Nghiên cứu thành phần các loài chim ở khu BTTN Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. - Pdf 28

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƢỜNG

NGUYỄN THỊ HƢƠNG GIANG NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN
CÁC LOÀI CHIM Ở KHU BTTN
SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Đà Nẵng -Năm 2015
1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƢỜNG
NGUYỄN THỊ HƢƠNG GIANG

Nguyễn Thị Hƣơng Giang

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc nhất tới ThS. Trần Ngọc Sơn, thầy đã hƣớng dẫn tận tình và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến anh Bùi Văn Tuấn,
anh Trƣơng Quốc Đại đã tận tình giúp đỡ, hỗ trợ trong quá trình thực địa.
Tôi xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ và
tạo điều kiện cho tôi. Xin cảm ơn bạn Trinh (13CTM), Trang (13CTM) đã
giúp đỡ rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Cám ơn các bạn
sinh viên lớp 11CTM đã nhiệt tình giúp đỡ và góp ý cho khóa luận của tôi.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa
Sinh Môi Trƣờng đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa luận
này. Đà Nẵng, tháng 05 năm 2015
Sinh viên Nguyễn Thị Hƣơng Giang
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 2

3.1.3. So sánh khu hệ chim ở khu BTTN Sơn Trà với các khu hệ chim lân cận 39
3.1.4. Đặc điểm hiện trạng loài trong danh lục thành phần loài chim ở khu
BTTN Sơn Trà 41
3.1.5. Các loài chim quý, hiếm cần bảo vệ tại khu BTTN Sơn Trà 44
3.2. SỰ PHÂN BỐ LOÀI CHIM TRÊN CÁC SINH CẢNH 45
3.3.1. Các sinh cảnh vùng nghiên cứu 45
3.2.2. Sự phân bố chim theo sinh cảnh 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 DANH LỤC TỪ VIẾT TẮT

BTTN : Bảo tồn thiên nhiên
IUCN : Danh lục đỏ thế giới
VQG : Vƣờn quốc gia
36
3.3
Đa dạng về họ, giống, loài trong các bộ chim ở khu
BTTN Sơn Trà
39
3.4
Số lƣợng các loài chim ở Sơn Trà và cả nƣớc
41
3.5
So sánh về đa dạng của khu hệ chim nghiên cứu với các
khu hệ chim lân cận
42
3.6
Đặc điểm về hiện trạng các loài chim ở khu BTTN Sơn
Trà
43
3.7
Các loài chim di cƣ ở khu BTTN Sơn Trà
44
3.8
Các loài chim quý hiếm cần bảo vệ tại khu BTTN Sơn
Trà
47
3.9
Bảng khảo sát tần suất phát hiện chim trên các sinh cảnh
49 1


44
3.5
Bảng khảo sát tần suất phát hiện chim trên các
sinh cảnh
50

2

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nơi có sự đa dạng về
địa hình và sinh cảnh. Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hệ động thực
vật. Cho đến nay, những điều tra thống kê về khu hệ động vật có xƣơng sống
trên cạn ở Việt Nam, đã xác định đƣợc khoảng 297 loài thú, 887 loài chim, 385
loài bò sát, 181 loài lƣỡng cƣ [11], [14].
Việt Nam có khu hệ chim rất đa dạng và phong phú với 887 loài thuộc 88
họ, 20 bộ [14]. Số lƣợng loài chim hiện biết ở Việt Nam chiếm hơn 9% tổng số
loài chim hiện biết trên thế giới (9800 loài) [18] và chiếm 34% tổng số loài
chim ghi nhận tại vùng phƣơng Đông (2,586 loài) [8]. Không những đa dạng về
thành phần loài chim, Việt Nam còn là nơi sinh sống của 11 loài chim đặc hữu,
nhiều hơn Thái Lan (2 loài), Mianma (2 loài), Malayxia (2 loài) [10]. Có 40 loài
chim bị đe dọa trên phạm vi toàn cầu, 74 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam [3].
Trong những năm gần đây, một số loài chim mới đã đƣợc phát hiện ở Việt Nam.
Điều này thực sự đã thu hút nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà khoa học và những
khách du lịch quan sát chim đến Việt Nam để khám phá sự đa dạng về thành
phần loài chim, trong đó có nhiều loài quý, hiếm, nhiều loài đặc hữu.

