ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƢỜNG
ĐOÀN THỊ ÁNH DƢƠNG
ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE CỦA KIM LOẠI
NẶNG (As, Cd VÀ Pb) TRONG MỘT SỐ LOÀI CÁ
ĐƢỢC ĐÁNH BẮT TẠI VỊNH ĐÀ NẴNG Đà Nẵng - Năm 2015 LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5năm 2015
Sinh viên Đoàn Thị Ánh Dƣơng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, tôi nhận đƣợc sự hƣớng dẫn rất nhiệt tình của Thầy
Trần Ngọc Sơn thuộc Khoa Sinh - Môi trƣờng, trƣờng Đại học Sƣ phạm, Đại học
Đà Nẵng. Nhân dịp này tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy.
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, tôi cũng nhận đƣợc sự giúp đỡ của các
thầy cô trong Khoa Sinh - Môi trƣờng, sự hỗ trợ nhiệt tình của các gia đình sống
ven Vịnh Đà Nẵng và bạn bè. Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những giúp đỡ quý
báu đó.
Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện Đoàn Thị Ánh Dƣơng
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ô NHIỄM KLN TRONG THỰC PHẨM VÀ
RỦI RO SỨC KHỎE DO KLN 10
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 10
1.4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13
1.5. CƠ CHẾ HẤP THỤ KLN Ở CÁ 15
1.6. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18 2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 18
2.1.1. Cá Trích Xƣơng (Sardinella gibbosa) 18
2.1.2. Cá Nục Gai (Decapterus russelli) 19
2.1.3. Cá Chai Ấn Độ (Platycephalus indicus ) 19
2.1.4. Cá Dìa (Siganus canaliculatus) 20
2.1.5. Cá Mòi Cờ Chấm (Konosirus punctatus) 20
2.1.6. Cá Đối Đầu Dẹt (Mugil cephalus) 21
2.2. THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 22
2.2.1. Thời gian nghiên cứu 22
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu 22
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.4.1. Phƣơng pháp hồi cứu số liệu 23
2.4.2. Phƣơng pháp thu mẫu và bảo quản mẫu 23
2.4.3. Phƣơng pháp định loại 23
2.4.4. Phƣơng pháp vô cơ hóa mẫu và phân tích mẫu 23
2.4.5. Phƣơng pháp phỏng vấn cộng đồng 24
2.4.5. Phƣơng pháp đánh giá rủi ro sức khỏe theo US-EPA 25
2.4.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu 26
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 27
3.1. HÀM LƢỢNG KLN TRONG THỊT CÁ 27
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
1.1.
Hàm lƣợng KLN trong trầm tích vùng biển vịnh Đà Nẵng
9
3.1.
Hàm lƣợng KLN trong thịt cá
28
3.2.
Giá trị THQ của đối tƣợng ngƣời lớn
36
3.3.
Giá trị THQ của đối tƣợng trẻ em vị thành niên
36
3.4
Giá trị HI của cá
40
DANH MỤC HÌNH
Số hiệu hình
Tên hình vẽ
Trang
1.1
Sơ đồ đánh giá rủi ro sức khỏe
3
2.1
Cá Trích Xƣơng (Sardinella gibbosa)
34
3.4
Giá trị THQ của KLN
37
3.5
Giá trị HI của cá
41
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay sự phát triển của kinh tế đã làm thay đổi bộ mặt đất nƣớc, tuy nhiên
đi kèm với sự phát triển đó là môi trƣờng đang có xu hƣớng ngày càng nghiêm
trọng, đặc biệt là môi trƣờng nƣớc. Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động công
nghiệp, nông nghiệp sử dụng phân bón, thuốc BVTV, phụ gia thực phẩm đã xả thải
vào môi trƣờng, trong đó chứa một lƣợng lớn KLN gây độc [21].
