1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KCN
1.1 Vốn đầu tư, thu hút vốn đầu tư
Hoạt động đầu tư, trước hết được hiểu là hoạt động kinh tế tổng hợp được
tiến hành bằng cách huy động các nguồn vốn bỏ vào lĩnh vực khai thác, chế biến
sản phẩm hoặc dịch vụ trong một thời gian nhất định. Số vốn đó phải tham gia vào
nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích thu hồi vốn, tạo ra lợi
nhuận đối với nhà đầu tư và mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước. Vốn bỏ
vào các hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư.
Vốn là một yếu tố cơ bản của quá trình CNH, HĐH. Nhờ có vốn mới có
các yếu tố cơ bản và cần thiết khác để CNH, HĐH của quá trình sản xuất như: máy
móc, thiết bị, công nghệ, nguyên nhiên vật liệu… để sử dụng, phát huy được nguồn
lực lao động dồi dào của nước ta trong công cuộc đẩy mạnh quá trình này. Để có
nguồn vốn đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đang trong quá trình đẩy mạnh CNH,
HĐH; chúng ta không những cần phải thu hút được nguồn vốn đầu tư lớn mà còn
phải nâng cao hiệu qủa sử dụng nguồn vốn đó.
Thu hút vốn đầu tư vào KCN bao gồm thu hút đầu tư nước ngoài và thu
hút đầu tư trong nước. Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư
quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản
xuất hoặc dịch vụ cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ
vốn đầu tư. Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu hoặc tối
đa tuỳ theo quy định của Luật đầu tư từng nước tiếp nhận đầu tư. Quyền điều hành
doanh nghiệp tuỳ thuộc vào số vốn góp của chủ đầu tư trong vốn pháp định. Nếu
góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư toàn quyền quyết định sự hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận các chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết qủa
hoạt động kinh doanh và tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định của doanh nghiệp.
1.2 KCN, đặc điểm và vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế xã hội
1.2.1 KCN
3
Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công
nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công
nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác
định, được thành lập theo quy định của Chính phủ ; KKT kinh tế là khu vực có
không gian riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho
các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính
phủ.
Trong giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển
dịch từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế trí thức, quan niệm
về KCN được mở rộng. Các giao dịch kinh tế không phải chỉ điều chỉnh bằng các
quy định pháp lý trong nước mà còn bằng cả các quy định pháp lý quốc tế đặc biệt
là những nguyên tắc của WTO. WTO cho phép thành lập các KCN và KCX với
những ưu đãi không được trái với các nguyên tắc điều chỉnh của WTO.
Như vậy, KCN có thể hiểu là một phương thức tổ chức các hoạt động sản
xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ công nghiệp với những chế độ ưu đãi đặc biệt
so với các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ còn lại trên lãnh thổ của một
nước nhằm khuyến khích đầu tư, thúc đẩy xuất khẩu và thực hiện các mục tiêu
chính sách khác. KCN được thành lập không chỉ để nhằm thu hút đầu tư nước ngoài
mà còn cả thu hút đầu tư trong nước.
Đánh giá xếp loại KCN theo tiêu chí về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật
KCN; hiệu qủa KCN; hiệu qủa thu hút vốn đầu tư; hiệu qủa xã hội.
1.2.2 Đặc điểm
+ KCN có vị trí địa lý xác định, có thể có hoặc không có hàng rào ngăn
cách, không có dân cư sinh sống.
+ KCN được thành lập để thu hút các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ
phục vụ sản xuất công nghiệp.
+ Đơn vị chủ đầu tư KCN thuê đất Nhà nước, đầu tư hạ tầng và cho thuê lại
không chỉ đối với địa phương có KCN mà còn góp phần hiện đại hoá hệ thống kết
cấu hạ tầng trên cả nước. Tại các KCN, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật nói
chung khá hoàn chỉnh, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế nhất là đường sá, kho bãi, 5
điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc và các cơ sở dịch vụ tài chính, ngân hàng,
bảo hiểm.
+ KCN có tác động tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
từng địa phương theo hướng CNH, HĐH; đa dạng hoá ngành nghề, nâng cao trình
độ công nghệ và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, góp phần tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung cả nước, mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế.