cộng đồng địa phƣơng và khách du lịch tới thành phố Đà Nẵng.
4

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CHIM Ở VIỆT NAM
Nghiên cứu chim ở Việt Nam đã bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XIX,
giai đoạn đầu các nhà Điểu học chủ yếu thu mẫu và định danh dựa trên các đặc
điểm hình thái ngoài khởi đầu với bộ sƣu tập tiêu bản quan trọng đầu tiên của G.
Tirant, trong khoảng thời gian từ 1875-1878, G. Tirant đã thu thập hơn 1000
tiêu bản ở vùng Nam Bộ. Năm 1906, Ogilvie-Grant, đã mô tả loài Khƣớu đầu
xám Garrulax vassali đặc hữu Đông Dƣơng. Một số nhà sƣu tập mẫu khác nhƣ
N. Kuroda thu ở Bắc Bộ năm 1917, C.B. Kloss thu ở cao nguyên Đà Lạt năm
1919 và đã phát hiện ra loài Khƣớu đầu đen má xám Garrulax yersini (EN)
(IUCN 2010), (Nguyễn Cử 1995), (Tordoff 2002) và Khƣớu đầu đen Garrulax
milleti (NT) (IUCN 2010), (Nguyễn Cử 1995), (Tordoff 2002). Từ năm 1923-
1924, H. Steven đã tiến hành sƣu tầm mẫu ở Bắc Bộ. Năm 1931, Kelley-

Trong cuốn sách tổng hợp mới nhất và bổ sung đầy đủ nhất về khu hệ chim
Việt Nam đƣợc trình bày trong cuốn “Danh lục Chim Việt Nam” (Nguyễn Lân
Hùng Sơn và cộng sự 2011) với tổng cộng 887 loài Chim thuộc 20 bộ, 88 họ ở
Việt Nam đƣợc liệt kê với đầy đủ các thông tin. Phần tên loài, bên cạnh tên phổ
thông, tên tiếng Anh, còn nêu tên khoa học đầy đủ của các loài bao gồm cả tên
tác giả và năm công bố. Một số phân loài hiện biết ở Việt Nam cũng đƣợc nêu
dƣới tên loài với tên khoa học đầy đủ bao gồm cả tên tác giả và năm công bố.
Hiện trạng các loài chim ngoài những thông tin đƣợc ghi nhận nhƣ trong các
công bố khoa học, sách trƣớc đây, tài liệu này còn bổ sung một số dẫn liệu mới
liên quan đến vùng phân bố của các loài Chim.
Gần đây nhất, một cuốn sách mới nhất về Chim Việt Nam “Giới thiệu một
số loài chim Việt Nam” của tác giả Lê Mạnh Hùng (2013), giới thiệu hơn 500
loài chim cùng với 840 bức ảnh chụp thực tế ngoài tự nhiên. Đây là tài liệu rất
tốt cho các nhà nghiên cứu khoa học sử dụng trong công tác định danh chim
ngoài thực địa. Nhiều loài chim đặc hữu của Việt Nam cùng với nhiều loài khác
bị đe dọa ở mức cao, đƣợc ghi trong sách đỏ Việt Nam, sách đỏ Châu Á và thế
giới. Tuy nhiên, với các nổ lực không mệt mỏi của các nhà bảo tồn học trong nƣớc
6

và các chƣơng trình quốc tế, chúng ta đã có thể tìm lại đƣợc một số loài đã tƣởng
chừng nhƣ bị mất tích nhƣ:
Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Ngan cánh trắng (Asarcornis
scutulata), Niệc cổ hung (Aceros nipalensis), Quắm cánh xanh (Plegadis
falcinellus), Vạc hoa (Gorsachius magnificus), Mi langbiang (Mi núi bà)
(Crosias langbbianis), Cò Á châu (Ephippiorhynchus asiaticus) và một số loài
khác.
Hiện nay, danh lục chim của nhiều khu BTTN và VQG trong cả nƣớc đã
đƣợc bổ sung và xây dựng, làm cơ sở cho công tác quản lý và bảo vệ. Các loài
chim đƣợc coi là một nhóm trong các nhóm động vật hoang dã quan trọng để
tiến hành một dự án nghiên cứu, đề xuất kế hoạch quản lý và xây dựng khu bảo

thể lại để xác định đƣợc đầy đủ tính đa dạng khu hệ chim của bán đảo Sơn Trà.
1.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.3.1. Vị trí địa lý, địa hình
Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà nằm trong địa bàn phƣờng Thọ Quang –
Quận Sơn Trà – Thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp với vịnh Đà Nẵng, phía Đông
Bắc và Đông Nam giáp với biển đông, Tây Nam giáp với đất liền.
Tọa độ địa lí: 108
0
12’45’’ – 108
0
20’48’’ độ kinh Đông
16
0
05’50’’ – 16
0
09’06’’ độ vĩ Bắc
Dãy núi Sơn Trà dài theo hƣớng Đông Tây, các sƣờn chạy theo hƣớng Bắc
Nam có độ dốc lớn từ 25
0
– 30
0
, sƣờn Đông Bắc dốc hơn sƣờn Tây Nam. Địa
hình của khu BTTN Sơn Trà bị chia cắt mạnh bởi hệ thống kênh suối. Đỉnh cao
nhất bán đảo Sơn Trà là đỉnh ốc cao 696 m so với mực nƣớc biển, tiếp theo là
đỉnh truyền hình cao 647 m so với mực nƣớc biển, đỉnh ba quả cầu cao 621 m
so với mực nƣớc biển, chiều dài 13 km, rộng 7 km bao quanh vịnh Đà Nẵng.
Khu BTTN Sơn Trà có địa hình núi thấp so với độ cao trung bình 350 m do
vậy không có sự phân đai địa hình. Tuy nhiên, với diện tích không lớn lắm trong
khi độ dốc lớn nên quá trình địa mạo chủ yếu do trọng lực, ảnh hƣởng lớn đến
quá trình hình thành lớp phủ thổ nhƣỡng [1].

