Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
I/ Tính cấp thiết của đề tài.
Thế giới ngày nay đang trong xu hướng toàn cầu hoá về kinh
tế, trong suốt bốn thập niên gần đây, thương mại thế giới tăng nhanh
hơn tốc độ tăng GDP. Nền kinh tế thị trường đang trở thành một
không gian mang tính toàn cầu, với xu hướng giảm vai trò nhà nước
trong các hoạt động sản xuất, trong sở hữu nhằm tăng hiệu quả của
các hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh cùng
với sự mở rộng không ngừng của thị trường tài chính và thương mại
quốc tế. Thực tế phát triển đã tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng là
thách thức lớn đối với các nền kinh tế trong đó có Việt Nam. Đối
với các nước phát triển, bên cạnh vốn đầu tư trong nước thì nguồn
vốn viện trợ chính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) là không thể thiều trong quá trình phát triển. FDI có ý nghĩa
quan trọng không chỉ về mặt tài chính, mà còn là con đường chuyển
giao công nghệ hiệu quả, không những thế nó còn tạo công ăn việc
làm cho đất nước. Vì vậy, nguồn vốn FDI phải được hướng vào
những lĩnh vực có công nghệ tiên tiến, có ý nghĩa lớn trong quá
trình hướng xuất khẩu (như các ngành khai thác dầu khí, chế biến
khí, các ngành luyện kim, hoá chất….). Tuy nhiên, cùng với sự phát
triển của các ngành công nghiệp (đặc biệt là các ngành nêu trên) thì
vấn đề ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên đang đặt ra
cho mỗi quốc gia những thách thức to lớn cho quá trình phát triển.
Vậy làm thế nào để có thể phát triển bền vững? Do vậy, việc khai
thác khoáng sản (tài nguyên quý hiếm) hiệu quả là một trong những
1
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
sản và KT&CB dầu khí. Tuy nhiên, KT&CB khoáng sản chịu sự
2
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
điều chỉnh của Luật khoáng sản, còn KT&CB dầu khí chịu sự điều
chỉnh của Luật dầu khí. Hơn nữa; do đặc thù, khai thác dầu khí chịu
nhiều sự can thiệp của Nhà nước, không hoàn toàn vận hành theo cơ
chế thị trường; đồng thời do giới hạn của thời gian nghiên cứu, đề
tài chỉ tập trung nghiên cứu công nghiệp KT&CB khoáng sản chịu
sự điều chỉnh của Luật khoáng sản.
IV/ Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hệ thống,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp so sánh và các
phương pháp thống kê…trên cơ sở thu thập số liệu tại cơ sỏ thực
tập, các bài viết trên các tạp chí, Website…từ đó thấy được thực
trạng của vấn đề nghiên cứu và đưa ra những giải pháp cụ thể.
Bố cục của đề tài:
Mục lục
Danh mục từ viết tiết
Lời mở đầu
Nội dung
Phần I: Tổng quan về ngành công nghiệp KT&CB khoáng sản
và sự cần thiết huy động FDI vào ngành công nghiệp
này.
Phần II: Thực trạng ngành công nghiệp KT&CB khoáng sản
thành một nước công nghịêp vào năm 2020 thì việc phát triển các
ngành công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp KT&CB
khoáng sản nói riêng là hết sức cần thiết. Để có thể hiểu rõ được
ngành công nghiệp này, tôi xin đưa ra hai cách tiếp cận về khái
niệm ngành công nghiệp này như sau:
Thứ nhất; nếu theo cách phân ngành theo hệ thống SNA ở
Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75CP ngày
27/10/1993 phân chia nền kinh tế quốc dân thành 20 ngành cấp I thì
ngành Công nghiệp khai thác mỏ và công nghiệp chế biến thuộc
phân ngành thứ 3 và thứ 4.