KLN là những nguyên tố dễ dàng tích lũy trong cơ thể sinh vật, từ đó tƣơng
tác với nội bào và làm biến đổi nội bào hoặc liên kết với nội bào hình thành nên
những enzim phân hủy protein, tăng sự tổng hợp protein dị thƣờng. KLN không
phân hủy thành hợp chất nhỏ hơn để gây độc, chúng thƣờng gắn kết với hợp chất
hữu cơ để gây độc. Do đó, gây tác động xấu đến vấn đề an toàn thực phẩm và trực
tiếp hoặc gián tiếp thông qua con chuổi thức ăn ảnh hƣởng sức khỏe con ngƣời [1].
Đà Nẵng là đƣợc xem là một thành phố cảng lớn nhất miền Trung, hiện nay
chiến lƣợc phát triển của Thành Phố đến năm 2020 là tập trung phát triển kinh tế
biển. Với điều kiện địa lý và khí hậu thuận lợi, Vịnh có tiềm năng lớn về hoạt động
nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản. Hàng năm trữ lƣợng khai thác hải sản vùng biển
Đà Nẵng lớn, khoảng 60 - 70 nghìn tấn, tập trung chủ yếu ở cá nổi ven bờ. Tuy
nhiên, Vịnh cũng là nơi tiếp nhận chất thải trên địa bàn thành phố từ các KCN, bãi
rác và chất thải sinh hoạt, theo các dòng sông, cống thải đổ vào Vịnh gây ô nhiễm
[26]. Do đó việc nghiên cứu phân tích KLN trong môi trƣờng sống, trong thực
động của con ngƣời gây ra.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài giúp xác định đƣợc nguy cơ rủi ro sức khỏe ngƣời tiêu dùng thông qua
việc tiêu thụ nguồn cá bị nhiễm KLN, từ đó đƣa ra khuyến cáo đối với ngƣời dân
khi sử dụng cá tại đây làm thực phẩm hàng ngày.
Ngoài ra kết quả để tài sẽ góp phần cho các cơ quan quản lý môi trƣờng quản
lý tốt những ảnh hƣởng của ô nhiễm KLN đến sức khỏe ngƣời dân, cũng nhƣ kịp
thời đƣa ra khuyến cáo cho ngƣời tiêu thụ thực phẩm nhằm hạn chế tốt nhất những
rủi ro sức khỏe, bệnh tật.
3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE
1.1.1. Khái niệm đánh giá rủi ro sức khỏe
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trƣờng của Mỹ (US - EPA), đánh giá rủi ro sức
khỏe là quá trình đánh giá tính chất và khả năng ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời
khi tiếp xúc với hóa chất trong môi trƣờng bị ô nhiễm. Đánh giá rủi ro sức khỏe có
3 nhóm chính:
+ Rủi ro do nguồn vật lý (đƣợc quan tâm nhiều nhất, là những rủi ro về bức
xạ từ nhà máy hạt nhân hoặc trung tâm nghiên cứu hạt nhân).
+ Rủi ro hóa chất.
+ Rủi ro sinh học (đánh giá rủi ro đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm hoặc
đánh giá rủi ro đối với những sinh vật biến đổi gen).
Các bƣớc chính trong đánh giá rủi ro sức khỏe:
nhiễm và đánh giá độc tính để định tính và định lƣợng mức độ rủi ro.
Trong thực tế mỗi bƣớc của đánh giá rủi ro (nhận định rủi ro, đánh giá liều
lƣợng đáp ứng, đánh giá phơi nhiễm) đều có một đặc tính rủi ro riêng. Do đó việc
tổng kết đặc tính rủi ro là cần thiết nhằm cung cấp thông tin để quản lý rủi ro tốt
hơn.
Việc mô tả đặc tính rủi ro đƣợc thực hiện trên 4 nguyên tắc: minh bạch, rõ
ràng, nhất quán và hợp lý [60].
1.1.2. Ý nghĩa đánh giá rủi ro sức khỏe
Đánh giá rủi ro sức khỏe giúp xác định liều lƣợng cũng nhƣ những nhân tố
gây ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời ngay tại khu vực đó hoặc gần những khu
vực ô nhiễm; đồng thời giúp xác định mức độ phải làm sạch dựa trên rủi ro tại khu
vực nghiên cứu.