9

thấp nhất 27
0
C – 29
0
C.
Mùa đông (tháng 9-12): Nhiệt độ trung bình 21
0
C – 23
0
C, thấp nhất 17
0
C –
19
0
C, cao nhất 27
0
C – 29
0
C.
Tổng nhiệt độ năm 9000
0
C .
Bảng 1.1. Nhiệt độ và độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2012.
Tháng
1
2
3
4

1
27,
7
25,9
23,7
22,5
26,2
Độ
ẩm %
84
8
5
8
3
8
3
7
7
7
7
7
7
8
2
8
3
85
88
84
82,3

10
11
12
Tổng
10

Đà
Nẵng
176
0
12,3
56,7
192,
4
177,
1
225,9
560,
2
306,6
875
842,5
107.6
3532,
3
Sơn
Trà
190,
1
0

- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Bao gồm các cơ sở quốc doanh và
một số cơ sở liên doanh. Trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đóng và
sửa chữa tàu thuyền, chế biến gỗ và lâm sản, giày da Các ngành tiểu thủ công
nghiệp đang phát triển nhƣ đan vá lƣới, sản xuất vật liệu xây dựng.
- Thƣơng mại, dịch vụ và du lịch: Trong tình hình hiện nay, do điều kiện hạ
tầng và giao thông đang trong giai đoạn quy hoạch, tƣơng lai không xa, đây
cũng là ngành mũi nhọn kinh tế của quận do có nhiều điều kiện ƣu đãi về tự
nhiên cũng nhƣ chính sách đầu tƣ của thành phố [9].
b. Dân số và nguồn lao động
Trong khu vực khu BTTN Sơn Trà có tổng số 30 cơ quan, đơn vị thuộc
quân đội các ngành khác đóng quân cùng với nhân dân quận Sơn Trà. Dân số
trung bình: 140,741 ngƣời.
11

Mật độ dân số: 2,373 ngƣời/km
2
. (Theo niên giám thống kê thành phố Đà
Nẵng năm 2012).
Lao động có 68.168 ngƣời, trong đó có việc làm 64.003 ngƣời, chƣa có
công ăn việc làm 4.165 ngƣời.
Có thể thấy nguồn lao động của quận ngày càng tăng, vấn đề giải quyết
việc làm cho ngƣời dân giải quyết tƣơng đối tốt, tình trạng thất nghiệp ít, đó
cũng đồng nghĩa với việc ổn định, nâng cao đời sống của ngƣời dân, trật tự an
ninh đƣợc đảm bảo, giảm áp lực của ngƣời dân với khu BTTN Sơn Trà.

chiều tối là hai khoảng thời gian chim hoạt động nhiều nhất, do đó sẽ rất thuận
lợi cho việc khảo sát [21]. Buổi chiều, khảo sát từ 15:30 đến 17:00 và tổng kết
dữ liệu để phục vụ cho công việc nhận dạng loài để lập danh lục thành phần loài
chim.
Từ ngày 15 – 30/9/2014: Nghiên cứu tài liệu, làm quen với việc quan sát
chim tại các cơ sở buôn bán, công viên.
Từ 1 – 15/10/2014: Khảo sát khu vực nghiên cứu, xác định tuyến nghiên
cứu trên các sinh cảnh, các ô tiêu chuẩn. Quan sát chim, chụp ảnh, nhận dạng
qua tiếng kêu.
Từ 15/10/2014 – 17/3/2015: Khảo sát theo tuyến để thu số liệu.
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra nghiên cứu về thành phần và sự đa dạng của các loài chim tại
khu BTTN Sơn Trà (chỉnh lý, bổ sung, xây dựng một danh lục chim đầy đủ và
cập nhật nhất).
- Nghiên cứu sự phân bố các loài chim theo các dạng sinh cảnh khác nhau.
13