Thứ hai; Theo khoản 8, 9 điều 3 của Luật khoáng sản quy
định: “ Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản mỏ,
khai đào, sản xuất và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu
khoáng sản”, “ Chế biến khoáng sản là hoạt động phân loại, làm
5
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
giàu khoáng sản, hoạt động khác nhằm làm tăng giá trị khoáng sản
đã khai thác”. Như vậy, theo luật khoáng sản thì công nghiệp khai
thác và chế biến khoáng sản là quá trình từ khâu xây dựng cơ bản
mỏ, khai đào cho đến khâu phân loại, làm giàu khoáng sản.
Ngoài ra, để có thể bám sát đề tài phân tích về ngành công
nghiệp này cần hiểu rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến lĩnh
vực khai thác và chế biến khoáng sản như sau:
Theo điều 3 của Luật khoáng sản có quy định:
- Khoáng sản là tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới
hiểm trở, cơ sở hạ tầng
và các tiện ích kèm theo kém phát
triển.Theo số liệu thống kê của Cục địa chất khoáng sản Việt Nam
thì có đến 80% mỏ khoáng sản phân bố tại các vùng núi, địa hình
khó khăn. Trong khi đó, một số loại khoáng sản phân bố rải rác, có
trữ lượng nhỏ hàm lượng khoáng sản ít, chỉ có thể khai thác nhỏ,
quy mô không đủ lớn để khai thác công nghiệp.
Ngoài ra, ngành công nghiệp KT&CB khoáng sản phải đền bù
giải phóng mặt bằng trong khu mỏ bị khai thác. Các chủ đầu tư phải
có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong
quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên; khi kết thúc hoạt động thăm dò, khai thác phải phục hồi môi
trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường.
Trong quá trình khai thác thì tất cả các doanh nghiệp đều phải
báo cáo với Uỷ ban nhân dân nơi thực hiện dự án về nội dung của
quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; niêm
yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án về các loại chất thải,
7
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải, các giải pháp bảo
vệ môi trường để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát; thực
hiện đúng, đầy đủ các nội dung bảo vệ môi trường nêu trong báo
cáo đánh giá tác động môi trường và các yêu cầu của quyết định phê
môi trường và hoàn nguyên đất sau quá trình khai thác và chế biến.
Điều này cũng tốn một khoản chi phí khá lớn.
2.3. Một số đặc điểm khác.
* Ngành công nghiệp KT&CB khoáng sản có lợi nhuận cao so
với mặt bằng chung.
Do đặc thù ngành công nghiệp KT&CB khoáng sản thường
thực hiện tại các mỏ khoáng sản, trong khi đó các mỏ này thường
tập trung ở những vùng khó khăn, nên giá lao động, tiền thuê đất đai
ở đây là rẻ hơn so với mặt bằng chung. . Như vậy nếu đầu tư tại
những vùng này thì tiền thuê đất, lao động là tương đối rẻ, dẫn đến
giảm chi phí sản xuất trong khâu này.
Mặt khác, tài nguyên khoáng sản tự nhiên có xu hướng ngày
càng khan hiếm và cạn kiệt trong khi đó nhu cầu về sử dụng tài
nguyên cho sản xuất ngày càng cao thì điều tất yếu đó là giá các mặt
hàng này sẽ ngày càng tăng dẫn đến lợi nhuận đầu tư vào ngành này
là càng cao.