Trong 20 năm thực hiện cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế thế
giới, nước ta đã đạt được những thành qủa quan trọng. Tỷ lệ tăng trưởng cao và liên
tục trong nhiều năm (trung bình giai đoạn 2001-2005 đạt 7,5%); cơ cấu ngành kinh
tế thay đổi theo CNH, HĐH; tỷ lệ tiết kiệm tăng nhanh (gấp 3 lần, từ 11% GDP
năm 1986 lên 39% năm 2005). Số mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt giá trị từ 1 tỉ
USD trở lên tăng từ 0 mặt hàng năm 1981 lên 5 mặt hàng năm 2005. FDI và ODA
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, góp phần cung cấp vốn,
cải thiện công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến, tạo ra những sản phẩm có chất
lượng cao hơn, thị trường xuất khẩu lớn hơn, đa dạng hơn, tăng tính cạnh tranh và
tạo việc làm cho người lao động. Tỷ suất FDI/GDP bắt đầu tăng từ cuối thập kỷ
1980 lên 6,41% năm 1994, đạt 15,5% năm 2005 với tổng trị giá 6 tỉ USD; tổng
lượng vốn ODA đạt 30 tỉ USD trong vòng 13 năm qua. Trong năm 2005, FDI chiếm
50% xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam, 34% thu nhập ngân sách nhà nước.
Trong bức tranh kinh tế chung đó của đất nước, KCN là điểm sáng, có
những đóng góp không nhỏ cho tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu lao động, tiếp nhận công nghiệp hiện đại, kinh nghiệp quản lý tiên tiến, góp
phần xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu…
Trong năm 2005, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN đạt 14 tỉ
+ Góp phần quan trọng vào mở rộng thị trường, đẩy mạnh kinh tế đối ngoại
và tăng kim ngạch xuất khẩu cho khu vực hành lang kinh tế.
+ KCN đã góp phần nhất định vào việc bảo vệ môi trường sinh thái. KCN
là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều kiện tập trung các chất
thải do các doanh nghiệp thải ra để xử lý, tránh tình trạng khó kiểm soát hoạt động
của các doanh nghiệp do phân tán về địa điểm sản xuất. 7
+ Mô hình quản lý - áp dụng cơ chế “một cửa, tại chỗ” đối với KCN. Chính
sách về KCN trong thời gian qua đã đạt được những chuyển biến tích cực.
Bước vào thiên niên kỷ mới, nước ta đã đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ
về phát triển kinh tế xã hội, trong đó đầu tư phát triển đóng vai trò hết sức quan
trọng. Việc huy động tương đối đầy đủ các nguồn lực cho đầu tư; cơ cấu lại các
nguồn vốn đầu tư, coi trọng nguồn vốn của dân cư, tư nhân; chuyển dịch cơ cấu đầu
tư hợp lý, theo hướng CNH, HĐH; đặc biệt lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông
thôn, điều chỉnh cơ cấu giữa các ngành, vùng, từng bước hình thành một cơ cấu đầu
tư hợp lý, tạo ra thế và lực cho nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực
và cộng đồng quốc tế.
Nhà nước đã áp dụng nhiều chính sách và cơ chế quản lý mới, có nhiều cố
gắng trong việc huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc mọi thành phần
kinh tế, cả trong nước và ngoài nước, nhất là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, vốn đầu tư phát triển hàng năm
không ngừng tăng, các nguồn vốn huy động tham gia đầu tư ngày càng đa dạng. Kết
qủa là đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, nhiều KCN, KCX, các ngành
công nghiệp then chốt của đất nước, hạ tầng giao thông vận tải, nông nghiệp… Hạ
tầng xã hội đã được chú trọng đầu tư và được cải thiện đáng kể, tạo ra tiền đề cần
thiết và quan trọng trong thời kỳ phát triển mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển của các
ngành kinh tế.
1.2.4 Các quan điểm phát triển KCN Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO
và cam kết trong WTO.
1.2.5 Đánh giá hiệu qủa KCN theo cách phân tích điểm mạnh, điểm yếu, thời
cơ và thách thức.
Điểm mạnh:
+ Do tính chất tập trung về mặt không gian, nên KCN có nhiều lợi thế
trong việc tiến hành xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, có đủ quỹ đất để mở rộng
và liên kết thành một tổ công nghiệp lớn.
+ Do tập trung trong một KCN có hàng rào ranh giới phân biệt rõ trong
hàng rào và ngoài hàng rào nên thuận lợi cho việc kiểm soát hàm lượng phát thải
công nghiệp. 9
+ Các KCN được bố trí ở những khu vực có cự ly vận tải thích hợp, thuận
tiện vận chuyển, bảo quản nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm…nên có nhiều thuận
lợi trong việc cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập từ nước ngoài.