Bên cạnh đó, đánh giá rủi ro sức khỏe còn giúp nhà quản lý môi trƣờng cân
bằng giữa trách nhiệm bảo vệ con ngƣời với sự phát triển kinh tế; giúp đƣa ra quyết
định hợp lý nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và loại trừ tác động có hại gây ra đối với
con ngƣời, đồng thời đảm bảo mức sản xuất hợp lý [28], [ 60].
1.2. ĐỘC TÍNH CỦA KIM LOẠI NẶNG
1.2.1. Asen và độc tính của Asen
Asen hay còn gọi là thạch tín, trong bảng tuần hoàn hóa học asen có ký hiệu là
As, khối lƣợng nguyên tử 74.92, số thứ tự 33. As là một á kim gây độc và có nhiều
5
dạng thù hình: dạng kim loại và không kim loại [31].
Asen là nguyên tố đƣợc hình thành trong vỏ trái đất, có màu xám khi ở dạng
nguyên chất, nhƣng dạng này ít tồn tại trong tự nhiên, chủ yếu tồn tại dƣới dạng hợp
chất quặng [31].Nguồn phát thải As nhân tạo chủ yếu từ quá trình nóng chảy kim
loại màu, sản xuất dầu mỏ, hoạt động khai thác khoáng sản, dƣ lƣợng hóa chất
BVTV… Nguyên nhân As có trong nƣớc biển là từ các nguồn nƣớc chảy qua những
vỉa quặng chứa As đã bị phong hoá; chất thải chứa As ngấm theo kẽ nứt xuống
mạch nƣớc ngầm rồi theo dòng chảy đổ ra biển, hoặc theo dòng thải trực tiếp đổ vào
và tuổi tác [2].
Lƣợng Cd xâm nhập vào cơ thể không chỉ phụ thuộc vào việc ăn phải thực
phẩm chứa Cd mà phần lớn phụ thuộc vào chế độ và chất lƣợng thực phẩm. Khi Cd
vào cơ thể ở nồng độ cao sẽ gây đau thận, thiếu máu do hàm lƣợng hemoglobin
giảm và phá hủy hồng cầu. Theo Trịnh Thị Thanh (2000) Cd và hợp chất của nó
đƣợc xếp vào nhóm có thể gây ung thƣ (IIA) theo sự sắp xếp của ơ quan Nghiên
cứu Quốc tế về Ung thƣ (IARC), gây ung thƣ phổi, thủng vách ngăn mũi, ung thƣ
tuyến tiền liệt. Khi lƣợng hàm lƣợng Cd
2+
tích lũy đủ lớn gây rối loạn tiêu hóa, rối
loạn chức năng thận, thiếu máu, tăng huyết áp, gây dòn xƣơng, ung thƣ…[18].
1.2.3. Chì và độc tính của Chì
Chì có ký hiệu hóa học là Pb, khối lƣợng nguyên tử 297.19 thuộc nhóm IV số
thứ tự 82 trong bảng tuần hoàn hóa học. Pb có màu xám nhạt, không mùi, không vị,
không hòa tan trong nƣớc, không cháy. Pb rất mềm, dễ gia công và cắt gọt, dễ
nghiền thành bột. Pb đƣợc xem là kim loại mềm nhất trong tất cả kim loại thông
thƣờng [2].
