1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM CHUNG THỦY
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Quang
HÀ NỘI - 2012 3
Table of Contents
. 4
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 9
KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG
SẢN 9
1.1. KHÁI NIỆM KHOÁNG SẢN VÀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN
KHOÁNG SẢN 9
1.1.1. Định nghĩa khoáng sản 9
1.1.2. Phân loại khoáng sản 10
1.1.3. Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, vai trò và ảnh hƣởng của nó đến
phát triển kinh tế - xã hội 12
1.2. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT KHOÁNG SẢN 15
3.1. GIẢI PHÁP CHUNG 84
3.2. GIẢI PHÁP CỤ THỂ 87
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 4
.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, và nhất là gia nhập Tổ chức Thƣơng
mại Thế giới (WTO) khiến cho Việt Nam có một vị trí nhất định trên trƣờng
quốc tế. Trong nền kinh tế thị trƣờng, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nƣớc đem lại những đổi thay tích cực trong kinh tế, văn hóa, chính trị, xã
hội. Song chính những điều đó lại tác động không ít đến môi trƣờng. Vấn đề ô
nhiễm môi trƣờng đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn ở Việt
Nam. Hàng ngày, trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, chúng ta dễ dàng
bắt gặp những hình ảnh, những thông tin về việc môi trƣờng đang bị suy
thoái, đang bị ô nhiễm. Bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trƣờng, tình
trạng ô nhiễm môi trƣờng càng lúc càng trở nên trầm trọng. Việc ô nhiễm môi
trƣờng ở nƣớc ta do nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên nhân
chính là việc khai thác khoáng sản tràn lan. Chúng ta vẫn tự hào rằng đất
nƣớc mình có "Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu". Nằm ở khu vực Đông
Nam Châu Á, Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng,
là nguồn nguyên liệu, tiềm năng lớn của quốc gia. Đó là một lợi thế. Nhƣng
dƣờng nhƣ, việc khai thác khoáng sản một cách tối đa, vay mƣợn cả tài
nguyên của các thế hệ tƣơng lai, bất chấp quy luật tự nhiên và đạo lý xã hội,
gạt bỏ vấn đề về môi sinh và những lợi ích chính đáng của thế hệ sau đã tạo
một cách có hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy
đủ, phù hợp với thực trạng khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam và là
cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp nhằm bảo vệ môi trƣờng trong
hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Những kiến nghị của đề tài hy
vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định
pháp luật của Việt Nam trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. 6
Tác giả hy vọng rằng với sự đầu tƣ thích đáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một
tài liệu tham khảo có giá trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
điều chỉnh pháp luật về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ cụ thể của luận
văn là:
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động khai thác, chế biến
khoáng sản và điều chỉnh pháp luật về hoạt động khai thác, chế biến khoáng
sản ở Việt Nam.
- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt động khai thác, chế
biến khoáng sản, từ đó đánh giá những ƣu điểm và nhƣợc điểm của pháp luật
hiện hành về hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản.
- Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, luận
văn đƣa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về
hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu luận văn
Để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trên, luận văn sử dụng nhiều
phƣơng pháp nghiên cứu khoa học khác nhau nhƣ: Phƣơng pháp tổng hợp và
phân tích, phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp
sản. Trong khai thác khoáng sản bao gồm cả phân loại, làm giàu khoáng sản
gắn với quá trình khai thác. Hoạt động chế biến khoáng sản sau khai thác
(thƣờng gọi là chế biến sâu khoáng sản), hoạt động tiêu thụ, tàng trữ, vận
chuyển khoáng sản không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Khoáng sản
năm 2010. Chính vì vậy, hai chữ chế biến trong luận văn bản chất chính là
hoạt động phân loại, làm giàu khoáng sản gắn với quá trình khai thác, chứ 8
không phải là hoạt động chế biến khoáng sản sau khai thác. Theo quan điểm
trong Luật khoáng sản năm 2010 cũng nhƣ các văn bản pháp luật về khoáng
sản thì hoạt động khoáng sản bao gồm cả thăm dò, khai thác khoáng sản. Tuy
nhiên trong luận văn này, tác giả xin tập trung nghiên cứu hoạt động khai thác
khoáng sản trong nƣớc. Tác giả không đi sâu nghiên cứu hoạt động thăm dò
khoáng sản.
