Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lời nói đầu
ây dựng cơ bản là ngành sản xuất tạo cơ sở và tiền đề phát triển cho nền
kinh tế quốc dân. Hàng năm ngành xây dựng cơ bản thu hút gần 30% tổng
số đầu t của cả nớc. Với nguồn vốn đầu t lớn nh vậy cùng với đặc điểm sản xuất
của ngành là thời gian thi công kéo dài và thờng trên quy mô lớn , vấn đề đặt ra
ở đây là làm sao quản lý vốn tốt, có hiệu quả, khắc phục tình trạng thất thoát và
lãng phí trong sản xuất thi công, giảm chi phí giá thành, tăng tính cạnh tranh
cho doanh nghiệp
X
Mặt khác, trong ngành xây dựng cơ bản, việc hạ giá thành sản phẩm còn
tạo ra tiền đề cho các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân cùng hạ giá thành
sản phẩm. Muốn hạ giá thành, doanh nghiệp cần phải tiết kiệm tối đa các chi
phí phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm đó. Song yêu cầu đặt ra là cũng phải
đảm bảo chất lợng. Để đạt đợc điều đó , có rất nhiều biện pháp giảm chi phí đợc
thực hiện một cách đồng bộ trong doanh nghiệp. Một trong những biện pháp đ-
ợc các nhà sản xuất quan tâm là công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí
sản xuất, giá thành sản phẩm nói riêng .
Chi phí sản xuất chính là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm. Vì vậy , nếu
hạch toán chính xác chi phí sản xuất sẽ đảm bảo cho giá thành đợc tính đúng,
tính đủ, kịp thời giúp cho doanh nghiệp tính toán đợc kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đồng thời có những biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí hạ giá thành
sản phẩm , tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp .
Nhận thức đợc vấn đề trên, qua thời gian nghiên cứu lý luận trong trờng
học và thời gian ngắn tìm hiểu công tác hạch toán kế toán tại Công ty xây dựng
số 1 -Tổng công ty xây dựng Hà nội, em đã chọn đề tài : Thực trạng công tác
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty xây dựng số 1. .
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận ra, nội dung chuyên đề gồm 3 phần
sau :
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và các chi phí khác bao gồm các chi phí dự phòng, các yếu tố trợt giá. Dự toán
chi phí bao gồm : dự toán thiết kế, dự toán thi công phải lập cho từng phần công
việc. Trong suốt quá trình xây lắp phải lấy giá dự toán làm thớc đo kể cả về mặt
giá trị lẫn kỹ thuật .
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sản phẩm xây lắp hoàn thành không thể nhập kho mà đợc tiêu thụ ngay
theo giá dự toán hoặc giá đấu thầu đã thoả thuận với đơn vị chủ đầu t từ trớc. Do
vậy, tính chất hàng hoá không đợc thể hiện rõ.
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất và phân bố trên nhiều vùng lãnh
thổ, còn các điều kiện sản xuất nh máy móc, lao động, vật t,..đều phải di chuyển
theo địa điểm của công trình xây lắp. Đặc điểm này đòi hỏi công tác sản xuất có
tính lu động cao và thiếu ổn định. Bên cạnh đó hoạt động xây dựng cơ bản lại đ-
ợc tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hởng của điều kiện thiên nhiên và môi tr-
ờng nh ma, bão, nắng, ẩm,..dễ dẫn đến tình trạng mất mát, h hỏng vì vậy công
tác quản lý, sử dụng và hạch toán vật t, tài sản gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Thời gian sử dụng sản phẩm lâu dài đòi hỏi chất lợng công trình phải đảm
bảo. Đặc điểm này đòi hỏi công tác kế toán phải đợc tổ chức tốt, cho chất lợng
sản phẩm đạt nh dự toán thiết kế, tạo điều kiện cho việc bàn giao công trình, ghi
nhận doanh thu và thu hồi vốn.
Hiện nay ở nớc ta, tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp thờng
theo phơng thức khoán gọn các công trình, hạng mục công trình, khối lợng hoặc
công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (xí nghiệp, đội, tổ ,..).
Trong giá khoán gọn không chỉ có tiền lơng mà bao gồm tất cả các chi phí về
công cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán .
Những đặc điểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm tổ
chức sản xuất và quản lý ngành nói trên phần nào chi phối công tác kế toán
trong các doanh nghiệp xây lắp, dẫn đến những khác biệt nhất định. Ngoài yêu
cầu phản ánh chung của một đơn vị sản xuất ; ghi chép, tính toán đầy đủ chi phí
và giá thành sản phẩm, công tác kế toán còn phải đợc thực hiện phù hợp với
khi mua nguyên vật liệu sử dụng ngay vào sản xuất kinh doanh nhng sẽ không
phải là chi phí nếu mua về nhập kho cha sử dụng ngay trong kỳ .
Chi phí sản xuất xây lắp phát sinh thờng xuyên trong suốt quá trình tồn tại
và sản xuất của doanh nghiệp nhng để phục vụ cho quản lý và hạch toán, chi phí
sản xuất phải đợc tính toán, tập hợp theo từng thời kỳ hàng tháng, hàng quý,
hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Trong đơn vị xây lắp chi phí sản xuất bao
gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối
với từng loại cũng khác nhau. Việc quản lý chi phí sản xuất không chỉ căn cứ
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vào số liệu tổng số chi phí sản xuất mà phải theo dõi, dựa vào số liệu của từng
loại chi phí.
Bởi vậy, muốn tập hợp và quản lý tốt chi phí, tất yếu phải phân loại chi
phi sản xuất.
2. Phân loại chi phí sản xuất.
Trong quá trình sản xuất, việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố chi
phí là hết sức quan trọng. Khi các kế hoạch của doanh nghiệp đặt ra không đợc
thực hiện triệt để hoặc khi doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả sử dụng của
vốn đầu t thì quản trị doanh nghiệp cần phải xác định đợc bộ phận nào không
hiệu quả, bộ phận nào cần mở rộng quy mô để có kế hoạch thu hẹp chi phí hay
tăng cờng các khoản chi phí này. Nh vậy để quản lý tốt, nâng cao hiệu quả sử
dụng chi phí, yêu cầu khách quan đặt ra là phải phân loại chi phí thành từng
nhóm riêng theo những tiêu thức nhất định. Mỗi cách phân loại đều đáp ứng đợc
ít nhiều cho mục đích quản lý và công tác kế toán. Vì vậy, các cách phân loại
này cùng song song tồn tại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định
trong quản lý chi phí sản xuất. Sau đây là một số cách phân loại phổ biến.
a. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố .
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban
đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh,
chi phí đợc phân theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và
sử dụng.
2. Chi phí gián tiếp :
Là những chi phí cho hoạt động tổ chức phục vụ và quản lý, do đó không
tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và cũng không đợc trực tiếp cho từng
đối tợng cụ thể. Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng tong tự nh chi phí trực tiếp
nhng những khoản này chi ra cho hoạt động quản lý doanh nghiệp xây lắp. Do
vậy, để hạch toán khoản chi phí này kế toán phải tiến hành phân bổ cho các đối
tợng liên quan theo các tiêu thức thích hợp .
Cách thức phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa thực tiễn cao đối với
việc xác định phơng pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các
đối tợng liên quan cũng nh việc phân tích chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn đầu t .
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
c. Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục.
Phân loại chi phí sản xuất theo kkoản mục là căn cứ vào mục đích sử
dụng và đặc điểm phát sinh của từng khoản chi phí trong gía thành xây dựng cơ
bản.
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp phát
sinh trong kỳ đợc chia thành các khoản mục sau:
1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp .
Là toàn bộ những chi phí về nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho sản
xuất để cấu thành nên thực thể của công trình xây lắp. Khoản mục này bao gồm
các loại nguyên vật liệu nh : gạch, đá, cát, các cấu kiện bê tông tấm lớn và các
phụ kiện khác. Giá trị của các loại vật liệu kể trên đợc xác định theo giá thực tế,
bao gồm giá mua ghi trên hoá đơn và các khoản chi phí thu mua thực tế phát
sinh nh chi phí vận chuyển, bốc dỡ,
2. Chi phí nhân công trực tiếp : Là toàn bộ tiền lơng chính, lơng phụ, phụ
cấp, tiền thởng của công nhân trực tiếp làm công tác sản xuất xây lắp , công
nhân vận chuyển vật liệu trên công trờng, công nhân tháo ghép cốp pha, dỡ dàn
thời nó cũng tạo điều kiện để xác định mức độ ảnh hởng của các nhân tố khác
nhau và giá thành sản phẩm để phục vụ cho công tác kế hoạch hoá và tính giá
thành sản phẩm.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp phơng pháp, phơng pháp lập
dự toán trong xây dựng cơ bản là dự toán đợc lập cho từng đối tợng xây lắp nên
phơng pháp phân loại chi phí theo khoản mục trở thành phơng pháp đợc sử
dụng phổ biến trong các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp.
III. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm.
1. Khái niệm và bản chất giá thành .
Trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp chi phí chỉ là một mặt thể
hiện sự hao phí. Để đánh giá chất lợng sản xuất kinh doanh thì chi phí phải đợc
xêm trong mối quan hệ chặt chẽ với kết quả sản xuất, đây là mặt cơ bản của quá
trình sản xuất. Quan hệ so sánh đó đã hình thành nên khái niệm giá thành sản
phẩm .
Nh vậy, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá chi ra để tiến hành sản xuất một khối lợng
sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành .
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Giá thành sản phẩm xây lắp là một bộ phận của giá trị sản phẩm xây lắp.
sản phẩm xây lắp có thể là kết cấu công việc hoặc giai đoạn công việc có thiết
kế và dự toán riêng, có thể là hạng mục công trình hoặc công trình toàn bộ. Giá
thành hạng mục công trình hoặc công trình toàn bộ là giá thành sản phẩm của
sản phẩm xây lắp .
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất l-
ợng hoạt động sản xuất, quản lý của doanh nghiệp; kết quả của sử dụng các loại
vật t, tài sản trong quá trình sản xuất cũng nh các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà
doanh nghiệp thực hiện nhằm đạt mục đích sản xuất ra khối lợng sản phẩm
nhiêù nhất với mức chi phí thấp nhất. Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính
toán, xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
vậy, bên cạnh giá thành kế hoạch, giá thành định mức cùng song song tồn tại và
dợc xây dựng trên cơ sở định mức hiện hành tại mỗi giai đoạn sản xuất. điều đó
có ý nghĩa to lớn giúp lãnh đạo doanh nghiệp kịp thời phát hiện sớm để phấn
đấu hạ giá thành.
+ Giá thành thực tế: Giá thành thực tế phản ánh toàn bộ các chi phí thực
tế để hoàn thành, bàn giao khối lợng công tác xây lắp mà doanh nghiệp nhận
thầu. Giá thành này bao gồm các chi phí theo định mức, vợt định mức và các
khoản chi phí phát sinh không có định mức ( nh chi phí do thiệt hại về sản phẩm
hỏng, thiệt hại về ngng sản xuất).
Giá thành thực tế là các khoản chi phí thực tế theo khoản mục quy định
thống nhất cho phép tính vào giá thành. Nó đợc xác định vào cuối thời kỳ kinh
doanh. Việc so sánh giá thành thực tế với dự toán cho phép đánh giá trình độ
quản lý và sử dụng chi phí của doanh nghiệp so với doanh nghiệp xây lắp khác.
Nếu so sánh giá thực tế với giá kế hoạch, ta có thể đánh giá hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất
và trình độ quản lý. Từ đó,đa ra những ý kiến đóng góp cho quản trị doanh
nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, trong lĩnh vực kinh doanh xây lắp, giá thành thực tế đợc báo
cáo theo 2 chỉ tiêu:
Giá thành thực tế khối lợng công tác xây lắp: Là toàn bộ chi phí
thực tế bỏ ra để tiến hành sản xuất một khối lợng công tác xây lắp nhất định th-
ờng là một quý. Chỉ tiêu này đợc xác định vào cuối thời kỳ đó và có tác dụng
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phản ánh kịp thời mức độ giá thành trong thi công để có biện pháp giảm chi phí,
hạ giá thành.
Giá thành thực tế công trình, hạng mục công trình hoàn thành: Bao
gồm toàn bộ các chi phí thực tế bỏ ra để tiến hành thi công công trình, hạng
mục công trình kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành, bàn giao cho chủ đầu t.
Ngoài ra trong xây dựng cơ bản còn sử dụng 2 chỉ tiêu tính giá thành sau:
- Đặc điểm quy trình công nghệ của việc sản xuất sản phẩm (việc sản xuất
sản phẩm là giản đơn hay phức tạp ).
- Loại hình sản xuất sản phẩm ( sản xuất đơn chiếc hay sản xuất hàng
loạt).
- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý (hay yêu cầu quản lý).
- Đối tợng tính giá thành .
- Trình độ nhân viên kế toán.
Trong kinh doanh xây lắp, với tính chất phức tạp của quy trình công nghệ
và loại hình sản xuất đơn chiếc, quá trình sản xuất thờng đợc phân chia thành
nhiều khu vực, bộ phận thi công, các hạng mục khác nhau. Trong đó, mỗi bộ
phận lại có phơng án tổ chức sản xuất khác nhau, mỗi hạng mục công trình có
thiết kế,cấu tạo vật chất và giá thành dự toán riêng. Do vậy, tuỳ thuộc vào từng
công trình cụ thể, trình độ quản lý của từng doanh nghiệp nhất định, đối tợng
hạch toán chi phí sản xuất sản phẩm có thể là:
+ Hạng mục công trình .
+ Đơn đặt hàng.
+ Giai đoạn công việc hoàn thành.
+ Bộ phận thi công.
Trên thực tế, các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thờng tập hợp chi phí
theo công trình hoặc hạng mục công trình .
Việc xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên, cần
thiết và quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định
đúng đối tợng hạch toán, tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù hợp
với đặc điểm tổ chức và sản xuất của doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
công tác kế toán chi phí. Từ khâu hạch toán ban đầu đến tổ chức tài khoản, tổng
hợp số liệu và ghi sổ chi tiết, sổ tổng hợp đều phải luôn luôn bám sát đối tợng
tập hợp chi phí đã xác định.
công tác xây lắp đó .
- Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo các đơn vị hoặc khu vực thi
công.
Phơng pháp này đợc áp dụng khi đối tợng hạch toán chi phí của doanh
nghiệp xây lắp là các bộ phận, khu vực thi công. Theo phơng pháp này, các chi
phí phát sinh trong phạm vi các bộ phận, khu vực thi công lại đợc tập hợp cho
các bộ phận chịu phí nh công trình,hạng mục công trình .
Cuối tháng, tổng số chi phí phát sinh ở từng đơn vị đợc so sánh với dự
toán để xác định kết quả hạch toán kinh tế nội bộ. Khi các công trình, hạng mục
công trình hoàn thành, kế toán tiến hành tính giá bằng các phơng pháp tính giá
thích hợp.
2. Nội dung tính giá thành sản phẩm xây lắp.
a. Xác định đối tợng tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Xác định đối tợng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công
tác tính giá thành sản phẩm của kế toán. Kế toán phải căn cứ vào đặc điểm sản
xuất của doanh nghiệp, tính chất sản xuất và yêu cầu quản lý để xác định đối
tính giá thành một cách thích hợp .
Trong kinh doanh xây lắp, do tính chất sản xuất là đơn chiếc, mỗi sản
phẩm phải có lập dự toán riêng nên đối tợng tính giá thành thông thờng là hạng
mục công trình , toàn bộ công trình hay khối lợng công tác xây lắp hoàn thành.
Xác định đối tợng tính giá thành là cơ sở để kế toán lập phiếu tính giá
thành sản phẩm, tổ chức tính giá thành theo từng đối tợng phục vụ cho việc
kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, xác định hiệu quả sản xuất kinh
doanh để có kế hoạch, biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm. Trong kinh
doanh xây lắp, thời gian sản xuất sản phẩm kéo dài. Do vậy, đối tợng tính giá
thành và đối tợng tập hợp chi phí thờng không thống nhất với nhau. Chúng chỉ
thực sự bằng nhau khi không có giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.
Cùng với việc xác định đối tợng tính giá thành kế toán phải xác định kỳ
tính giá thành sản phẩm xây lắp.
15
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trình ,toàn bộ công trình hoặc khối lợng xây lắp hoàn thành. Do vậy, về cơ bản
có thể dụng các phơng pháp sau:
+ Phơng pháp tính giá thành trực tiếp: Phơng pháp này áp dụng trong tr-
ờng hợp đối tợng tính giá thành phù hợp với đối tợng hạch toán chi phí, kỳ tính
giá thành phù hợp với kỳ báo cáo. Theo phơng pháp này, nếu doanh nghiệp
không có sản phẩm dở dang hoặc sản phẩm dở dang ít và ổn định, không cần
tính giá thành sản phẩm dở dang thì tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ
cho mỗi đối tợng là giá thành thực tế của tính giá đó .