+ Quy mô KCN và quy mô xí nghiệp công nghiệp có điều kiện để đồng bộ
hoá và chuyên môn hoá sản xuất cho phù hợp với công nghệ chính và điều kiện kết
cấu hạ tầng để đảm bảo hiệu quả.
+ Cũng nhờ tính tập trung cao mà KCN có nhiều thuận lợi trong việc giải
quyết các vấn đề liên quan đến thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước.
+ Có nhiều thuận lợi trong việc cung cấp lao động, cả về số lượng và chất
lượng với chi phí tiền lương thích hợp, cũng như bố trí chỗ ở, phương tiện đưa đón
công nhân.
+ KCN là nơi kết hợp hài hoà lợi ích giữa Nhà nước, xã hội, người lao
động và các nhà đầu tư.
Điểm yếu:
+ Do KCN xuất hiện nơi đất trống, không nằm trong nội đô, nên xét về
nhiều phương diện nó là một dự án lớn được hình thành trên cơ sở tính toán kỹ
chất ưu tiên, ưu đãi về cơ chế chính sách đối với trong hàng rào KCN so với toàn bộ
nền kinh tế.
+ Tự do hoá thị trường đi liền với việc phát triển đồng bộ các loại thị
trường làm cho thị trường bất động sản, nhất là thị trường quyền sử dụng đất được
hình thành rõ nét dần. Điều đó làm cho khâu đền bù giải phóng mặt bằng để xây
dựng kết cấu hạ tầng trong các KCN, cũng như hàng rào ngày càng trở nên đắt đỏ,
khó khăn hơn, làm tăng chi phí đầu tư của các nhà đầu tư vào phát triển kết cấu hạ
tầng… hậu qủa là giảm dần năng lực cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư của
các KCN.
1.3 Kinh nghiệm thu hút đầu tư nước ngoài và trong nước.
1.3.1 Kinh nghiệm thu hút đầu tư nước ngoài
Nhiều người biết đến Nhật Bản như một câu chuyện thần kỳ trong phát
triển kinh tế - xã hội và là một cường quốc kinh tế, có GDP đứng thứ ba trên thế
giới (sau Hoa Kỳ và Trung Quốc). Là nước rất nghèo về tài nguyên, trong khi dân
số thì đông, phần lớn nguyên vật liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ 11
trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh
chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973).
Trong suốt thời kỳ tăng trưởng (những năm 70 của thế kỷ XX) của nền
kinh tế Nhật Bản, các KCN đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát
triển các ngành sản xuất công nghiệp và đảm bảo phát triển kinh tế cân đối giữa các
vùng, miền của Nhật Bản. Tính đến những năm cuối của thế kỷ trước, Nhật đã có
602 KCN, gồm 77 KCN ven biển, 525 KCN nội địa với tổng diện tích 34.968ha,
trong đó, tổng diện tích các KCN ven biển 20.257 ha và các KCN nội địa là 14.711
ha.
Nhân tố đã tạo nên sự thành công của hệ thống KCN Nhật Bản, có các bài
học:
Bài học thứ nhất: Xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp. Như những nghiên cứu đã
năm phát triển, đến nay ngoài khu kinh tế mở Chu Lai Quảng Nam đã có 5 KCN
với diện tích 1.500 ha, bao gồm KCN Điện Nam – Điện Ngọc đã cơ bản lấp đầy
diện tích giai đoạn I và 1/3 diện tích giai đoạn II. Các KCN khác như Thuận Yên,
Bắc Chu Lai, Tam Hiệp, Đông Quế Sơn cũng đã khởi động. Thêm vào đó, một số
cụm công nghiệp nhỏ ở từng địa phương cũng đã được hình thành.