2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Phƣơng pháp kế thừa
Thu thập, kế thừa các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm dẫn
liệu cơ sở cho nghiên cứu.
Trƣớc khi tiến hành nghiên cứu chim ngoài thực địa, tìm hiểu các tài liệu
tham khảo về khu vực nghiên cứu, danh lục các loài chim đã đƣợc ghi nhận
trƣớc đây. Tìm các hình ảnh chim ở các sách phân loại có hình ảnh, internet và
nhờ hỗ trợ của chuyên gia trong ngành để xây dựng một thƣ viện hình ảnh chim
cùng với danh pháp khoa học, tên tiếng anh, tên tiếng việt. Sau đó, tập nhận
dạng chim qua ảnh và làm quen với việc nhận dạng chim ngoài tự nhiên trƣớc
khi tiến hành các khảo sát thực địa.
Kế thừa kết quả nghiên cứu của ThS. Trƣơng Quốc Đại “Nghiên cứu đa
dạng thành phần loài và sự phân bố các loài chim ở Khu Bảo tồn thiên nhiên

dài
Tọa độ đầu
tuyến
Tọa độ cuối
tuyến
Rừng tự
nhiên
1
7.3
N16°08'16.5"
E108°14' 06.7"
N16°08'08.2"
E108°15' 37.3"
2
3.5
N16° 07' 17.2"
E108° 14' 54.6"
N16° 07' 58.2"
E108° 15' 19.8"
3
3.7
N16° 07' 43.9"
E108° 16' 01.5"
N16° 07' 10.0"
E108° 17' 30.9"
4
8.0
N16° 07' 00.3"
E108° 16' 58.7"
N16° 06' 37.1"

N16° 07' 51.8"
E108° 18' 25.6"
9
3.2
N16° 08' 04.7"
E108° 17' 15.7"
N16° 08' 37.0"
E108° 16' 12.5"
Tổng
9 15 Hình 2.1. Bản đồ phân bố các tuyến khảo sát trên các sinh cảnh sống khác
nhau
2.3.5. Phƣơng pháp quan sát chim ngoài thiên nhiên
Quan sát
Sử dụng phƣơng pháp khảo sát theo tuyến (đƣờng mòn hoặc cắt tuyến).
Trên tuyến ngƣời quan sát đi bộ chậm kết hợp dùng ống nhòm để quan sát trực
tiếp hoặc nghe tiếng kêu. Thời gian khảo sát buổi sáng từ 5 giờ, buổi chiều từ 15
giờ. Ngoài thực địa, quan sát trực tiếp chim bằng mắt thƣờng khi ta tiếp cận
chim ở cự ly gần. Khi quan sát, ngƣời quan sát cần ngụy trang màu sắc quần áo
phù hợp với màu sắc của môi trƣờng. Khi di chuyển nên đi chậm và chú ý quan
sát, lắng nghe, không gây tiếng động lớn và không nên quan sát đối diện với mặt
trời vì nhƣ vậy sẽ gây lóa mắt quan sát không chính xác. Sử dụng ống nhòm

quan sát thấy có nhiều chim và vào những thời điểm chim xuất hiện nhiều vào sáng
sớm hay chiều tối. Chim bị bắt đƣợc định danh, ghi nhận số lƣợng, chụp ảnh rồi
thả ra [2].
2.3.7. Phƣơng pháp định danh loài chim
Với hệ thống phân loại học, chúng tôi sử dụng Danh lục chim Việt Nam
của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011). Theo chúng tôi các
hệ thống phân loại chim thế giới đã đƣợc Võ Quý, Nguyễn Cử (1995) và
Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Vân (2011) sử dụng để xây dựng Danh
lục chim Việt Nam. Tên khoa học, tên tiếng anh, tên tiếng việt của các loài chim
17

đƣợc lấy theo cuốn Danh lục chim Việt Nam và tham khảo thêm các tài liệu
Danh lục chim Việt Nam trƣớc đó [8], [14], [13].
Danh lục chim của khu vực nghiên cứu đƣợc sắp xếp theo hệ thống phân
loại đƣợc đề xuất bởi Sibley – Ahlquist – Monroe (SAM) đƣợc sử dụng trong
cuốn Danh lục chim thế giới [15] và có điều chỉnh cho phù hợp với một số kết
quả nghiên cứu mới về phân loại chim.
Sử dụng Danh lục Đỏ của IUCN (2014) [23], Sách Đỏ Việt Nam (2007)
[3], Nghị Định 32/2006/NĐ-CP của Chính Phủ [6], Thông tƣ 40/2013/TT-
BNNPTNT về xác định các loài trong Công ƣớc CITES [5] để đánh giá mức độ
bị đe dọa của các loài chim đƣợc ghi nhận trong khu vực nghiên cứu [7].

Hình 2.2. Sơ đồ mô tả hình thái chim (Craig Robson, 2011)
2.3.8. Phƣơng pháp xử lý số liệu

Trích đoạn Sự phân bố chim theo sinh cảnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status