Công thức : Z = C
Trong đó : Z: là giá thành thực tế cuả sản phẩm xây lắp.
C: là tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Trong trờng hợp cuối kỳ có nhiều sản phẩm dở dangvà không ổn định, kế
toán cần đánh giá sản phẩm dở dang theo các phơng pháp thích hợp. Sau đó, xác
định giá thành thực tế của sản phẩm bằng công thức:
Z = Dđk + C - Dck
Trong đó: Z: là giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp.
Dđk: là giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ.
Dck: là giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
C : là tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
+ Phơng pháp tổng cộng chi phí: Phơng pháp này đợc áp dụng trong tr-
ờng hợp doanh nghiệp xây lắp thi công các công trình lớn và phức tạp, quá trình
xây lắp đợc chia ra cho các bộ phận sản xuất khác nhau. Đối tợng tập hợp chi
phí là từng đội sản xuất còn đối tợng tính giá thành là toàn bộ công trình hoàn
thành.Theo phơng pháp này, giá trị công trình đợc xác định bằng cách tính tổng
cộng chi phí sản xuất phát sinh tại từng đội, cộng với giá trị sản phẩm dở dang
đầu kỳ trừ đi giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Công thức :
Z = Dđk + C
thực tế của = định mức
do thay đổi
so với
sản phẩm sản phẩm định mức định mức
Phơng pháp này rất phù hợp với đặc điểm ngành xây lắp, nó đảm bảo cho
việc tính giá thành đợc nhanh chóng, chính xác, kịp thời phát hiện các nguyên
nhân làm tăng giá thành. Tuy nhiên, khi áp dụng phơng pháp này thì phải căn cứ
vào hệ thống của Nhà nớc. Hệ thống định mức này thờng đợc áp dụng trong một
thời gian dài, không sát với thực tế của doanh nghiệp, gây nên sự thiếu chính
xác so với thực tế của việc tính giá thành.
+Phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng : Doanh nghiệp có thể ký
với bên giao thầu hợp đồng nhận thầu thi công bao gồm nhiều công việc khác
nhau mà không cần hạch toán riêng cho từng công việc. Khi đó đối tợng tính
giá thành là đơn đặt hàng. Toàn bộ chi phí thực tế tập hợp riêng cho từng đơn
đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành, toàn bộ chi phí đó chính là giá
thành của đơn đặt hàng đó.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tuy nhiên, để phục vụ cho việc hạch toán nội bộ, ngời ta cũng tính giá
thành của từng hạng mục công trình hay khối lợng công việc trong toàn bộ hợp
đồng. Các hạng mục công trình này tuy cùng một đơn vị thi công, cùng một khu
vực nhng chúng có thể có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau. Để xác định
giá trị thực tế cho từng hạng mục công trình ngời ta phải xác định hệ số phân
bổ theo công thức sau:
Trong đó : H: Hệ số phân bổ.
C: Tổng chi phí tập hợp phải tính vào giá thành.
T
Đối với ngành xây dựng cơ bản việc hạch toán đúng chi phí sản xuất và
tính giá thành càng trở nên quan trọngvà có tính quyết định bởi sự tác động của
các đặc điểm nh: sự biến động của giá cả ở những thời điểm khác nhau, nhu cầu
nhân công, nhu cầu xây dựng cơ bản khác nhau,.. Thông qua chỉ tiêu giá thành
công tác xây lắp ta có thể xác định đợc kết quả của quá trình sản xuất kinh
doanh, thúc đẩy sự sáng tạo, tìm tòi phơng án giải quyết công việc có hiệu quả.
Việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là một nhiệm vụ quan trọng trong công
tác xây lắp: nhằm tăng mức lãi, mặt khác còn giải quyết mối quan hệ về lợi ích
giữa Nhà nớc, doanh nghiệp và cá nhân ngời lao động.
Bên cạnh đó, giá thành sản phẩm còn phản ánh chất lợng xây dựng của
doanh nghiệp nh : trình độ kỹ thuật thi công, trình độ tổ chức sản xuất thi công,
tình hình sử dụng lao động, vật liệu, thiết bị, khả năng sử dụng vốn đầu t trong
công tác xây lắp và kiểm tra việc chấp hành chế độ chính sách của Nhà nớc tại
doanh nghiệp. Từ đó có thể đổi mới chế độ chính sách của Nhà nớc cho phù
hợp.