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung cơ
bản của pháp luật về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản theo Luật
khoáng sản năm 2010. Vì vậy, tác giả không đề cập đến sự điều chỉnh của
pháp luật trong lĩnh vực khai thác và chế biến dầu khí, cũng nhƣ các loại nƣớc
thiên nhiên khác.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục,
luận văn bao gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Khái quát pháp luật về hoạt động khai thác, chế biến
khoáng sản.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động khai thác khoáng sản và
chế biến khoáng sản ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao tính hiệu quả của pháp luật về hoạt
động khai thác, chế biến khoáng sản.
trong thời gian dài từ ngàn năm đến hàng chục, hàng trăm triệu năm.
Trong địa chất học, khoáng sản đƣợc định nghĩa là các đá hoặc tập
hợp kháng vật tự nhiên trong vỏ trái đất, tạo thành do các quá trình địa chất
xác định, mà từ đó con ngƣời có thể lấy kim loại, các hợp chất hay các
khoáng vật để sử dụng trong nền kinh tế quốc dân. Các ngành kinh tế khác
nhau có các yêu cầu khác nhau đối với khoáng sản đƣợc sử dụng cho ngành
đó. Vì vậy, chúng ta có khoáng sản kim loại đen, khoáng sản kim loại màu, 10
khoáng sản hóa chất, khoáng sản năng lƣợng (dầu mỏ, khí đốt), khoáng sản đá
quý. Theo từ điển địa chất thì "khoáng sản (Hữu ích) là những thành tạo
khoáng vật tự nhiên mà ta có thể lợi dụng trực tiếp hoặc từ đó lấy ra những
kim loại hay khoáng vật sử dụng trong nền kinh tế quốc dân". Khoáng sản
chia ra: khoáng sản kim loại (Quặng), khoáng sản phi kim loại (thƣờng gọi là
quặng) và các đá hữu cơ chảy đƣợc (Các nhiên liệu nhƣ than, dầu lửa, khí
đốt ). XA. Va khơ-rô-mê-ép định nghĩa: "Khoáng sản (hữu ích) là những
khoáng chất tự nhiên mà về chất cũng nhƣ về lƣợng đều có lợi khi sử dụng
trong nền kinh tế quốc dân" [19].
Dƣới góc độ pháp luật, khoáng sản đƣợc hiểu là các tài nguyên trong
lòng đất, trên mặt đất dƣới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất
có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí hiện tại hoặc sau này có thể khai thác, khoáng
vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể đƣợc khai thác lại, cũng là
khoáng sản. Luật Khoáng sản năm 2010 có quy định: "Khoáng sản là khoáng vật,
khoáng chất có ích đƣợc tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong
lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ" [30].
Tóm lại, khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích đƣợc tích tụ tự
nhiên hàng ngàn, hàng nghìn năm ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong
lòng, trên mặt đất. Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo đƣợc, là tài
sản quan trọng của quốc gia. Giá trị to lớn của khoáng sản cũng nhƣ tính phức
loại màu và kim loại đá quý.