Bên cạnh đó, ngành KT&CB khoáng sản là ngành được hưởng
rất nhiều chính sách hỗ trợ, ưu đãi. Theo luật đầu tư, đầu tư vào
những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hay những dự án
có vốn lớn và sử dụng công nghệ cao thì sẽ được hỗ trợ về thuế, thời
hạn đóng thuế. Cụ thể, theo điều 5 của Luật khoáng sản: Nhà nước
9
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp khai thác và chế biến
khoáng sản; có chính sách ưu đãi hoạt động khoáng sản tại các vùng
động đang là vấn đề nan giải đối với mỏ khi tiến hành làm thủ tục
đóng cửa mỏ trong thời gian tới. Tương tự các mỏ Bắc Lũng, Sơn
Dương với hàng chục hecta đã sử dụng làm khai trường khai thác,
bãi thải từ khi khai thác đến nay nhưng hầu hết chưa được hoàn thổ
cũng đang là thách thức lớn đối với các mỏ trong thời gian tới. Gần
đây các mỏ nói trên đã tiến hành hoàn phục môi trường đất tại các
diện tích chiếm dụng làm bãi thải sau tuyển rửa để trả laị cho nhân
dân địa phương trồng lúa nước nhưng diện tích đã hoàn phục chưa
nhiều.
Bên cạnh đó, còn xảy ra hoạt động khai thác khoáng sản trái
phép, như khai thác thiếc trái phép tại các khu vực thuộc xã Châu
Hồng, Châu Tiến huyện Quỳ Hợp(Nghệ An), mỏ vonfram xã Thiện
Kế huyện Sơn Dương Tuyên Quang, khoáng sản Titan, huyện Vĩnh
Linh tỉnh Quảng Trị…đã gây ra tác động tiêu cực tới môi trường
đất. Đất đá thải trong quá trình khai thác và tuyển rửa được thải một
cách bừa bãi, không có quy hoạch đã gây ra sự xáo trộn, làm ô
nhiễm đáng kể tới môi trường đất. Do không có người tổ chức quản
lý hợp pháp nên công tác phục hồi môi trường sau khai thác tại các
khu vực này không được thực hiện, điều này đã làm thu hẹp diện
tích canh tác giảm chất lượng đất và không ai khác, chính người dân
địa phương phải gánh chịu.. Ngoài ra, nước thải sau khi tuyển rửa
do hoạt động khai thác trái phép theo các khe suối, con song …gây
ô nhiễm nghiêm trọng tới môi trường đất.
+ Tác động tới môi trường nước
11
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đơn vị:Tỷ đồng
Ngành kinh tế
2001
2002
2003
2004
2005
CN khai thác
44345
46153
57326
72492
88154
mỏ
CN chế biến
17 3 4 6 3
16 0 0 0 0
14 5 4 7 5
14 0 0 0 0
12 5 4 7 6
12 0 0 0 0
10 0 0 0 0
9 5 2 11
8 8 15 4
80000
60000
40000
C N Kha i t há c
72492
CN Ch? Bi?n
57326
4 6 15 3
năm. Nếu như năm 2001 giá trị sản phẩm của ngành này chỉ là
44345 tỷ đồng thì đến năm 2005 con số này lên tới 88154 tỷ đồng
(tăng 98,9%). Bên cạnh đó, trong cơ cấu ngành công nghiệp thì
ngành công nghiệp KT&CB đóng góp giá trị sản phẩm chỉ sau
ngành CN chế biến và được thể hiện qua biểu đồ sau:
13
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Biểu 2: Cơ cấu giá trị sản phẩm trong ngành công nghiệp
năm 2005
Nguồn: Tổng cục thống kê
Như vậy, qua biểu trên ta thấy ngành công nghiệp khai thác và
chế biến khoáng sản có giá trị sản phẩm tăng qua từng năm, trong
khi đó trong cơ cấu ngành công nghiệp năm 2005 thì ngành công
nghiêpj này chiếm vị trí thứ 2 với 27,82%, góp phần đáng kể trong
việc chuyển dịch cơ cấu công nghiệp đất nước ta trong thời gian
qua.
3.1.2. Tạo công ăn việc làm và phát triển ngành công nghiệp
phụ trợ.
Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều
kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của
một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực
vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn
đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là
giải quyết tình trạng thất nghiệp ở vùng có kinh tế xã hội khó khăn,
giảm chênh lệch phát triển giữa các vùng…Đây là một trong những
15
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mục tiêu phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng
tới.