Bên cạnh những kết qủa đạt được, các KCN ở Quảng Nam vẫn tồn tại một
số điểm yếu kém cần khắc phục. Đó là: Công tác quy hoạch phát triển KCN còn
mang yếu tố điểm, chưa nhân ra diện rộng, đặc biệt chưa thực sự có tầm nhìn xa để
đón đầu các điều kiện thuận lợi sẽ phát sinh; Phần đầu tư hạ tầng bằng nguồn vốn
Nhà nước còn quá thấp so với nhu cầu, làm cho hạ tầng được triển khai còn chắp
vá, chậm so với tiến độ thu hút đầu tư vì phụ thuộc khả năng tài chính của chủ đầu
tư KCN; Công tác quản lý môi trường phòng chống cháy nổ, quản lý theo quy định
về lao động ngày càng phức tạp, nhưng vẫn chưa triển khai những giải pháp ngăn
ngừa xử lý hữu hiệu; Công tác cải cách hành chính chưa đi vào chiều sâu và sự phối
hợp đồng bộ giữa các ngành chưa nhuần nhuyễn, ăn khớp nên tính nhanh nhạy,
chính xác khi giải quyết các yêu cầu của nhà đầu tư còn hạn chế; Nguồn lao động
giản đơn trên địa bàn lớn nhưng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng phục vụ 13
KCN chưa đáp ứng yêu cầu tay nghề, kỹ thuật của các nhà máy trong KCN; Công
tác xúc tiến đầu tư còn chủ yếu dựa vào sự năng động của Công ty chủ đầu tư KCN,
các đơn vị của Nhà nước tham gia chưa nhiều, chưa đồng bộ và các hình thức chưa
thật đa dạng.
1.3.3 Bài học chung
Trải qua hơn 5 thập kỷ phát triển KCN ở nhiều quốc gia trên thế giới, đến
nay đã đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích cho sự thành công của mô
hình KCN. Các bài học đó tựu chung là:
+Mục tiêu của KCN phải được xác định rõ ràng để có thể hoạch định chiến
lược phát triển với cơ cấu các ngành công nghiệp, loại hình sản phẩm phù hợp với
ảnh hưởng rất lớn của điều kiện phát triển của từng địa phương về vị trí địa lý,
nguồn lực phát triển, việc bố trí cơ cấu kinh tế theo ngành và theo vùng trong từng
thời kỳ phát triển. Khi nhu cầu phát triển của các KCN vẫn còn, đặc biệt là nhu cầu
khai thác các nguồn lực phát triển, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,
thúc đẩy xuất khẩu, tăng cường thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, công nghệ
hiện đại từ nước ngoài…thì các KCN sẽ trở thành một trong những mục tiêu được
coi trọng phát triển.
15Chương 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
CÁC KCN TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Sự phát triển KCN cả nước
Có các biện pháp, chính sách chuyển đổi cơ cấu các ngành công nghiệp
trong các KCN đã và đang xây dựng theo hướng hiện đại hoá phù hợp với tính chất
và đặc thù của các địa bàn lãnh thổ.
Xây dựng các công trình xử lý rác thải công nghiệp tập trung quy mô lớn ở
những khu vực tập trung các KCN tại các vùng kinh tế trọng điểm.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào các KCN;
phấn đấu thu hút thêm khoảng 6.500 – 6.800 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký
khoảng trên 36 –39 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư thực hiện khoảng 50%.
Giai đoạn đến năm 2020:
Quản lý tốt và có quy hoạch sử dụng hợp lý diện tích đất dự trữ cho xây
dựng KCN.
Hoàn thiện cơ bản mạng lưới KCN trên toàn lãnh thổ với tổng diện tích các
KCN đạt khoảng 80.000 ha vào năm 2020.
Quản lý, chuyển đổi cơ cấu đầu tư phát triển các KCN đã được thành lập
theo hướng đồng bộ hoá.
Triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài nói chung vào các KCN, KCX từ nay
đến năm 2010 tương đối sáng sủa. Đối với đầu tư trong nước, Luật Doanh nghiệp
tiếp tục phát huy hiệu quả, được đánh giá là có tiềm năng to lớn trong việc huy động
vốn. Theo dự báo, những lĩnh vực có triển vọng hơn cả trong việc thu hút đầu tư
vào các KCN trong 5 năm tới sẽ là ngành công nghiệp năng lượng (điện, than và
dầu khí); tiếp đến là công nghiệp ôtô; công nghiệp dệt may, da giày; cơ khí đóng
tàu; sản xuất máy móc, thiết bị điện tử, thiết bị thông tin, phần mềm và vật liệu xây
dựng.
2.1.2 Hoạt động của các KCN, KKT của Việt Nam trong năm 2006 được khái
quát ở những kết qủa dưới đây: 17
Năm 2006 là năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, cũng là năm
đánh dấu bước chuyển biến mới của hệ thống các KCN, KKT sau 15 năm xây dựng
tổng diện tích đất tự nhiên các KCN cả nước.
Thứ hai là tình hình thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào KCN, KKT
trong năm 2006 đạt được mức tăng trưởng rất cao.