4) Nhiên liệu đá màu bao gồm: Ngọc thạch anh, đá mã não, canxedon,
charoit, nefrit và các loại đá quý nhƣ kim cƣơng, ngọc lục bảo, hồng ngọc,
xa phia
5) Thủy khoáng bao gồm: Nƣớc khoáng và nƣớc ngọt ngầm dƣới đất. 12
6) Nhiên liệu khoáng - hóa bao gồm: Apatit và các muối khoáng khác
nhƣ photphat, barit, borat
* Theo trạng thái vật lý có thể phân chia khoáng sản ra:
1) Khoáng sản rắn: Quặng kim loại đen, kim loại màu, đá
2) Khoáng sản lỏng: Dầu mỏ, nƣớc khoáng
3) Khoáng sản khí: Khí đốt, khí trơ
1.1.3. Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, vai trò và ảnh hưởng
của nó đến phát triển kinh tế - xã hội
Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản có từ khá lâu đời. Lúc đầu,
hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam cũng nhƣ các quốc gia
khác trên thế giới chỉ là khai thác đá, sắt, đồng… để làm công cụ phục vụ cho
chăn nuôi, trồng trọt, luyện vũ khí để chống giặc ngoại xâm. Từ rất lâu, từ
trong truyền thuyết Thánh Gióng, dân mình đã biết rèn binh đao để đánh giặc,
tức là đã biết khai thác và chế biến quặng sắt. Theo ghi chép của Bác học Lê
Quý Đôn thì từ xa xƣa dân mình đã biết những dấu tìm kiếm khoáng sản nhƣ
căn cứ vào loài cây mọc trên đất tự nhiên mà biết dƣới lòng đất có khoáng sản
gì. Nhƣng phải đến thời Pháp thuộc, khai thác khoáng sản mới định hình nhƣ
một nghề. Khi thực dân Pháp đô hộ nƣớc ta, chúng đã cho thành lập Sở địa
chất Đông Dƣơng. Nơi đây tập trung nhiều nhà bác học địa chất nổi tiếng của
nƣớc Pháp và cả thế giới lúc bấy giờ. Rất nhiều mỏ khoáng sản của Việt Nam
đã đƣợc ngƣời Pháp phát hiện ra. Thực dân Pháp khai thác khoáng sản để làm
nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu của chúng. Tòa quyền Đông Dƣơng đã bán
Mặc dù ngành công nghiệp khai khoáng ở nƣớc ta chƣa phát triển mạnh
nhƣng nó cũng đã đóng một vai trò đáng kể trong nền kinh tế quốc dân Việt
Nam hiện nay. Theo Tổng cục Thống kê:
Năm 1995 giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp khai
khoáng đóng góp khoảng 4,81% tổng thu nhập quốc dân. Năm
2008, thu nhập của ngành công nghiệp khai khoáng đạt 131.968 tỷ 14
đồng tăng gấp 3,1 so với năm 2000 và gấp gần 12 lần so với năm
1995. Tốc độ tăng trƣởng ngành thuộc loại rất cao 15,2/năm [35].
Khi tiến hành các hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản, doanh nghiệp
phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nƣớc. Trong đó đáng kể
nhất là thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập
doanh nghiệp. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, "nguồn thu từ công nghiệp khai
khoáng của Việt Nam (kể cả dầu khí) đạt trung bình 26% - 27% trong giai
đoạn 2001 - 2005, riêng năm 2006 đạt xấp xỉ 31% do giá dầu thô tăng" [3].
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, "doanh thu hàng năm từ các chất
hydrocarbon của Việt Nam đạt 31,8% trong giai đoạn 2000 - 2003" [5]. Vậy
khai khoáng đã tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nƣớc.
Về phƣơng diện chính trị: Tài nguyên khoáng sản giúp các quốc gia
bình ổn, giữ gìn trật tự xã hội. Công nghiệp khai khoáng đã tạo công ăn việc
làm cho ngƣời lao động. "Năm 2008, tổng số lao động trong ngành khai
khoáng khoảng 431, 2 nghìn ngƣời, chiếm 0,96% tổng số lao động đang làm
việc trong nƣớc. Tuy số lƣợng lao động này chỉ đứng thứ 11/18 trong các
ngành và lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam" [40]. Nhƣng một phần nào ngành công
nghiệp khai khoáng đã giải quyết đƣợc công ăn việc làm cho ngƣời lao động,
giảm bớt các tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Hơn nữa, khoáng
sản còn tạo cho các quốc gia có một vị trí quan trọng trong giao lƣu quốc tế.