II/ Sự cần thiết phải tăng cường thu hút FDI vào ngành công
nghiệp KT&CB khoáng sản
1.Một số vấn đề lý luận về FDI
1.1.Khái niệm về FDI.
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế thế giới, nền
kinh tế thị trường đang trở thành một không gian mang tính toàn
cầu. Trong suốt bốn thập niên gần đây, thương mại thế giới tăng
nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Cùng với hoạt động thương mại
quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển mạnh
mẽ, hợp thành những dòng trào lưu có tính quy luật trong liên kết
kinh tế toàn cầu hiện nay. Sự phát triển của đầu tư nước ngoài bắt
nguồn từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá đã thúc đẩy mạnh mẽ
quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế.
- Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công
nghệ và những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực thông tin, truyền
thông đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các
nước, tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia.
mục đích thu lợi nhuận.
Còn theo Luật đầu tư 2006 FDI là: Ðầu tư nước ngoài là việc
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài
sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.
17
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Như vậy, theo cách tiếp cận nào thì đầu tư trực tiếp nước
ngoài là hình thức nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực
sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
1.2.Vai trò của FDI
Trên cơ sở hiểu rõ bản chất của nguồn vốn FDI, chúng ta đã
thấy rõ được tầm quan trọng của nguồn vốn này. Ngày nay, FDI trở
thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hoá sản xuất và lưu
thông. Không có một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển
theo con đường tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa lại không cần
đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tất cả đều coi đó là
nguồn lực quốc tế quan trọng cần khai thác để từng bước hoà nhập
vào cộng đồng quốc tế. Ngay những quốc gia có tiềm lực mạnh như
Mỹ, Nhật…dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ hiện
nay cũng không thể tự mình giải quyết được những vấn đề kinh tế
xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra, chỉ có con đường hợp tác, trong
đó có FDI là hình thức đầu tư có hiệu quả.
Như vậy, vai trò của FDI là không thể phủ nhận đối với cả các
nước phát triển và các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước
ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt trình độ kỹ thuật,
phương pháp làm việc, kỷ luật lao động…
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có
thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng".
Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được
bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các quốc gia trên thế giới sẽ
giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh
doanh mà các nước này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và
bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công
19
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc
rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
Tóm lại, việc thu hút FDI không chỉ giải quyết tình trạng thiếu
vốn ở các nước đang phát triển mà nó còn giúp các nước này tiếp
thu được những công nghệ tiên tiến ở các nước phát triển do quá
trình chuyển giao công nghệ nhờ đầu tư của các chủ đầu tư nước
ngoài.
Thứ ba; Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí
nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí
nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ
tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước
thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
trên địa bàn tỉnh năm 2006.
Ngoài ra, với việc tiếp nhận FDI, không đẩy các nước vào
cảnh nợ nần, không chịu những rang buộc về mặt chính trị, xã hội.
Thông qua hợp tác với nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có điều
kiện thâm nhập vào thị trường thế giới. Như vậy các nước có khả
năng tốt hơn trong việc huy động tài chính cho các dự án phát triển.
2.Sự cần thiết phải thu hút FDI vào ngành công nghiệp
KT&CB khoáng sản.
* Xuất phát từ thực trạng về công nghệ áp dụng trong
ngành công nghiệp KT&CB khoáng sản ở Việt Nam thời gian
qua.
Như đã phân tích ở trên, ngành công nghiệp KT&CB khoáng
sản là một ngành công nghịêp đặc thù. Mặc dù là ngành có lợi
21
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhuận cao khi đầu tư nhưng đòi hỏi vốn lớn và công nghệ cao. Tuy
nhiên, trong thời gian vừa qua ngành công nghiệp KT&CB khoáng
sản ở Việt Nam chủ yếu là khai thác với công nghệ thấp, chỉ qua sơ
tuyển mà chưa chú trọng vào việc tuyển luyện công nghệ cao dẫn
đến chất lượng khoáng sản thấp, không tận thu được triệt để, gây
lãng phí trong quá trình khai thác. Một ví dụ điển hình là: đối với
các mỏ vàng gốc ở khu vực miền Trung, các mỏ này nằm trên địa
hình núi cao có độ dốc phân cắt lớn. Phương thức khai thác duy
nhất được sử dụng tại đây là đào giếng tìm bắt các vỉa quặng và sau
đó khoan, nổ mìn tạo hầm. Các hầm lò thường có độ sâu vài trăm
công đoạn tuyển quặng gây ô nhiễm nguồn nước. vì vậy, nguy cơ
nhiễm bẩn, nhiêmx độc cho con người cùng hệ động thực vật do
hoạt động khai khoáng là rất cao và có khả năng ảnh hưởng trên
diện rộng.
* Xuất phát từ việc thiếu vốn của các doanh nghiệp khai
thác khoáng sản hiện nay.
Bên cạnh việc áp dụng khoa học công nghệ lạc hậu thì các đơn
vị được phép khai thác do thiếu vốn không thể tiến hành khai thác
với quy mô lớn, mà chủ yếu chỉ quan tâm đến phần quặng giàu, chất
lượng cao có thể xuất khẩu ngay được mà chưa đầu tư chế biến sâu
tận thu, tận dụng quặng nghèo. Rất nhiều cá nhân chủ doanh nghiệp
đứng ra tổ chức khai thác, khoán cho công nhân sau đó trả lương
theo sản phẩm hoặc thu mua lại khoáng sản theo hình thức cai đầu
dài, hoặc đầu tư máy móc thiết bị, cơ sỏ hạ tầng ở mức độ đơn giản .
Cùng với đó là tình trạng phát triển “nóng” và một phần chỉ
quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt, các doanh nghiệp chưa chấp
hành nghiêm túc các quy định của pháp luật về khoáng sản; làm mất
23
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
an toàn lao động, huỷ hoại môi trường, khai thác sử dụng lãng phí
nguồn tài nguyên khoáng sản. Các doanh nghiệp chủ mỏ vẫn chưa
tuân thủ quy trình, quy phạm, thực hiện các biện pháp hữu hiệu để
đảm bảo an toàn lao động, bảo vệ môi trường dẫn đến tai nạn lao
động vẫn xảy ra, môi trường bị tàn phá, rừng bị huỷ hoại để làm mặt
bằng khai thác, bờ sông bị sạt lở nghiêm trọng. Qua khảo sát thực tế
thù, các mỏ khoáng sản lại tập trung ở vùng có địa hình khó khăn có
nên khi đầu tư vào các vùng này sẽ sử dụng một lượng lao động lớn
của địa phương, đóng góp vào việc phát triển kinh tế xã hội của
chính vùng đó, giảm chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng.
Tóm lại, việc thu hút FDI vào ngành công nghiệp KT&CB
khoáng sản là vô cùng cần thiết nó giải quyết tình trạng thiếu vốn và
khoa học công nghệ thấp của Việt Nam.
3.Kinh nghiệm của một số nước về thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng
sản
3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Trung Quốc là một quốc gia châu Á, trong hơn hai thập kỷ qua
đã thành công về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong
nước nói chung và ngành công nghiệp KT&CB khoáng sản nói
riêng. Trong quá trình phát triển và hội nhập, Việt Nam cần học hỏi
những kinh nghịêm thu hút FDI của các nước trên thế giới, đặc biệt
là Trung Quốc, bởi lẽ Việt Nam không những là nước láng giềng
mà những đặc điểm kinh tế xã hội có nhiều điểm tương đồng. Dưới
đây có thể khái quát một số vấn đề đáng tham khảo.
Chính phủ Trung Quốc đã có những chính sách khuyến khích
đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp
25
Trương Thị Toan Huyền-Lớp KH45A