Trong tự nhiên Pb tồn tại dƣới dạng quặng galena (PbS), cerussite (PbCO
3
),
anglesite (PbSO
4
). Pb đƣợc sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống nhƣ
sản xuất ắc quy, pin, cáp điện, dệt nhuộm ; trong các ngành công nghiệp nhƣ
ngành khai thác, luyện kim Pb, sử dụng sơn chứa Pb, ngành xây dựng và thuốc trừ
sâu…[2]. Đặc biệt ngày nay, xăng pha Pb giúp làm tăng chỉ số octane (đặc trƣng
cho khả năng chống kích nổ, chỉ số octane càng cao càng tốt, tuy nhiên phù hợp với
từng loại động cơ) và giúp động cơ hoạt động tốt hơn đã gây ô nhiễm môi trƣờng
trên diện rộng và ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời [10]. Pb xâm nhập vào môi
trƣờng nƣớc là kết quả của quá trình phong hóa vỏ trái đất, quá trình xóa mòn, lắng
động sản xuất đƣa vào môi trƣờng 60.000 tấn As , 25.000 tấn Cd, ngoài ra môi
trƣờng tự nhiên cũng đóng góp một lƣợng đáng kể: 45.000 tấn As, 33.000 tấn Pb,
8
800 tấn Cd [2], [ 41].
Ô nhiễm KLN ở nhiều vùng cửa sông, ven biển trên thế giới đã đƣợc biết từ
lâu bởi tính độc hại đe dọa đến sự sống của sinh vật thủy sinh, gây nguy cơ cho sức
khỏe con ngƣời. Trong đó ô nhiễm Pb và Zn là một trong những điều đáng quan
tâm do ảnh hƣởng độc hại của chúng. Tại vùng cửa sông Úc với hàm lƣợng 1000
µg/g Pb, 2000 µg/g Zn có thể tìm thấy trong trầm tích bị ô nhiễm. Bryan và cộng sự
(1985) đã xác định hàm lƣợng Pb vô cơ trong trầm tích cửa sông ở Anh biến động
từ 25 µg/g trong khu vực không bị ô nhiễm đến hơn 2700 µg/g trong cửa sông
Gannel nơi nhận chất thải từ việc khai thác mỏ Pb [41], [ 42]. Ở Anh, lƣợng As thải
ra là 650 tấn/năm từ công nghiệp luyện kim màu; 9 tấn/năm vào không khí và 197
tấn/năm vào đất từ ngành thép; 297 tấn/năm vào không khí và 838 tấn/năm vào đất
từ đốt dầu mỏ… [2].
Theo điều tra các cống xả thải chất ô nhiễm khu vục ven biển năm 2004 của
Trung Quốc, đã có 643 cống thải trực tiếp xả chất ô nhiễm vào vùng ven biển trên
toàn Trung Quốc. Vào năm 2004 có tổng cộng 22.4 tấn nƣớc thải đã đƣợc đƣa trực
tiếp vào vùng ven biển thông qua cống thải. Một lƣợng lớn chất ô nhiễm theo dòng
chảy đi vào biển, trong đó có 108 tấn Pb, 74 tấn As, 6.2 tấn Cd và 1.2 tấn Hg [59].
1.3.2. Tình hình ô nhiễm KLN ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hóa, quá trình đô thị hóa
ngày càng tăng kéo theo vấn đề môi trƣờng ngày càng nhiều, đặc biệt là sự xâm
nhập của KLN. Có thể nói ô nhiễm môi trƣờng nói chung và ô nhiễm KLN nói
riêng đã và đang là thách thức lớn đối với môi trƣờng Việt Nam.