Tài nguyên khoáng sản góp phần không nhỏ vào việc làm tăng tính độc lập, tự
Định nghĩa pháp luật khoáng sản và xác định phạm vi của pháp luật
khoáng sản là rất khó. Bởi vì tài nguyên khoáng sản vốn là tài sản của quốc
gia nên sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nƣớc vào việc quản lý, bảo
vệ tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản là rất lớn. Khiến cho lĩnh
vực pháp luật về khoáng sản có nhiều dấu ấn của yếu tố quyền lực. Hơn nữa,
dù Luật khoáng sản ra đời là một đạo luật đơn hành, để điều chỉnh các quan
hệ liên quan đến việc quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên
khoáng sản. Song Luật khoáng sản lại bao gồm khá nhiều các quy định về bảo 16
vệ môi trƣờng. Khai khoáng vốn là một trong những hoạt động của con ngƣời
có thể gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng nên việc luật khoáng sản
quy định nhiều về bảo vệ môi trƣờng là một điều dễ hiểu. Điều 30 Luật
khoáng sản năm 2010 quy định rõ các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động
khai khoáng phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trƣờng nhƣ phải thƣờng
xuyên sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu thân thiện với môi trƣờng; thực
hiện các giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trƣờng và cải
tạo, phục hồi môi trƣờng hay phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trƣờng theo
quy định của Chính phủ. Để định nghĩa đƣợc pháp luật khoáng sản, cần xác
định những vấn đề mà nó điều chỉnh. Tại điều 1 Luật khoáng sản năm 2010
quy định:
Luật này quy định việc điều tra cơ bản địa chất về khoáng
sản; bảo vệ khoáng sản chƣa khai thác thăm dò, khai thác khoáng
sản; quản lý nhà nƣớc về khoáng sản trong phạm vi đất liền, hải
đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Khoáng sản là dầu khí, khoáng sản là nƣớc thiên nhiên không
phải là nƣớc khoáng, nƣớc nóng thiên nhiên không thuộc phạm vi
điều chỉnh của Luật này [30].
tốt, tạo ra đƣợc một hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, sẽ thúc đẩy nền
kinh tế phát triển, tạo ra những cơ hội để thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Luật
kinh tế đƣợc định nghĩa là: Tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các doanh
nghiệp với nhau và giữa các doanh nghiệp với các cơ quan quản lý kinh tế.
Trong hoạt động khoáng sản, một trong những chủ thể của nó là các chủ đầu
tƣ và chủ doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản. Các chủ đầu tƣ và
doanh nghiệp này cũng là đối tƣợng chịu sự điều chỉnh của pháp luật kinh tế.
Điển hình nhƣ tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (Vinacomin)
là một doanh nghiệp nhà nƣớc chủ yếu sản xuất kinh doanh trên nền tài 18
nguyên khoáng sản. Công ty nhà nƣớc này hoạt động theo Luật doanh nghiệp
nhà nƣớc, tuân thủ theo mọi quy định của Luật doanh nghiệp nhà nƣớc. Các
hợp đồng làm ăn của công ty cũng phải tuân theo Luật thƣơng mại. Song quy
trình cấp phép hoạt động khoáng sản của Vinacomin, hay quyền khai thác
khoáng sản, quyền chuyển nhƣợng quyền khai thác khoáng sản thì hoàn toàn
tuân thủ theo pháp Luật khoáng sản.
Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao đời sống về vật chất và
tinh thần của con ngƣời qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xã hội, nâng cao chất lƣợng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá
nhân và cả loài ngƣời trong quá trình sống. Trong hệ thống kinh tế xã hội,
hàng hóa đƣợc di chuyển từ sản xuất, lƣu thông, phân phối và tiêu dùng cùng
với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lƣợng, sản phẩm, phế thải. Để có
đƣợc nguyên liệu cung cấp cho các ngành công nghiệp, có nguyên liệu để tạo
ra sản phẩm, con ngƣời đã phải khai thác khoáng sản. Con ngƣời khai thác
quặng sắt để sản xuất ra gang thép, khai thác Coban để sản xuất ra men trắng,
sơn màu. Khoáng sản Titan đƣợc dùng rộng rãi trong ngành chế tạo tên lửa và
máy bay hiện đại…Khoáng sản đem lại cho con ngƣời một nguồn nhiên liệu
kinh tế phát triển, khoa học kỹ thuật hiện đại thì con ngƣời có thể áp dụng
đƣợc những máy móc, công nghệ hiện đại tối tân nhất vào trong hoạt động
khai thác khoáng sản để giảm thiểu việc ô nhiễm môi trƣờng. Thậm chí, con
ngƣời còn phát minh, tạo ra đƣợc một số nguyên liệu mới, nhân tạo thay thế
cho tài nguyên khoáng sản. Điều này sẽ một phần nào hạn chế đƣợc việc cạn
kiệt tài nguyên, không gây ảnh hƣởng đến cân bằng sinh thái, đến môi trƣờng
sống của chúng ta.
Tóm lại, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản nhằm mục đích
sinh lời là một hoạt động kinh tế, nên chịu sự tác động, điều chỉnh của Pháp
luật kinh tế. Hoạt động này gây ảnh hƣởng đặc biệt nghiêm trọng đến môi
trƣờng nên cần sự kiểm soát của pháp luật môi trƣờng. Để cân bằng giữa hai
yếu tố kinh tế và môi trƣờng, pháp luật khoáng sản đã ra đời. Trong hệ thống
các quy định pháp lý về khoáng sản thì Luật khoáng sản có vai trò cơ bản. Nó 20
là nền tảng pháp lý cho việc thực hiện các giải pháp cân đối giữa phát triển
khai thác khoáng sản với tiềm năng khoáng sản, phù hợp với vị trí, giá trị và
nhu cầu của chúng trong nền kinh tế quốc dân, thực hiện các giải pháp bảo vệ
và tiết kiệm tài nguyên khoáng sản cũng nhƣ thực hiện các giải pháp bảo vệ
môi trƣờng.
1.3.2. Pháp luật khoáng sản là một lĩnh vực pháp luật mới
Pháp luật khoáng sản là một lĩnh vực pháp luật mới không chỉ đối với
nƣớc ta mà còn đối với các quốc gia đang phát triển trên thế giới. Điều này có
lý do riêng của nó. Pháp luật với tƣ cách là công cụ điều tiết xã hội luôn luôn
phải chịu sự chi phối của nhu cầu xã hội. Khi hoạt động thăm dò khoáng sản
và hoạt động khai thác khoáng sản chƣa đƣợc ý thức rõ, chƣa trở thành thách
thức xã hội thì Luật khoáng sản chƣa đƣợc chú ý. Mặc dù hoạt động khai thác
khoáng sản đã có từ rất lâu đời. Khoảng 40.000 năm trƣớc công nguyên, con
ngƣời đã biết sử dụng mọi thứ xung quanh mình, kể cả đá cũng đƣợc dùng
chia ra hai giai đoạn chính sau đây:
Giai đoạn trƣớc 1986. Trƣớc hết, hoàn cảnh lịch sử của đất nƣớc trong
thời kỳ trƣớc năm 1986 không cho phép đất nƣớc ta chú ý nhiều đến hoạt
động thăm dò cũng nhƣ hoạt động khai thác khoáng sản. Tất cả những cố
gắng trong thời kỳ đó đều tập trung cho việc chiến thắng đế quốc Mỹ, giành
độc lập dân tộc. Tiếp đó, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc,
vấn đề kiểm soát hoạt động khoáng sản cũng bị đẩy lùi về phía sau vì mối
quan tâm lớn của Đảng và Nhà nƣớc ta là hàn gắn vết thƣơng chiến tranh,
phát triển kinh tế và thoát ra khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội đang hoành
hành từ thời gian sau chiến tranh đến năm 1986, khi chính sách đổi mới đƣợc
khởi xƣớng. Thực tế cho thấy, trong giai đoạn này, đất nƣớc chúng ta còn
nghèo nàn, lạc hậu, không có máy móc hiện đại, khoa học kỹ thuật chƣa đủ
trình độ để thăm dò, phát hiện khoáng sản ẩn sâu trong lòng đất, lòng sông,
đáy biển…Hơn nữa, trữ lƣợng khoáng sản của nƣớc ta lớn, hoạt động khai
thác khoáng sản không đáng kể, không ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi
trƣờng nhƣ hiện nay. Giai đoạn này, luật khoáng sản chƣa xuất hiện là một 22
lĩnh vực pháp luật chuyên ngành. Mặc dù, Nhà nƣớc đã có những quy định về
tài nguyên khoáng sản nhƣng chƣa đƣợc toàn diện. Tại điều 12 Hiến pháp
năm 1959 có quy định: "Các hầm mỏ, sông ngòi, và những rừng cây, đất
hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nƣớc, đều thuộc
quyền sở hữu của toàn dân". Đến Hiến pháp năm 1980, tại điều 19 có quy
định cụ thể hơn là "Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên
nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa,…cùng các tài nguyên khác
mà pháp luật quy định là của Nhà nƣớc - đều thuộc sở hữu toàn dân". Ngoài
ra, còn có các văn bản pháp luật khác, đó là Sắc lệnh về mỏ năm 1950 của
Chủ tịch nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa; Nghị quyết 36/CP ngày
11/03/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên dƣới
lý nhà nƣớc, sử dụng có hiệu quả mọi tài nguyên khoáng sản của đất nƣớc,
khuyến khích phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, bảo vệ
môi trƣờng, môi sinh, an toàn lao động trong hoạt động khoáng sản. Sau đó
ngày 14/6/2005, Luật đƣợc Quốc hội khóa XI sửa đổi, bổ sung một số điều tại
kỳ họp thứ 7. Sau 13 năm thi hành Luật khoáng sản đã đạt đƣợc những thành
quả nhất định. Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật khoáng sản thời gian qua cho
thấy vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập nên Luật khoáng sản năm 2010 đƣợc Quốc
hội thông qua ngày 17/11/2010 gồm 11 chƣơng, 86 điều và có hiệu lực từ
ngày 1/7/2011. Tóm lại, luật khoáng sản trong giai đoạn này đã mang tính
toàn diện và hệ thống hơn. Hiệu lực của các quy định này đƣợc nâng cao do
việc Nhà nƣớc sử dụng nhiều các văn bản luật. Chính vì lý do này nên các
quy định của luật khoáng sản đã phát huy đƣợc tác dụng của chúng trong thực tế.
