Xây dựng pháp luật về mua bán, sáp nhập các tổ chức tín dụng ở Việt Nam - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HUYỀN

XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HUYỀN

XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN, SÁP NHẬP
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Thu Thủy


1.1.1. Quan niệm về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

6

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng

16

1.1.3. Phân loại mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng

23

1.1.4. Sự cần thiết phải xây dựng pháp luật về mua bán, sáp nhập tổ
chức tín dụng

24

1.1.5. Các nguyên tắc mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng

29

Các quy định pháp luật việt nam về mua bán, sáp nhập tổ chức
tín dụng

33

1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về mua bán, sáp
nhập tổ chức tín dụng ở Việt Nam

33

Thực trạng hoạt động mua bán, sáp nhập tổ chức tín dụng ở
Việt Nam

57

2.1.1. Thực trạng hoạt động mua bán, sáp nhập ngân hàng

57

2.1.2. Đánh giá chung về hoạt động mua bán và sáp nhập tổ chức
tín dụng

66

Kinh nghiệm pháp luật về mua bán, sáp nhập tổ chức tín dụng
của một số nước trên thế giới

72

2.2.

2.2.1. Tại Mỹ

72

2.2.2. Tại Hàn Quốc

89

2.2.3. Một số bài học kinh nghiệm

tổ chức tín dụng

104

KẾT LUẬN

115

4


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

5

117


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HĐQT

: Hội đồng quản trị

M&A

: Hoạt động mua bán và sáp nhập

NHNN



59

bảng
2.1

(1991-2004)
2.2

Quy định vốn pháp định đối với NHTM

60

2.3

Tỷ lệ nắm giữ cổ phần NHTMCP nội địa của một số tổ

61

chức nước ngoài (tính đến hết tháng 9/2008)
2.4

Hoạt động nắm giữ cổ phần chéo giữa các ngân hàng

62

trong nước
2.5

So sánh chi phí giữa việc tiến hành chi trả tiền gửi và tiến

Cơ cấu tổ chức của các cơ quan giám sát tại Hoa Kỳ

73

2.2

Mạng an toàn tài chính của Hàn Quốc

89

8


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, hoạt động mua bán và sáp nhập ("M&A") xuất hiện từ
những năm đầu của thế kỷ XX, là hoạt động kinh doanh và quản trị không
còn xa lạ ở các nước có nền kinh tế phát triển. Tại một nền kinh tế đang phát
triển như Việt Nam, hoạt động M&A vẫn còn tương đối mới mẻ và là cơ hội
đầu tư cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. M&A không những là
kênh thu hút vốn đầu tư, là cách thức giúp các doanh nghiệp nhanh chóng tiếp
cận với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, trình độ quản lý chuyên nghiệp, mà còn
là cơ hội để các sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam có thể
cạnh tranh với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp nước
ngoài và nhanh chóng xâm nhập vào thị trường quốc tế.
Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp tục chứng kiến một
làn sóng M&A mới dưới những hình thức đa dạng và quy mô lớn chưa từng
có. M&A được coi là một trong những biện pháp hiệu quả nhất của hoạt động
đầu tư bởi hoạt động này tiết kiệm được nguồn lực, thời gian và đem lại hiệu
quả kinh tế cao, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Mục tiêu của

tiếp quản lý hoạt động M&A, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Vì vậy, để hoạt động M&A đi vào nề nếp và là một kênh đầu tư quan trọng
đối với các nhà đầu tư trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài, tác
giả chọn đề tài: "Xây dựng pháp luật về mua bán, sáp nhập các tổ chức tín
dụng ở Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ của mình. Qua nghiên cứu, tác giả
mong muốn không những làm rõ sự cần thiết phải xây dựng pháp luật về mua
bán, sáp nhập TCTD ở Việt Nam, cung cấp bức tranh về thực trạng hoạt
động mua bán, sáp nhập TCTD ở Việt Nam, mà còn đưa ra kinh nghiệm
pháp luật về mua bán, sáp nhập các TCTD tại một số quốc gia trên thế giới;
đồng thời, đưa ra giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về mua bán, sáp
nhập TCTD để giúp hoạt động này diễn ra lành mạnh và hiệu quả hơn tại thị
trường Việt Nam.

10


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Về đề tài xây dựng pháp luật về mua bán, sáp nhập các TCTD ở Việt
Nam, qua tìm hiểu tác giả được biết đã có một số các bài viết liên quan đến
vấn đề pháp lý về mua bán và sáp ngân hàng được đăng trên các phương tiện
thông tin đại chúng, như bài viết: "Khung pháp lý về mua lại và sáp nhập
Ngân hàng thương mại ở Việt Nam" của tác giả Phạm Minh Sơn, trên trang
web , năm 2013, hay bài viết: "Hành lang pháp lý liên
quan đến sáp nhập và thâu tóm ngân hàng ở Việt Nam" của ThS.Bùi Thanh
Lam - Ngân hàng FPT, trên trang web , nhưng chưa có
luận văn thạc sĩ hoặc luận án tiến sĩ nào nghiên cứu đề tài xây dựng pháp luật
về mua bán và sáp nhập các TCTD ở Việt Nam một cách cụ thể. Các bài viết
này mặc dù cũng phân tích các quy định của pháp luật về mua bán, sáp nhập
ngân hàng và một số thực trạng, giải pháp, nhưng mới chỉ dừng lại ở những
nhận định mang tính chất chung chung, chưa đi sâu phân tích cụ thể nội dung

của một số quốc gia trên thế giới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được viết trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra, luận văn cũng kế
thừa có chọn lọc những vấn đề lý luận, thực tiễn được các nhà nghiên cứu đi
trước đưa ra, những tài liệu được công bố trên tạp chí, bài viết, bài báo, báo
cáo tổng kết và các tài liệu, các nguồn từ nước ngoài.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thống kê,
phân tích, so sánh và tổng hợp: Dựa trên việc thu thập số liệu về một số
thương vụ trên thế giới, từ đó phân tích đưa ra những đánh giá, nhận định đối
với thực trạng M&A trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng tại một số quốc gia
và rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
Tuy nhiên, do thị trường M&A ở Việt Nam cũng khá mới mẻ, việc
kiểm soát và quản lý còn nhiều khoảng trống nên các số liệu thống kê chỉ

12


mang tính chất tương đối. Đồng thời, do đặc tính của những thương vụ M&A
trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng phải yêu cầu độ bảo mật cao nên việc thu
thập thông tin chi tiết các vấn đề liên quan đến một số thương vụ cụ thể gặp
nhiều khó khăn. Trong tương lai, khi hoạt động của thị trường M&A đi vào
ổn định, có sự quản lý, kiểm soát, công bố thông tin rõ ràng và minh bạch thì
việc phân tích hoạt động M&A trên thị trường nói chung sẽ được thực hiện
một cách rõ ràng hơn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả mong muốn góp
phần nghiên cứu làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về mua bán, sáp nhập
doanh nghiệp, TCTD, trong đó có sự cần thiết phải xây dựng pháp luật về
mua bán, sáp nhập TCTD ở Việt Nam; pháp luật về mua bán, sáp nhập TCTD

tóm giữa các doanh nghiệp với mong muốn tìm kiếm, mở rộng thị trường,
nâng cao quy mô doanh nghiệp. M&A cũng góp phần "làm sạch" thị trường
đối với những doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản, hoặc những doanh nghiệp
cần phải được đầu tư về vốn, quản trị, công nghệ... từ các doanh nghiệp khác.
Hơn nữa, cũng như quy luật của sự phát triển, các doanh nghiệp không chỉ
chọn giải pháp phát triển "tự sinh" thông qua việc tự thành lập các doanh
nghiệp trực thuộc, mà còn thông qua các biện pháp phát triển "ngoại sinh" với
việc sáp nhập, thâu tóm doanh nghiệp khác.
M&A (viết tắt của cụm từ tiếng Anh Mergers and Acquisitions) có
nghĩa là mua bán và sáp nhập. M&A thể hiện hoạt động của hai doanh nghiệp
kết hợp lại với nhau nhằm đạt được những mục tiêu đã được xác định trong
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. M&A là một trong các hình thức
đầu tư có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với trực tiếp hai doanh nghiệp, mà
còn đối với các đối tượng khác như người quản lý, người lao động, đối thủ
cạnh tranh của các bên, thậm chí cả đối với cộng đồng và nền kinh tế của mỗi

14


quốc gia. Trên thực tế, hoạt động M&A xuất hiện từ những năm đầu của thế
kỷ XX, là hoạt động không còn xa lạ ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới.
Dưới góc độ kinh tế, M&A được định nghĩa như sau:
Mergers (sáp nhập) xảy ra khi hai công ty, thường là các
công ty có cùng quy mô, đồng ý tiến tới thành lập một công ty mới
mà không duy trì sở hữu và hoạt động của các công ty thành phần.
Chứng khoán của các công ty thành phần sẽ bị xóa bỏ và công ty
mới sẽ phát hành chứng khoán thay thế. Các công ty bị sáp nhập sẽ
chấm dứt hoạt động, công ty mới được thành lập và phát hành
chứng khoán thay thế.
Acquisitions (mua lại) là hoạt động thông qua đó, các công ty

vẫn hoạt động bình thường, chỉ có điều phần tài sản bị mua sẽ thuộc về công
ty đi mua. Trong trường hợp mua lại cổ phần thì công ty đi mua sẽ trở thành
một cổ đông của công ty mục tiêu.
Đối với sáp nhập, hiểu theo nghĩa hẹp, là giao dịch trong đó một hoặc
một số doanh nghiệp từ bỏ pháp nhân của mình để gia nhập vào một doanh
nghiệp khác. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền,
lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập. Sau khi việc sáp
nhập hoàn thành thì doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của
mình. Hiểu theo nghĩa rộng, sáp nhập doanh nghiệp bao gồm cả việc hai hoặc
nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp
pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới; đồng thời, chấm dứt sự
tồn tại của các doanh nghiệp trước sáp nhập. Sáp nhập theo nghĩa rộng, bao
gồm cả hợp nhất. Trong trường hợp này thì cổ phiếu của hai công ty được
thay thế bằng cổ phiếu của công ty mới.
Vậy, có thể thấy, quan niệm phổ biến về M&A trên thế giới được hiểu
bao gồm không chỉ sáp nhập, mua lại, mà bao gồm cả hợp nhất và giành
quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nếu phân tích về sáp
nhập, hợp nhất thì đây không phải là hoạt động đầu tư theo nghĩa thông

16


thường, mà về bản chất đó là sự tối ưu hóa đầu tư. Chỉ mua lại, giành quyền
kiểm soát mới thực sự là bỏ vốn để tiến hành hoạt động đầu tư.
Tại Việt Nam, hiện tại chưa có một khung pháp lý hoàn chỉnh và thống
nhất điều chỉnh hoạt động M&A. Theo đó, khái niệm về mua lại, sáp nhập
được quy định rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, chính
việc này đã gây khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp muốn thực hiện
hoạt động M&A. Trên thực tế, quy định về M&A tồn tại trong Luật Doanh
nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh. Dưới đây là các quy định về M&A

và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác [19].
Đối với các loại hình doanh nghiệp khác như công ty TNHH, Công ty
cổ phần, Luật Doanh nghiệp chỉ quy định về việc mua bán/chuyển nhượng
phần vốn góp hoặc mua bán/chuyển nhượng cổ phần, cụ thể như sau:
Đối với Công ty TNHH, việc mua bán/chuyển nhượng phần vốn góp
được quy định tại Điều 44. Theo đó:
Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở
lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp
của mình cho người khác theo quy định sau đây:
1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại
theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với
cùng điều kiện;
2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành
viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không
mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán [19].
Đối với Công ty cổ phần, việc mua bán/chuyển nhượng phần cổ phần
được quy định tai Điều 87. Theo đó, điều khoản này quy định như sau:
1. Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và
giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán. Giá
chào bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm

18


chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời
điểm gần nhất, trừ những trường hợp sau đây: ...
2. Trường hợp công ty phát hành thêm cổ phần phổ thông
và chào bán số cổ phần đó cho tất cả cổ đông phổ thông theo tỷ lệ
cổ phần hiện có của họ tại công ty thì phải thực hiện theo quy định
sau đây: …

nhân, chủ sở hữu của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm toàn bộ về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ
trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận
khác. Còn đối với công ty TNHH/ công ty cổ phần thì sau khi thực hiện xong
việc mua bán/chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần thì các bên sẽ không còn
trách nhiệm gì với nhau.
Như trên đã phân tích, một trong những mục tiêu lớn nhất của M&A
là nhà đầu tư mới/cổ đông mới của doanh nghiệp mong muốn giành quyền
kiểm soát doanh nghiệp ở mức độ nhất định, không đơn thuần là sở hữu một
phần vốn góp hay cổ phần của doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ, lẻ. Vì
vậy, khi một nhà đầu tư mới/cổ đông mới đạt được mức sở hữu phần vốn góp,
cổ phần của doanh nghiệp đủ để tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng
của doanh nghiệp thì khi đó mới có thể coi đây là hoạt động M&A. Ngược lại,
khi nhà đầu tư sở hữu phần vốn góp, cổ phần không đủ để quyết định các vấn
đề quan trọng của doanh nghiệp thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tư
thông thường.
Như vậy, đối với việc mua lại toàn bộ doanh nghiệp của nhà đầu tư
(áp dụng doanh nghiệp tư nhân) thì coi như chủ đầu tư đã kiểm soát toàn bộ
doanh nghiệp, có thể coi là hoạt động M&A.
Trường hợp của công ty TNHH/ công ty cổ phần sẽ xảy ra các trường
hợp sau đây:
Thứ nhất, đối với việc mua lại toàn bộ phần vốn góp/cổ phần thì nhà
đầu tư mới/cổ đông mới có quyền kiểm soát toàn bộ doanh nghiệp. Mục đích
của M&A coi như đã đạt được.

20


Thứ hai, đối với việc mua lại một phần vốn góp/cổ phần thì nhà đầu tư
mới/cổ đông mới chưa chắc có đủ quyền để kiểm soát doanh nghiệp. Vấn đề


thể kiểm soát công ty thông qua các chức danh quản lý do mình được quyền
đề cử, bổ nhiệm. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi
hành chưa có quy định rõ ràng về vấn đề này. Các bên thường áp dụng trên
nguyên tắc thỏa thuận theo tinh thần của Bộ luật Dân sự.
Luật Đầu tư
Tại đây, lần đầu tiên quy định "Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua
lại doanh nghiệp" [20, Điều 21.6] như một trong các hình thức đầu tư trực
tiếp. Theo đó, "đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu
tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư" [20, Điều 3.2]. Điều 25.2 có ghi
nhận: "Nhà đầu tư được quyền sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh. Điều
kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật này, pháp
luật về cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có liên quan" [20].
Luật Chứng khoán
Đối với hoạt động chia, tách, sáp nhập và hợp nhất, Luật Chứng khoán
chỉ bó hẹp trong phạm vi áp dụng là đối với công ty chứng khoán, công ty
quản lý quỹ mà không áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp khác. Ngoài
ra, Luật Chứng khoán đề cập chủ yếu đến hoạt động mua bán cổ phiếu của
công ty đại chúng. Như vậy, có thể thấy rằng hoạt động M&A theo cách nhìn
và tiếp cận của Luật Chứng khoán mới chỉ dừng lại ở mức độ là hoạt động
đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư.
Luật Cạnh tranh
Theo quy định của pháp luật về cạnh tranh thì "sáp nhập doanh nghiệp
là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ
và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm
dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập" [18, Điều 17.1]. Điểm khác biệt
duy nhất của khái niệm này so với Luật Doanh nghiệp là không quy định ràng
buộc doanh nghiệp tham gia sáp nhập phải cùng loại hình hoạt động.

22

doanh nghiệp hoặc một bộ phận doanh nghiệp thông qua việc sở hữu toàn bộ

23


hoặc một phần doanh nghiệp đó. Mục đích chính của M&A là phải tạo ra
những giá trị mới cho các cổ đông, giá trị của công ty sau khi tiến hành M&A
phải lớn hơn tổng giá trị hiện tại của hai công ty khi còn đứng riêng lẻ. Ngoài
ra, những công ty mạnh mua lại công ty khác nhằm tạo ra một công ty mới
với năng lực cạnh tranh cao hơn, đạt hiệu quả về chi phí, chiếm lĩnh thị phần
lớn hơn, hiệu quả vận hành cao hơn… những điều này tạo ra lợi ích kỳ vọng
thuyết phục các doanh nghiệp khác chấp nhận để mình bị mua lại.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng
1.1.2.1. Khái niệm mua bán và sáp nhập tổ chức tín dụng
Ngày 15/07/1998, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành Quyết định
số 241/1998/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế sáp nhập, hợp nhất mua lại
TCTD cổ phần Việt Nam (sau đây gọi tắt là Quyết định số 241/1998/QĐ-NHNN.
Theo đó, hoạt động mua bán, sáp nhập hay hợp nhất TCTD và khái niệm về
mua bán, sáp nhập TCTD lần đầu tiên được quy định tại Quyết định số
241/1998/QĐ-NHNN. Cụ thể, Điều 2 của Quyết định quy định như sau:
• Sáp nhập: là việc một hoặc một số tổ chức tín dụng cổ
phần được nhập (gọi là tổ chức tín dụng cổ phần được sáp nhập)
vào một tổ chức tín dụng cổ phần khác (gọi là tổ chức tín dụng cổ
phần sáp nhập). Sau khi sáp nhập, toàn bộ hoạt động của tổ chức tín
dụng cổ phần được sáp nhập vào tổ chức tín dụng cổ phần sáp nhập
và tổ chức tín dụng cổ phần được sáp nhập chấm dứt hoạt động;
toàn bộ các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động của tổ chức tín dụng
cổ phần được sáp nhập (bao gồm tiền gửi, tiền vay, các khoản đầu
tư, cho vay, công nợ các khoản phải thu phải trả...) được chuyển
giao cho tổ chức tín dụng cổ phần sáp nhập thực hiện. Việc giải

241/1998/QĐ-NHNN cũng như Nghị định số 69/2007/NÐ-CP và Thông tư số
07/2007/TT-NHNN đã phát sinh nhiều bất cập, không còn phù hợp với thực
tiễn hoạt động của các ngân hàng. Đồng thời, cũng không phù hợp với xu thế
hội nhập khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính vào năm 2010.
Đây là thời điểm các ngân hàng lớn mở rộng thị phần và hoạt động M&A
chính là con đường ngắn nhất để các ngân hàng này đạt hiệu quả cao với

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status