CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC VÀ CHẾ
BIẾN ĐÁ VÔI TRẮNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC VÀ CHẾ
BIẾN KHOÁNG SẢN
1. Khái niệm, đặc điểm của ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản
1.1. Khái niệm ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp đóng vai trò hết
sức quan trọng, là đầu tầu của nền kinh tế. Để trở thành một nước công
nghiệp thì trong cơ cấu kinh tế, công nghiệp phải chiếm một tỷ trọng tương đối
lớn. Trong cơ cấu công nghiệp có sự đóng góp không nhỏ của ngành công
nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản. Vì vậy để có thể đưa Việt Nam cơ
bản trở thàng nước công nghiệp vào năm 2020 thì việc phát triển các ngành
công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng
sản nói riêng là hết sức cần thiết. Có hai cách tiếp cận về ngành công nghiệp
này.
Thứ nhất, nếu theo cách phân ngành theo hệ thống SNA ở Việt Nam, Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 75CP ngày 27/10/1993 phân chia nền kinh tế
quốc dân thành 20 ngành cấp I thì ngành công nghiệp khai thác mỏ và ngành
công nghiệp chế biến thuộc phân ngành thứ 3 và thứ 4.
Thứ hai, theo khoản 8 và khoản 9 điêù 3 của luật khoáng sản quy định:
“Khai thác khoáng sản là hoạt động xây dựng cơ bản hầm mỏ, khai đào, sản
xuất và các hoạt động có liên quan trực tiếp nhằm thu khoáng sản”, “chế biến
khoáng sản là hoạt động phân loại, làm giàu khoáng sản, hoạt động khác nhằm
làm tăng giá trị khoáng sản đã khai thác”. Như vậy, theo luật khoáng sản thì
công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản là quá trình từ khâu thăm dò
khoáng sản, xây dựng cơ bản hầm mỏ, khai đào cho đến khâu phân loại, làm
giàu khoáng sản.
Ngoài ra, để có thể bám sát đề tài phân tích về ngành công nghiệp này cần
hiểu rõ một số khái niệm cơ bản liên qua đến lĩnh vực khai thác và chế biến
khoáng sản như sau:
Điều 3 của luật khoáng sản quy định:
2007 2008
X - XII I – III I - IV VI – X X – XII
Nhôm $/mt 2.444 2.743,6 2.940 2.787 1.821
Đồng $/mt 7.188 7.796 8.443 7.680 3.905
Vàng $/toz 788 927 896 870 795
Quặng sắt ¢/kg 85 141 141 141 141
Chì ¢/kg 321 290 231 191 124
Kền $/mt 29.291 28.975 25.682 18.961 10.834
Bạc ¢/toz 1.424 1.765 1.720 1.495 1.020
Thiếc ¢/kg 1.634 1.788 2.265 2.051 1.310
Kẽm ¢/kg 262 243 211 177 119
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy chỉ trong một thời gian ngắn nhưng giá của các
vật phẩm có sự biến động rất lớn, đặc biệt là đối với kim loại đồng. Sự biến động này
gây ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản. Nếu giá vật
phẩm tăng lên thì có thể giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu từ đó có thể thúc đẩy sự
phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, ngược lại nếu giá vật
phẩm giảm xuốg khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn.
1.2.2. Trình độ công nghệ và nhu cầu lao động
Trước đây, khi mà trình độ công nghệ còn thủ công thì ngành công nghiệp khác và
chế biến khoáng sản cần nhiều lao động phổ thông. Các xí nghệp khai thác chỉ cần mua
thể lực chứ không cần đến tri thức của người lao động.
Bây giờ, khi trình độ công nghệ được cơ giới hoá.Trong khai thác cần ít lao động
hơn nhưng đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn cao, biết vận hành và bảo dưỡng
máy móc thiết bị.
1.2.3. Có nhiều loại quặng trên một mỏ
Sau khi phân loại đất đá chỉ có một chủng loại gọi là quặng. Nhiều quặng chứa
khoáng vật có giá trị kinh tế khác nhau. Gần như tất cả các quặng đó đều có sắt ở trạng
thái Sufit. Sau khi phân loại quặng thì có một, hai hay ba khoáng vật khác nhau. Thí dụ
quặng kền thường cũng là quặng có thể có bốn kim loại như là đồng, kẽm, chì và bạc.
Ngoài ra, ngành công nghiệp KT & CB đá trắng phải đền bù giải phóng mặt bằng
trong khu mỏ bị khai thác. Các chủ đầu tư phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về
bảo vệ môi trường trong quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên; khi kết thúc hoạt động thăm dò, khai thác phải phục hồi môi trường theo
quy địng của Luật Bảo vệ môi trường.
Trong quá trình khai thác thì tất cả các doanh nghiệp đều phải báo cáo với Uỷ ban
nhân dân nơi thực hiện dự án về nội dung của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá
tác động môi trường, niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án về các loại chất
thải, công nghệ xử lý, thông số tiêu chuẩn về chất thải, các giải pháp bảo vệ môi trường
để cộng đồng dân cư biết, kiểm tra, giám sát, thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung bảo
vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường và các yêu cầu quyết
định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.
2.2.2. Quy trình khai thác
Quá trình tìm kiếm, thăm dò và khai thác đá vôi trắng là một quá trình phức tạp, đòi
hỏi công nghệ cao, rủi ro lớn, tốn kém cả về thời gian và tiền của. Quy trình khai thác
trải qua ba giai đoạn: khảo sát, thăm dò và khai thác.
Như vậy hoạt động thăm dò và khai thác đá vôi trắng là hoạt động qua nhiều khâu,
khảo sát là khâu đầu tiên. Quá trình này gồm các giai đoạn như sau:
- Khảo sát địa chất khu vực mỏ trên cơ sở tài liệu do các cơ quan chức năng cung cấp.
- Tổng hợp công tác địa vật lý bằng các phương pháp từ trường, trọng lực hay địa
chấn để tìm ra những nơi có cấu tạo mỏ.
Sau khi khảo sát, nhà đầu tư phải tiến hành thăm dò trữ lượng mỏ. Đây là khâu
quan trọng trong quá trình tìm kiếm và khảo sát trữ lượng mỏ. Bởi lẽ quá trình này đòi
hỏi sự chính xác cao, nếu không sẽ gặp nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện, đây cũng
là quá trình quyết định nhà đầu tư có nên đầu tư vào mỏ đó không. Khâu này gồm các
giai đoạn cơ bản sau:
- Tiến hành khoan tại nơi có cấu tạo mỏ và lấy mẫu để nghiên cứu chi tiêt.
- Thực hiện khoan nhiều mũi nhằm đánh giá trữ lượng một cách cụ thể và chính xác
nhất.
Để có thể biết được chính xác trữ lượng và hàm lượng đá vôi trắng tại khu vực