1.3.3. Pháp luật khoáng sản thể hiện rõ tính chất quản lý nhà nước
Quản lý nhà nƣớc là sự tác động mang tính chất quyền lực, có tổ chức
của các cơ quan nhà nƣớc, các cá nhân có thẩm quyền tới đối tƣợng quản lý
nhằm đạt đƣợc mục tiêu do chủ thể quản lý nhà nƣớc đặt ra. Nhƣ vậy, quản lý
nhà nƣớc về khoáng sản là một hoạt động cấu thành trong quản lý chung của
Nhà nƣớc, đó là hoạt động với việc sử dụng các phƣơng pháp, công cụ quản
lý thích hợp tác động đến hoạt động thăm dò khoáng sản và khai thác khoáng 24
sản nhằm mục tiêu tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trƣờng trên phạm vi
từng địa phƣơng gắn liền với tổng thể chung của cả nƣớc và hòa nhập với thế
giới. Những công cụ quản lý của Nhà nƣớc chính là các chủ trƣơng, chính
sách pháp luật, thể hiện cụ thể trong đời sống xã hội bằng các văn bản pháp
luật và văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, công cụ còn là bộ máy, đội
ngũ cán bộ làm công tác này nhƣ bộ máy chuyên nghiệp theo dõi quản lý
khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt
Nam, Bộ Công thƣơng, Xây dựng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
sản gắn liền với chế biến, sử dụng khoáng sản để làm ra sản phẩm kim loại,
hợp kim hoặc các sản phẩm khác có giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội. Nhà
nƣớc quản lý khoáng sản và kiểm soát hoạt động khoáng sản thông qua các cơ
quan nhà nƣớc, các cán bộ có thẩm quyền. Chính phủ thống nhất quản lý nhà
nƣớc về khoáng sản. Bộ tài nguyên và Môi trƣờng chịu trách nhiệm trƣớc
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nƣớc về khoáng sản trong phạm vi cả nƣớc.
Ủy ban nhân dân các cấp quản lý nhà nƣớc về khoáng sản trong phạm vi trách
nhiệm của mình. Luật Khoáng sản năm 2010 đã nâng cao sự quản lý nhà nƣớc
về khoáng sản. Để đảm bảo sự thống nhất trong quản lý nhà nƣớc về khoáng
sản, tạo điều kiện chủ động cho Chính phủ trong công tác điều hành, về thẩm
quyền lập, trình phê duyệt quy hoạch khoáng sản quy định tại điều 10 Luật
khoáng sản năm 2010 đã không quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ nào mà
giao cho Chính phủ quy định, phân công cụ thể các bộ, ngành trong việc lập
quy hoạch khoáng sản và hƣớng dẫn việc lập quy hoạch thăm dò, khai thác,
sử dụng khoáng sản của địa phƣơng. Khoáng sản là một tài sản đặc biệt của
Nhà nƣớc, hoạt động khoáng sản tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống,
kinh tế, xã hội, chính trị nên cần sự quản lý của Nhà nƣớc bằng các văn bản
bằng pháp luật về khoáng sản. Đó là lý do vì sao pháp luật khoáng sản mang
đậm tính chất quản lý nhà nƣớc.