Thu hút đầu tư nước ngoài: năm 2006, các KCN, KKT đã thu hút được
356 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 4.336 triệu
USD, chiếm khoảng 56% tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký của cả nước và gấp
2,4 lần so với năm 2005.
Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh là
những địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất cả nước với 213 dự án
với tổng vốn đầu tư đăng ký 2.578 triệu USD, chiếm khoảng 60% cả số dự án và số
vốn đầu tư thu hút mới trong các KCN trên cả nước.
Về tình hình tăng vốn, trong năm 2006, có 337 lượt dự án đầu tư nước ngoài tăng
vốn với tổng số vốn đầu tư đăng ký tăng thêm 1.347 triệu USD, chiếm khoảng 62%
số vốn tăng thêm của cả nước, tăng 30,5% so với năm 2005 (về tổng vốn đầu tư
tăng thêm).
Đồng Nai, Bình Dương, Long An và thành phố Hồ Chí Minh là những địa
phương dẫn đầu cả nước về số vốn đầu tư tăng thêm với tổng số 219 lượt dự án tăng
vốn và tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 1.024,5 triệu USD, chiếm 76% tổng vốn đầu
tư tăng thêm trong các KCN cả nước.
Trong năm 2006, tính chung cả vốn đầu tư nước ngoài cấp mới và tăng
thêm vào các KCN, KKT đạt 5.682 triệu USD, chiếm khoảng 56% tổng vốn đầu tư
cấp mới và tăng thêm của cả nước và tăng gần 2 lần so với năm 2005.
Tính đến cuối tháng 12/2006, các KCN đã thu hút được 2.433 dự án có vốn
đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 21,79 tỷ USD. Trong đó, trên
1.700 dự án đã đi vào sản xuất kinh doanh và 380 dự án đang xây dựng nhà xưởng.
Tổng vốn đầu tư thực hiện lũy kế đến cuối năm 2006 đạt 11,37 tỷ USD, chiếm
khoảng 52 % tổng vốn đầu tư đăng ký. 19
20
trong nước đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN với tổng vốn đầu tư
37.259 tỷ đồng.
Trong số 139 dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN kể
trên, 17 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 73 dự án đầu tư trong nước đã cơ bản
hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và đi vào vận hành; các dự án còn lại đang triển
khai đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản.
Tổng vốn thực hiện của các dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng
KCN lũy kế đến cuối năm 2006 đạt khoảng 585 triệu USD và 13.596 tỷ đồng. Đến
cuối năm 2006, cả nước đã có 90 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tư
nhiên 19.548 ha và 49 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và
xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 9.844 ha.
Thứ năm là tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp tiếp tục gia tăng.
Tính đến cuối năm 2006, các KCN trên cả nước đã cho thuê được khoảng 10.758
ha, đạt diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê 54,5%. Riêng các KCN đã vận
hành đạt tỷ lệ lấp đầy trên 72,2%.
Nhiều KCN mới hoàn thành xây dựng cơ bản và đi vào hoạt động trong
năm nay thì đạt được tỷ lệ lấp đầy cao hơn năm 2005 (52%) là kết quả rất có ý
nghĩa, thể hiện tốc độ thu hút đầu tư tăng nhanh. Đáng chú ý là các KCN mới thành
lập 2 –3 năm gần đây cũng đã đạt tốc độ lấp đầy khá nhanh.
Các Vùng kinh tế trọng điểm, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê
của các KCN ở phía Nam đạt 57,7%, miền Trung đạt 71%; phía Bắc đạt 53,9%.
Thứ sáu là hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng các KKT diễn ra hết sức khẩn trương
và đạt kết qủa thu hút đầu tư tốt.
Thứ bảy là trong năm 2006, nhiều cơ chế chính sách mới liên quan trực tiếp tới
hoạt động của KCN, KKT được ban hành.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển KCN của Việt Nam đến
năm 2015 định hướng đến 2020 (Quyết định số 1107/QĐ –TTg ngày 21/8/2006).
Quy hoạch phát triển KCN đã thể hiện nhiều điểm mới như sau:
22
Như vậy, những thành tựu trên đã thể hiện hệ thống KCN, KKT đã tích cực
chuyển sang một giai đoạn phát triển mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo duy trì tốc độ và chất lượng tăng trưởng
theo hướng ổn định, bền vững.
2.1.3 Các điều kiện và tiêu chí hình thành các KCN trên địa bàn lãnh thổ:
+ Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và tình hình phát triển kinh tế - xã hội;
quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của từng địa phương.