Do đó, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có một vai
trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và trong kinh
doanh xây lắp nói riêng.
2. Yêu cầu và nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành.
a. Yêu cầu.
Hạch toán chi phí sản xuất và tình giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp
nắm chắc đợc việc thực hiện các định mức lao động, vật t, tiền vốn, sử dụng
máy, các chi phí khác cho từng hạng mục công trình theo từng giai đoạn, không
ngừng nâng cao chất lợng sản xuất kinh doanh.
Muốn đạt hiệu quả nh vậy, việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp phải đạt đợc những yêu cầu sau:
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
_ Phản ánh kịp thời, chính xác toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong quá
trình sản xuất.Tính toán chính xác, phân bổ kịp thời giá thành xây lắp theo đối t-
phẩm.
Hoạt động kinh doanh xây lắp là sự thống nhất hai mặt của một quá trình.
Trong đó chi phí thể hiện mặt hao phí sản xuất và giá thành thể hiện mặt kết quả
sản xuất. Chúng đều là biểu hiện bằng tiền của các lao động sống và lao động
vật hoá. Nh vậy về bản chất chi phí và giá thành là giống nhau. Nhng xét về các
mặt khác, chúng lại không có sự thống nhất với nhau:
- Về lợng: Trong giá thành bao gồm cả chi phí phát sinh ở kỳ trớc và loại
trừ chi phí ở kỳ này chuyển sang giá thành kỳ sau.
_ Về thời gian: Trong giá thành, các khoản chi phí phát sinh ở kỳ trớc lại
đợc tính vào giá thành kỳ này, có những chi phí ở kỳ này nhng không đợc tính
vào giá thành kỳ này mà chyển sang kỳ sau.
Có thể phản ánh mối quan hệ giữa chi phí và giá thành sản phẩm qua sơ
đồ sau:
CPSX dở dang đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ
A B C
D
Tổng giá thành sản phẩm xây lắp CPSX dd cuối kỳ
Qua sơ đồ ta thấy AC = AB + BD - CD
Tổng giá Chi phí Chi phí Chi phí
thành sản = sản xuất + sản xuất phát - sản xuất
phẩm dd đầu kỳ sinh trong kỳ dd cuối kỳ
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Với yêu cầu công tác quản trị trong doanh nghiệp, việc tính đúng,
tính đủ chi phí sản xuất có vai trò quan trọng trong việc tính đúng, tính đủ giá
thành sản phẩm. Do đó trong xây dựng cơ bản muốn tính đúng giá thành xây lắp
phải kết hợp với việc hạch toán chính xác, kịp thời các chi phí phát sinh theo đối
tợng chịu chi phí cụ thể.
Hạch toán chi phí sản xuất dù đầy đủ và chi tiết đến đâu cũng chỉ phản
sau:
- Bớc 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng công
trình, hạng mục công trình .
- Bớc 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh
phụ có liên quan trực tiếp cho từng công trình,hạng mục công trình trên cơ sở
khối lợng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ.
_ Bớc 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình,
có liên quan theo tiêu thức thích hợp.
_ Bớc 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ .
2. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
a. Tài khoản sử dụng.
Để theo dõi khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán dử dụng
tài khoản 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
-Nội dung : Phản ánh các chi phí nguyên, vật liệu phát sinh liên quan trực
tiếp đến việc xây dựng hay lắp đặt các công trình.
-Bên nợ : Phản ánh giá trị nguyên vật liệu thực tế xuất dùng cho thi công
công trình, hạng mục công trình .
-Bên có : Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào tài khoản 154.
Tài khoản 621 cuối kỳ không có số d. Tài khoản này đợc mở chi tiết cho
từng đối tợng.
b. Phơng pháp hạch toán .
Chi phí nguyên , vật liệu trực tiếp bao gồm giá thực tế của toàn bộ vật liệu
chính, các cấu kiện, bộ phận rời lẻ (trừ vật liệu dùng cho máy thi công) dùng
cho việc xây dựng, lắp đặt các công trình. Vật liệu sử dụng cho công trình, hạng
mục công trình nào thì tính cho công trình, hạng mục công trình đó. Trờng hợp
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
không tính riêng đợc thì phải phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình
theo định mức tiêu hao, theo khối lợng thực hiện.
Khi xuất kho vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp, ghi: