ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
…..….00…&…00……..
MÔN VĂN HÓA NÔNG THÔN VIỆT NAM
TỂU LUẬN:
BÀN THỜ GIA TIÊN TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN KHU VỰC
NAM BỘ
Sinh viên: Ngô Thị Ngân
MSSV: 0856140040
STT:
TP Hồ Chí Minh ngày 2, tháng 4, năm 2011.
1
Mục lục
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ......... Error: Reference
source not found
1.Sơ lược về bàn thờ gia tiên ... Error: Reference source not found
a.Nguồn gốc xuất hiện ............ Error: Reference source not found
b.Quan niệm về bàn thờ gia tiên ........ Error: Reference source not
found
2.Sơ lược về khu vực Nam Bộ Error: Reference source not found
a.Tự nhiên và tính cách con người Nam Bộ ...... Error: Reference
source not found
b.Truyền thống Cách Mạng .... Error: Reference source not found
c.Giao lưu văn hóa mạnh mẽ ... Error: Reference source not found
CHƯƠNG II: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA BÀN THỜ GIA
TIÊN TRONG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN KHU VỰC NAM BỘ
................................................ Error: Reference source not found
1.Quan niệm về bàn thờ gia tiên của người dân ở nông thôn
Nam Bộ ................................... Error: Reference source not found
2.Vị trí, cách trang trí, trưng bày bàn thờ gia tiên của các gia
nên người Việt tổ chức lập bàn thờ với quan niệm đó là nơi mà vong hồn
người chết luôn ngự trị để gần gũi với con cháu, theo dõi mọi công việc
hằng ngày, giúp đỡ, phù hộ con cháu trong những trường hợp cần thiết.
Xét cho cùng thì bàn thờ gia tiên của người Việt ra đời gắn chặt với tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên và truyền thống về ý thức cội nguồn của dân tộc.
b. Quan niệm về bàn thờ gia tiên
Theo truyền thống của người Việt thì gia đình nào cũng có bàn thờ
để thờ cúng tổ tiên, ông bà. Đó là một nét trong văn hóa tâm linh truyền
thống của dân tộc. Tùy vào mỗi gia đình nghèo khó hay giàu có bàn thờ
và các đồ thờ khác nhau. Tuy nhiên nhất thiết bàn thờ phải luôn được đặt
ở vị trí trang trọng nhất của gia đình, có độ cao thích hợp để khi cúng mọi
người có thể tỏ được sự ngưỡng vọng, thành kính của mình đối với tổ
tiên.
Vì là nơi thiêng liêng nên bàn thờ phải luôn giữ được sự trong sạch,
sạch sẽ và luôn được bày trí những lễ vật cần thiết như lư hương, đèn,…
Hằng ngày bàn thờ phải được lau chùi sạch sẽ. Thậm chí còn có những
kiêng kỵ rất khắc khe như không được kê giường ngủ ở trước bàn thờ,
không được để bàn thờ hướng thẳng ra đường ( nếu trong trường hợp bắt
buộc phải có bình phong để che chắn), phụ nữ đến kì kinh nguyệt không
được qua lại bàn thờ,… Và trong bất kì hoàn cảnh nào, dù túng thiếu đến
mấy người ta cũng không đem cầm cố hay bán đồ thờ.
Bàn thờ của người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Phật và tín
ngưỡng dân gian, vì thế ở hai bên của chiếc đỉnh được bày theo cách “
Đông bình , Tây quả”, có nghĩa là bên trái của đỉnh thường chỉ đặt một
chiếc bình không (độc bình). Những người theo đạo Phật cho rằng đây
không chỉ là điểm nhấn nghệ thuật trên bàn thờ mà ý nghĩa Phật triết của
nó còn cao hơn, đó chính là tượng trưng cho triết lí “tâm không” của nhà
Phật với ngụ ý nói lên cái “bản thể chân như” là cốt lõi chung của muôn
4
loài, muôn vật. Còn phía bên phải của chiếc đỉnh đồng thường để một
hết là để trình bày sự kiện sau là để xin sự phù hộ của ông bà.
Bàn thờ của mooic gia đình không thể thiếu bát hương, vì họ quan
niệm vieech thắp hương tỏa ra khói sẽ là chiếc cầu trung gian để kết nối
giữa cuộc sống trần tục với linh hồn những người đã khuất ở cõi âm.
Việc thắp hương trên bàn thờ bao giờ cũng được thắp theo số lẻ 1, 3, 5,7,
…mà tránh thắp theo số chẵn vì họ cho rằng số lẽ là âm sẽ phù hợp với
cõi âm. Thắp hương cũng đòi hỏi phải có cách thức phù hợp, hương thắp
phải thật thẳng,tránh để nghiêng, tránh để hương tắt,…
2. Sơ lược về khu vực Nam Bộ
a. Tự nhiên và tính cách con người Nam Bộ
Vùng đất Nam Bộ ngày nay đã từng tồn tại một cơ tầng văn
hóa cổ một thời khá huy hoàng nhưng rồi đã bị sụp đổ và hầu như tàn
lụi hết. Mãi cho đến thế kỉ thứ 17 những lưu dân từ miền Bắc và miền
Trung (chủ yếu là vùng Thuận Quảng) đến khai phá để tìm đất sống
mới tạo ra được những thành quả như ngày hôm nay.
Trước khi những lưu dân đến khai phá thì vào cuối thế kỉ 16
Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất hoang vu, hiểm trở nhưng cũng rất
màu mỡ, giàu tài nguyên, môi trường thoáng mở, tự do và khoáng
đãng.
Là vùng đất “mới” đầy hoang sơ, hiểm trở với nguồn gốc thành
phần cư dân đa dạng, phức tạp, dễ đến, dễ đi. Như vậy nên tính cách
con người Nam Bộ cũng trở nên rất đặc trưng với tính trọng nghĩa
khinh tài, bao dung, cởi mở, dễ chấp nhận cho nhau. Vì họ biết rằng
giữa không gian đầy rẫy nguy hiểm này mà một mình thì khó thoát
khỏi cái chết, thế nên họ phải dựa vào nhau, giúp đỡ nhau mà sống .
Là những lưu dân đi tìm sự sống tròn muôn vàn cái chết, vốn là
những người bị lưu đày, khốn cùng nên khi đến với mảnh đất này một
6