc mua bán/chuyển nhượng cổ phần, cụ thể như sau:
Đối với Công ty TNHH, việc mua bán/chuyển nhượng phần vốn góp
được quy định tại Điều 44. Theo đó:
Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở
lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp
của mình cho người khác theo quy định sau đây:
1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại
theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với
cùng điều kiện;
2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành
viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không
mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán [19].
Đối với Công ty cổ phần, việc mua bán/chuyển nhượng phần cổ phần
được quy định tai Điều 87. Theo đó, điều khoản này quy định như sau:
1. Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và
giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán. Giá
có nhiều chủ sở hữu, mỗi chủ sở hữu chỉ chịu TNHH trong phạm vi phần vốn
20
góp/cổ phần của mình. Riêng đối với công ty TNHH một thành viên (chủ sở
hữu là một tổ chức hoặc một cá nhân) thì vẫn có thể chuyển nhượng một phần
hoặc toàn bộ phần vốn góp của chủ sở hữu đó cho tổ chức hoặc cá nhân khác.
Về tính chịu trách nhiệm, đối với hoạt động mua bán doanh nghiệp tư
nhân, chủ sở hữu của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm toàn bộ về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ
trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận
khác. Còn đối với công ty TNHH/ công ty cổ phần thì sau khi thực hiện xong
việc mua bán/chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần thì các bên sẽ không còn
trách nhiệm gì với nhau.
Như trên đã phân tích, một trong những mục tiêu lớn nhất của M&A
là nhà đầu tư mới/cổ đông mới của doanh nghiệp mong muốn giành quyền
kiểm soát doanh nghiệp ở mức độ nhất định, không đơn thuần là sở hữu một
phần vốn góp hay cổ phần của doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ, lẻ. Vì
vậy, khi một nhà đầu tư mới/cổ đông mới đạt được mức sở hữu phần vốn góp,
cổ phần của doanh nghiệp đủ để tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng
của doanh nghiệp thì khi đó mới có thể coi đây là hoạt động M&A. Ngược lại,
khi nhà đầu tư sở hữu phần vốn góp, cổ phần không đủ để quyết định các vấn
đề quan trọng của doanh nghiệp thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tư
thông thường.
Như vậy, đối với việc mua lại toàn bộ doanh nghiệp của nhà đầu tư
(áp dụng doanh nghiệp tư nhân) thì coi như chủ đầu tư đã kiểm soát toàn bộ
doanh nghiệp, có thể coi là hoạt động M&A.
Trường hợp của công ty TNHH/ công ty cổ phần sẽ xảy ra các trường
hợp sau đây:
Thứ nhất, đối với việc mua lại toàn bộ phần vốn góp/cổ phần thì nhà
đầu tư mới/cổ đông mới có quyền kiểm soát toàn bộ doanh nghiệp. Mục đích
của công ty ký các hợp đồng (như hợp đồng giữa các cổ đông/ thỏa thuận
giữa các cổ đông). Theo các hợp đồng/ thỏa thuận này, các nhà đầu tư mới có
22
thể kiểm soát công ty thông qua các chức danh quản lý do mình được quyền
đề cử, bổ nhiệm. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi
hành chưa có quy định rõ ràng về vấn đề này. Các bên thường áp dụng trên
nguyên tắc thỏa thuận theo tinh thần của Bộ luật Dân sự.
Luật Đầu tư
Tại đây, lần đầu tiên quy định "Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua
lại doanh nghiệp"
[20, Điều 21.6]
như một trong các hình thức đầu tư trực
tiếp. Theo đó, "đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu
tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư" [20, Điều 3.2]. Điều 25.2 có ghi
nhận: "Nhà đầu tư được quyền sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh. Điều
kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật này, pháp
luật về cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có liên quan" [20].
Luật Chứng khoán
Đối với hoạt động chia, tách, sáp nhập và hợp nhất, Luật Chứng khoán
chỉ bó hẹp trong phạm vi áp dụng là đối với công ty chứng khoán, công ty
quản lý quỹ mà không áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp khác. Ngoài
ra, Luật Chứng khoán đề cập chủ yếu đến hoạt động mua bán cổ phiếu của
công ty đại chúng. Như vậy, có thể thấy rằng hoạt động M&A theo cách nhìn
và tiếp cận của Luật Chứng khoán mới chỉ dừng lại ở mức độ là hoạt động
đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư.
Luật Cạnh tranh
Theo quy định của pháp luật về cạnh tranh thì "sáp nhập doanh nghiệp
M&A như là hình thức đầu tư trực tiếp, Luật Chứng khoán quy định M&A
như là hình thức đầu tư gián tiếp, còn Luật Cạnh tranh lại quy định M&A như
là hình thức tập trung kinh tế, thuộc nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh.
Tóm lại, mặc dù được quy định rải rác trong các văn bản khác nhau,
nhưng tựu chung lại M&A được hiểu là hoạt động giành quyền kiểm soát một
doanh nghiệp hoặc một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu toàn bộ
24
hoặc một phần doanh nghiệp đó. Mục đích chính của M&A là phải tạo ra
những giá trị mới cho các cổ đông, giá trị của công ty sau khi tiến hành M&A
phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai công ty khi còn đứng riêng lẻ. Ngoài
ra, những công ty mạnh mua lại công ty khác nhằm tạo ra một công ty mới
với năng lực cạnh tranh cao hơn, đạt hiệu quả về chi phí, chiếm lĩnh thị phần
lớn hơn, hiệu quả vận hành cao hơn… những điều này tạo ra lợi ích kỳ vọng
thuyết phục các doanh nghiệp khác chấp nhận để mình bị mua lại.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng
1.1.2.1. Khái niệm mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng
Ngày 15/07/1998, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Quyết định
số 241/1998/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế sáp nhập, hợp nhất mua lại
TCTD cổ phần Việt Nam (sau đây gọi tắt là Quyết định số 241/1998/QĐ-NHNN.
Theo đó, hoạt động mua bán, sáp nhập hay hợp nhất TCTD và khái niệm về
mua bán, sáp nhập TCTD lần đầu tiên được quy định tại Quyết định số
241/1998/QĐ-NHNN. Cụ thể, Điều 2 của Quyết định quy định như sau:
• Sáp nhập: là việc một hoặc một số tổ chức tín dụng cổ
phần được nhập (gọi là tổ chức tín dụng cổ phần được sáp nhập)
vào một tổ chức tín dụng cổ phần khác (gọi là tổ chức tín dụng cổ
phần sáp nhập). Sau khi sáp nhập, toàn bộ hoạt động của tổ chức tín
dụng cổ phần được sáp nhập vào tổ chức tín dụng cổ phần sáp nhập
và tổ chức tín dụng cổ phần được sáp nhập chấm dứt hoạt động;
toàn bộ các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động của tổ chức tín dụng
Tuy nhiên, trên thực tế khi triển khai áp dụng Quyết định số
241/1998/QĐ-NHNN cũng như Nghị định số 69/2007/NÐ-CP và Thông tư số
07/2007/TT-NHNN đã phát sinh nhiều bất cập, không còn phù hợp với thực
tiễn hoạt động của các ngân hàng. Đồng thời, cũng không phù hợp với xu thế
hội nhập khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính vào năm 2010.
Đây là thời điểm các ngân hàng lớn mở rộng thị phần và hoạt động M&A
chính là con đường ngắn nhất để các ngân hàng này đạt hiệu quả cao với