+ Có điều kiện thuận lợi hoặc có khả năng xây dựng hệ thống kết cấu hạ
tầng và hạ tầng xã hội, triển khai đồng bộ và kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát
triển KCN, KCX với quy hoạch phát triển đô thị, phân bổ dân cư, nhà ở và các công
trình xã hội phục vụ cho công nhân trong KCN, KCX.
+ Có quỹ dự trữ để phát triển và có điều kiện liên kết thành cụm các KCN;
riêng đối với địa phương thuần tuý đất nông nghiệp, khi phát triển các KCN để thực
hiện mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế cần tiến hành phân kỳ đầu tư chặt chẽ nhằm
đảm bảo sử dụng đất có hiệu qủa.
+ Có khả năng thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và đầu tư
nước ngoài.
+ Có khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu về lao động.
+ Đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng.
+ Đối với các địa phương đã phát triển KCN, việc thành lập mới các KCN
chỉ được thực hiện khi tổng diện tích đất công nghiệp của các KCN hiện có đã được
cho thuê ít nhất 60%.
+ Việc mở rộng các KCN hiện có chỉ được thực hiện khi tổng diện tích đất
công nghiệp của KCN đó đã được cho thuê ít nhất là 60% và đã xây dựng xong
công trình xử lý nước thải tập trung.
+ Đối với KCN có quy mô diện tích trên 50 ha và có nhiều chủ đầu tư tham
gia đầu tư xây dựng – kinh doanh kết cấu hạ tầng, phải tiến hành lập quy hoạch
Bốn là, đời sống của người lao động trong KCN đã được quan tâm hơn nhưng nhìn
chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo cuộc sống với thu nhập ổn định cho
người công nhân và gia đình. 24
Năm là, công tác bảo vệ môi trường chưa được đẩy mạnh đúng mức. Trong năm
qua, chưa có thêm được KCN nào hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tập trung, cả
nước mặc dù đã có 139 KCN nhưng vẫn chỉ có 33 KCN đã vận hành nhà máy xử lý
nước thải tập trung; có thêm một số KCN chuẩn bị xây dựng như một số KCN ở
Đồng Nai…
Sáu là, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các KCN vẫn còn hạn
chế xét về nhiều khía cạnh (lĩnh vực hoạt động, phạm vi hoạt động, chất lượng kết
quả thanh tra, chế tài thanh tra, kiểm tra…). Sự phối hợp giữa các cơ quan chức
năng trong công tác thanh tra còn chưa thật chặt chẽ, chưa có sự phân công, phân
nhiệm rõ ràng. Đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra còn mỏng, phương tiện làm việc
còn hạn chế (đặc biệt là công tác thanh tra kiểm tra công tác bảo vệ môi trường).
Các chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động của KCN về các lĩnh vực kế hoạch, đầu
tư, môi trường… còn thiếu và chưa đảm bảo tính cương quyết.
2.1.5 Những vấn đề cần khắc phục để KCN phát huy hơn nữa vai trò là nhân
tố tích cực trong việc chủ động, tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Để thực hiện tốt vai trò quan trọng đó, các KCN đang đứng trước nhiều
khó khăn, thách thức cần giải quyết:
+ Trình độ phát triển các KCN chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu
của thời kỳ đổi mới, kể cả tại những địa bàn trọng điểm thu hút vốn đầu tư như Hà
Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hiệu quả hoạt động của các KCN trên cùng một
địa bàn cũng như giữa các địa bàn không đồng đều.
+ Hiệu qủa công tác quy hoạch và điều hành thực hiện quy hoạch. Các dự
án tập trung chủ yếu ở những địa bàn thuận lợi như ở các thành phố lớn, gần cảng
biển và sân bay quốc tế . Chưa hình thành hệ thống các KCN gắn với địa bàn nông
hoá, hiện đại hoá mà còn đặt ra những vấn đề cần phải quan tâm như:
+ Xu thế chung của các nhà đầu tư nước ngoài là thường tìm cách đưa công
nghệ lạc hậu vào các nước đang phát triển nhằm lợi dụng nguồn nhân lực rẻ gia
công sản phẩm cho chính quốc và trong góp vốn hợp tác, liên doanh sản xuất thì tìm
cách khai tăng giá trị cho máy móc, thiết bị cao hơn giá trị thực của chúng.
+ Quan điểm nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý
chủ chốt của các địa phương về vị trí, vai trò của KCN còn có sự khác nhau và thiếu