Kết quả quan trắc môi trƣờng cho thấy hàm lƣợng KLN tại vùng nƣớc ven
biển gần thị trấn và trung tâm công nghiệp là đáng kể: Tại Vinh hàm lƣợng Cu
trung bình là 0.025 mg/l, tại Vũng Tàu 0.046 mg/l. Hàm lƣợng Cu này cao hơn từ
30 đến 60 lần so với mức trung bình của hàm lƣợng Cu trong nƣớc biển ở ngoài
Lớn nhất
780
2.5
40
18
0.66
6.3
1.2
Nhỏ nhất
40
0.3
3
3.9
0.2
1.8
0.03
Trung bình
352
2
15
6.7
0.5
5
0.09
Nguồn: “Điều tra địa chất, tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ (0 - 30 m
nước) Việt Nam tỷ lệ 1/500,000"
Tất cả mẫu đều nhiễm KLN, trong đó hàm lƣợng As dao động trong khoảng
1.8 - 6.3 ppm, trung bình 5 ppm,
cao hơn nhiều so với hàm lƣợng trung bình của nó
loại vết (Cd, As, Ni, Pb, Cr, Zn, Cu, Fe) và chất độc hại trong 6 loài cá (Pampus
argenteus, Sardinella sindensis, Labeo rohita,, Platycephalus indicus, Kowala
coval, Tenualosa ilisha) và 2 loài tôm (Penaeus indicus và Penaeus indicus,
Pencillantus) từ quận Keti Bunder Thatta, Sindh. Vùng biển Keti Bunder là nơi tiếp
nhận KLN từ năm con sông của Punjab thông qua sông Indus cũng nhƣ từ thành
phố Karachi (đây là nơi tiếp nhận 110 triệu gallon nƣớc thải sinh hoạt mỗi ngày và
37,000 tấn chất thải công nghiệp/năm từ 30,000 đơn vị công nghiệp). Kết quả phân
tích cho thấy giá trị trung bình của chất độc và kim loại trong hầu hết các loài cá,
11
tôm đều nằm trong giới hạn cho phép về hàm lƣợng KLN trong thực phẩm từ nhiều
địa phƣơng và không có bất kì rủi ro sức khỏe nào cho ngƣời tiêu thụ [35].
Theo nghiên cứu Maroof A. Khalaf và cộng sự (2012) tại Vịnh Aqaba, là một
Vịnh kín thuộc Biển Đỏ, Jordan về sự tích lũy KLN trên những bộ phận khác nhau
của ba loài cá thuộc họ cá Khế (Carangidae) gồm cá Nục Thu (Decapterus
macarellus), cá Nục Thuôn (Decapterus macrosoma), và cá Nục Gai (Decapterus
russelli) cho 7 kim loại (Cu, Ni, Mn, Pb, Zn, Cd, Fe). Kết quả phân tích chỉ ra rằng
có sự khác biệt đáng kể hàm lƣợng kim loại giữa ba loài cá D. macarelus, D
macrosoma và D. russelli. Trong đó hai loài: Decapterus macarellus và D.
macrosoma có nơi sống giống nhau, sử dụng thức ăn tƣơng tự (động vật phù du,
động vật đáy không xƣơng sống và sinh vật phù du khác). Ngƣợc lại cá D. russelli
sống ở vùng nƣớc sâu từ tầng giữa đến tầng đáy và sử dụng động vật phù du, động
vật đáy, động vật giáp xác đáy và sinh vật trôi để làm thức ăn, điều đó giải thích cho
sự khác nhau về hàm lƣợng kim loại trong các loài cá [47].
Không chỉ dừng lại ở đánh giá hàm lƣợng, sự tích lũy KLN trong sinh vật, môi
trƣờng mà ngày nay đã có nhiều nghiên cứu mở rộng hơn trong lĩnh vực này. Dựa
vào nghiên cứu sự tích lũy KLN trong sinh vật, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu hơn
vào việc đánh giá rủi ro sức khỏe của ngƣời tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm KLN.
Những nghiên cứu theo hƣớng mới giúp cho nhà quản lý môi trƣờng quản lý tốt
những ảnh hƣởng của nó đến sức khỏe ngƣời dân, cũng nhƣ kịp thời đƣa ra khuyến
Machilipatnam gây ảnh hƣởng đến sức khỏe của ngƣời tiêu thụ, ngƣời dân không
nên sử dụng cá ở đây làm thực phẩm thƣờng ngày [53].
Ảnh hƣởng đến sức khỏe không chỉ riêng từng hóa chất mà ảnh hƣởng có thể
là sự tƣơng tác của hai hay nhiều hóa chất nguy hại với nhau. Vì vậy đánh giá rủi ro
sức khỏe không chỉ dừng lại ở riêng lẻ từng kim loại, mà cần đánh giá sự kết hợp
của chúng lại với nhau. Nghiên cứu của Joseph o. osakwea và cộng sự (2014) tại
sông Imo của Negeria. Nghiên cứu này đã đánh giá nguy cơ sức khỏe từ KLN (Cd,
Cu, Zn, Ni, Pb và Fe) qua việc tiêu thụ cá trê (Clarias gariepinus) dựa vào thƣơng
số THQs và chỉ số rủi ro HI. Kết quả phân tích giá trị thƣơng số THQ của tất cả
KLN nhỏ hơn 1, giảm theo thứ tự Cd> Ni> Zn> Fe> Cu> Pb, và giá trị rủi ro của
chúng tƣơng ứng là là 0.31, 0.14, 0.019, 0.017, 0.015 và 0.0.01. Giá trị HI là 0.499,
thấp hơn 0.5 lần so với giá trị ngƣỡng là 1. Kết quả này chỉ ra rằng nguy cơ sức
13
khỏe liên quan đến từng KLN hay kết hợp tất cả kim loại thông qua tiêu thụ cá trê là
tƣơng đối thấp vào lúc này. Tuy nhiên, do mối nguy hiểm sức khỏe tiềm năng của
KLN, hệ thống sông Imo đòi hỏi phải theo dõi để ngăn chặn nguy cơ sức khỏe tốt
[43].
Một nghiên cứu khác của P. O. Ukoha và cộng sự (2014) cũng tại Negria về
đánh giá rủi ro sức khỏe của KLN (Cd, Cu, Fe) trong ba loài cá đông lạnh nhập
khẩu đƣợc tiêu thụ rộng rãi tại Negria: Sardenlla Syndesis, Scomber Scombrus và
Gadus mangala. Nguy cơ sức khỏe của con ngƣời về tiêu thụ cá đƣợc đánh giá bằng
cách tính thƣơng số nguy hiểm HQ và tổng chỉ số rủi ro THI của độc chất KLN. Kết
quả phân tích hóa học chỉ ra rằng mức độ tập trung của các yếu tố này trong phạm
vi tƣơng ứng là 0.001 - 0.150 mg /kg; 1.05 - 12.06 mg /kg và 8.21 - 85.06 mg /kg
đối với Cd, Cu và Fe. Ngoài ra kết quả của đánh giá nguy cơ sức khỏe dựa trên tổng
chỉ số nguy hiểm (THI) của tất cả chất độc hại cho thấy không có nguy cơ từ tiêu
thụ loài cá đƣợc nghiên cứu [51].
1.4.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam nghiên cứu về tích lũy KLN chủ yếu tập trung vào động vật thân
quả phân tích cho thấy hàm lƣợng Pb, Cd, Cr trong trầm tích tại khu vực nghiên cứu
nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 43/2012/BTNMT, tuy nhiên khi so sánh
với tiêu chuẩn của Canada thì hàm lƣợng Pb và Cd trong 3 khu vực nghiên cứu đều
vƣợt TCCP. Mức độ quan tâm của KLN tại khu vực nghiên cứu đƣợc sắp xếp nhƣ
sau Pb > Cd > Cr. Hàm lƣợng Cd trung bình tích lũy trong mô cá qua 2 đợt thu mẫu
đều thấp, điều này cho thấy chƣa có ô nhiễm Cd tại khu vực này. Tuy nhiên hàm
lƣợng Pb trung bình trong mô cá Liệt lớn, cá Móm gai ngắn, cá Móm gai dài và
hàm lƣợng Cr trong mô loài cá Liệt lớn hầu hết đều vƣợt tiêu chuẩn. Điều đó chứng
tỏ đã có ô nhiễm Pb và Cr trong mô các loài cá trên, vì vậy cần thận trong khi sử
dụng những loài này làm thực phẩm cho con ngƣời [15].
Đánh giá rủi ro sức khỏe đối với ngƣời tiêu thụ thực phẩm đã bắt đầu đƣợc
nghiên cứu ở Việt Nam, tuy nhiên số lƣợng nghiên cứu còn ít, chỉ tập trung vào
nghiên cứu rủi ro sức khỏe do ô nhiễm môi trƣờng không khí, ô nhiễm KLN trong
rau. Những nghiên cứu về rủi ro sức khỏe do ô nhiễm KLN trong cá vẫn chƣa đƣợc
tiến hành tại Việt Nam.
Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009) đã bắt đầu nghiên cứu về
15
đánh giá rủi ro sức khỏe do ô nhiễm không khí đối với công nhân tại hai KCN Vĩnh
Lộc và KCN Tân Thới Hiệp. Trong nghiên cứu này tác giả tập trung vào một số loại
khí thải NO
2
, SO
2
, NH
3
, H
2
S và bụi dựa vào thƣơng số nguy hại HQ (Hazard
Quotient). Kết quả phân tích cho thấy tại KCN Tân Thới Hiệp thì tại 2 vị trí, thƣơng
tại (tuổi cá, thói quen ăn uống). Ở loài cá khác nhau thì khả năng tích lũy KLN cũng
khác nhau và kim loại khác nhau cho thấy mối quan hệ khác nhau đến các mô cá.
Hầu hết tích lũy chủ yếu ở gan, thận và mang. Thịt cá so với các mô khác thƣờng
chứa hàm lƣợng thấp KLN, tuy nhiên là bộ phận đƣợc sử dụng nhiều nhất để làm
16
thực phẩm. Tích lũy KLN trong cơ quan của cá có thể gây tổn thƣơng cấu trúc và
rối loạn chức năng của cá và gián tiếp ảnh hƣởng đến sức khỏe ngƣời tiêu thụ [37].
Con đƣờng kim loại vào cá phụ thuộc vào đặc điểm hóa lý của môi trƣờng và
đặc điểm sinh học của sinh vật. Có ba cách kim loại có thể đi vào cơ thể cá: thông
qua bề mặt cơ thể, qua mang và đƣờng tiêu hóa. Tuy nhiên, bề mặt cơ thể cá ít cho
chất nguy hại trong môi đi vào trong bởi da cá có khả năng tiết ra chất dịch nhày
giúp ngăn chặn KLN xâm nhập vào cơ thể [55].
Nƣớc bị ô nhiễm KLN đi vào cá thông qua mang. Mang cá là vị trí chính đƣa
KLN hòa tan đi vào cơ thể sinh vật. Vai trò sinh lý quan trọng nhất của mang cá là
lấy oxy từ nƣớc và thải carbon đioxít (CO
2
). Bởi vì nƣớc chứa ít oxy hòa tan hơn
không khí, một con cá phải chuyển khoảng 20 lít nƣớc qua bề mặt hô hấp để trích
xuất cùng một lƣợng oxy nhƣ một động vật có vú để có đƣợc 1 lít không khí. Điều
này có nghĩa rằng một lƣợng lớn kim loại đƣợc truyền tải qua mang bất cứ lúc nào,
làm tăng sự hấp thụ kim loại vào cơ thể [62].
Các chất ô nhiễm trong trong trầm tích, chất rắn lơ lửng, sinh vật là thức ăn
của cá đƣợc hấp thụ vào cá thông qua đƣờng tiêu hóa. Cá sử dụng thức ăn bị ô
nhiễm sau đó đi vào cơ thể và đƣợc hấp thụ bởi thành ruột [55].
Nói chung, kim loại hấp thụ qua da, mang hoặc thành ruột đƣợc phân phối
thông qua hệ tuần hoàn, liên kết với protein đƣợc vận chuyển đến các mô khác nhau
của cơ thể. Trong mô, kim loại có thể tham gia vào chức năng sống cần thiết nhƣng
cũng có thể gây những tác động độc hại, hoặc đƣợc khử độc bằng cách gắn vào
protein, metallothionein [62].