tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nông thôn miền đông nam bộ hiện nay - Pdf 24


TRANG THÔNG TIN LUẬN ÁN - Tên đề tài: “TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NÔNG
THÔN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ HIỆN NAY”
- Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
- Mã số: 62.31.01.01
- Họ và tên NCS: Võ Trọng Đường
- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hồ Trọng Viện
- Cơ sở đào tạo Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia Tp. HCM

NHỮNG KẾT QUẢ MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đã có nhiều nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội,
nhưng đề tài nghiên cứu này đã bổ sung thêm những điểm mới về tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nông thôn miền Đông Nam bộ trong
phát triển kinh tế xã hội. Điều đó được thể hiện qua những điểm sau:
- Trên cơ sở lý luận của các tác giả trong và ngoài nước, đề tài đưa ra
khái niệm về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nông thôn theo quan
điểm riêng.
- Đưa những tiêu chí đánh giá hiệu quả của sự kết hợp giữa tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội nói chung và trên địa bàn nông thôn nói
riêng.
- Phân tích những động thái về tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và
những kết quả phản ánh sự kết hợp mang tính đặc thù giữa chúng trên địa
bàn nông thôn miền Đông Nam bộ hiện nay.
- Chỉ ra được những mâu thuẫn, bất cập hiện đang diễn ra trong việc
thực hiện sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nông
thôn miển Đông Nam bộ. Trên cơ sở đó, định ra được những quan điểm, mục
tiêu và các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội đều nhằm vào phục vụ sự phát triển của con người. Đây vừa là mục
tiêu, vừa là điều kiện, động lực để hiện thực hóa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội. Thực tiễn của Việt Nam hơn hai mươi năm Đổi mới cho thấy,
phát triển thể chế kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa ở nước ta là
sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn. Nhờ vậy, kinh tế xã hội nước ta đã vươn tới
những thành tựu có ý nghóa to lớn. Nhưng bên cạnh đó, xã hội cũng đang đặt
ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải giải quyết. Tăng trưởng kinh tế thiếu ổn đònh,
bất bình đẳng xã hội gia tăng, môi trường bò tàn phá cực kỳ nghiêm trọng…
Điều này đe dọa triệt tiêu động lực phát triển, gây mất ổn đònh xã hội. Tiêu
điểm là ở nông thôn, nơi vấn đề bộc lộ vừa rõ nét, vừa điển hình.
Nông thôn miền Đông Nam bộ có vai trò rất quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế xã hội của vùng và của cả nước. Trong hai cuộc kháng
chiến vó đại của dân tộc, nơi đây đã viết nên những trang sử vẻ vang.
Phát huy truyền thống đó, nông thôn miền Đông Nam bộ đang là động
lực mạnh mẽ của sự phát triển vùng và cả nước. Tuy nhiên, kinh tế xã
hội nông thôn miền Đông Nam bộ cũng đang đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức. Đây là những vấn đề vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách
trước mắt phải tháo gỡ để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội (KTXH).
Xuất phát từ những lý do trên, với tinh thần nghiên cứu, kế thừa và
chọn lọc có phê phán những tinh hoa lý luận của chủ nghóa Mác Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là
2

các tri thức của kinh tế học hiện đại, tác giả chọn đề tài “Tăng trưởng
kinh tế và công xã hội ở nông thôn miền Đông Nam bộ hiện nay” làm
luận án tiến sỹ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu: Cho đến nay, vấn đề tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn quốc gia nghiên cứu về: “Phân
hoá giàu nghèo trong nền kinh tế thò trường Nhật bản từ 1945 đến nay”.

thực trạng vấn đề này ở nông thôn miền Đông Nam bộ, từ đó đề xuất
các quan điểm và giải pháp giải quyết mối quan hệ này trong quá trình
phát triển.
3.2. Nhiệm vụ của luận án: Một là: làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn về tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội trong phát triển
kinh tế thò trường và sự biểu hiện ở nông thôn. Hai là: phân tích thực
trạng tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nông thôn miền Đông
Nam bộ hiện nay, chỉ ra những mâu thuẫn và vấn đề đang nẩy sinh từ
thực tiễn này. Ba là: đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm thúc
đẩy sự kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nông thôn
trên đòa bàn trong thời gian tới và tầm nhìn đến năm 2020.

(1)
Đảng Cộâng sản Việt Nam, 2008, Văn kiện Hội nghò lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa X,
Nxb. CTQG, HN
(2)
Cục Thống kê Đồng Nai, 2007, Thực trạng mức sống phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng ở Đồng Nai
năm 2006,
4

4. Giới hạn của luận án: Về thời gian: Luận án nghiên cứu vấn đề
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nông thôn vùng Đông Nam
bộ trong công cuộc Đổi mới từ Đại hội VI. Đặc biệt, giai đoạn từ 2000
lại nay. Về không gian: luận án nghiên cứu vấn đề trên đòa bàn nông
thôn các tỉnh, thành Đông Nam bộ, gồm: Đồng Nai, Bà Ròa - Vũng Tàu,
Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Tp. Hồ Chí Minh.
5. Cơ sở lý luận - thực tiễn của luận án và phương pháp nghiên
cứu: Cơ sở lý luận của luận án: là chủ nghóa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong
công cuộc Đổi mới hiện nay. Đồng thời, kế thừa những tri thức, thành

1.1. Bản chất, vai trò của tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
hội trong phát triển kinh tế xã hội
1.1.1. Những nhận thức cơ bản về tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội trong phát triển kinh tế xã hội: Trong phần này, luận án
phân tích và làm rõ các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển
kinh tế, phát triển bền vững cùng với các tiêu chí, thước đo cụ thể theo
quan niệm của kinh tế học hiện đại. Tăng trưởng kinh tế là “sự tăng
6

thêm về quy mô, sản lượng sản phẩm hàng hoá dòch vụ trong một thời
kỳ nhất đònh (thường là một năm)”
(1)
. Phát triển kinh tế (PTKT) là sự
tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất đònh, thể hiện
ở tốc độ tăng trưởng mặt kinh tế cao và ổn đònh, sự chuyển dòch cơ cấu
KTXH theo hướng tiến bộ và chất lượng cuộc của nhân dâân được nâng
lên. Nhân loại cũng đã từ nhận thức PTKT chuyển sang phát triển bền
vững (PTBV). Tiêu chí để đánh giá PTBV là: sự tăng trưởng kinh tế ổn
đònh; thực hiện tốt công bằng và tiến bộ xã hội; khai thác, sử dụng hợp
lý, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Để đo lường sản lượng của nền kinh tế, kinh tế học hiện đại thường
sử dụng các đại lượng tổng sản phẩm quốc nội (GDP: Gross Domestic
Product) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP: Gross National Product hay
GNI: Gross National Icom). Để đònh lượng tăng trưởng kinh tế, người ta
sử dụng các chỉ số sau: 1/ quy mô tăng trưởng tuyệt đối GDP hay GNP
của quốc gia và theo bình quân đầu người; 2/ Tốc độ tăng trưởng kinh tế
( mức tăng trưởng tương đối) GDP hay GNP của năm n với năm gốc (0);
3/ Tốc độ tăng trưởng hàng năm: so sánh tốc độ tăng trưởng của năm
sau so với năm liền kề; 4/ Tốc độ tăng trưởng kinh tế (mức tăng trưởng
tương đối) GDP hay GNP tính theo bình quân đầu người. Còn các chỉ số

trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội ở nông thôn vẫn phải sử
dụng những tiêu chí, chuẩn mực chung của xã hội. Tuy nhiên, cần có
thêm một số tiêu chí khác, phù hợp với đặc thù của đòa bàn nông thôn.
8

Luận án cũng đưa ra và phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với công bằng xã hội. Chúng vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với
nhau. Đã có ba mô hình kết hợp tiêu biểu giữa chúng trong phát triển
kinh tế thò trường. Một là, ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế trước, giải
quyết vấn đề công bằng xã hội sau. Hai là, ưu tiên cho công bằng xã
hội trước, phân phối trước, giải quyết tăng trưởng sau. Ba là, kết hợp
tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội trong quá trình phát triển.
Luận án cũng đề cập và phân tích giải quyết vấn đề theo tư tưởng của
Chủ tòch Hồ Chí Minh và vai trò của nhà nước trong quá trình kết hợp.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của việc kết hợp tăng trưởng kinh
tế với công bằng xã hội trong phát triển kinh tế xã hội: Ở nước ta
hiện nay, kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trở
thành nguyên lý vận hành tạo động lực cho sự phát triển. Sự kết hợp hài
hòa đó còn tạo sự thống nhất giữa mục tiêu và phương tiện để phát triển
bền vững. Tăng trưởng kinh tế thì mới có điều kiện vật chất cần thiết để
thúc đẩy sản xuất và đời sống xã hội. Bảo đảm công bằng xã hội, mới
giải phóng được nguồn lực phát triển quan trọng nhất là con người. Xét
cho cùng, con người là chủ thể của mọi quá trình kinh tế xã hội, vừa là
mục tiêu và là động lực của sự phát triển.
Gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội nhằm thực hiện mối
quan hệ giữa mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội, giữa lợi ích vật chất
với lợi ích về văn hóa và tinh thần của nhân dân. Theo đó, giải quyết
mục tiêu kinh tế gắn với mục tiêu xã hội, tạo tiền đề và điều kiện vật
chất cho việc giải quyết mục tiêu xã hội ngay trong từng bước và từng
9

trong phát triển: Bằng việc phân tích vai trò, vò trí của nông thôn, nông
nghiệp, nông dân, luận án đề cập đến ý nghóa và tầm quan trọng của
vấn đề kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trên đòa bàn
nông thôn với các tiêu chí của nó. Ngày nay, nông thôn vẫn đang là cái
nôi nuôi dưỡng những giá trò vật chất, văn hoá của cả đất nước, khắc
họa bản sắc dân tộc về văn hóa, tinh thần và lòch sử. Đây còn là vấn đề
gắn với trật tự xã hội, an ninh quốc phòng. Nông nghiệp, nông thôn đã
và đang đóng vai trò cực kỳ trọng yếu đối với sự ổn đònh và phát triển
kinh tế xã hội.
Luận án cũng đề cập tới những tư tưởng, quan điểm của C. Mác,
Ph. ngghen về nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Hai ông cho rằng,
cần kết hợp nông nghiệp với công nghiệp và các biện pháp khác sẽ làm
mất dần sự khác biệt giữa thành thò và nông thôn”
(1).
Còn trong Chính
sách kinh tế mới, V.I. Lênin đã lựa chọn “thuế lương thực” làm khâu
đột phá. Người cho rằng, muốn vượt qua khủng hoảng và ổn đònh được
tình hình KTXH nước Nga lúc bấy giờ thì: “phải bắt đầu từ nông dân”
(2). (1)
C. Mác và ngghen, 1998, Nxb CTQG, HN. tr. 128
(2)
V. I. Lênin, 1978, toàn tập, tập 43, Nxb. Tiến bộ Mat-xcơ- va, tr. 263.

11

Kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trên đòa bàn
nông thôn miền Đông Nam bộ có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc.

Quốc); bất cập về năng lực phẩm chất đội ngũ cán bộ, về quản lý nhà
nước và dân chủ xã hội (nhiều nước)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội nói chung và trên đòa bàn
nông thôn nói riêng được phản ánh bởi một hệ thống khái niệm và
phạm trù liên quan. Các khái niệm này được nhận thức đầy đủ hơn cả
về đònh tính và đònh lượng. Tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã
hội ở nông thôn có ý nghóa to lớn, trở thành yêu cầu cấp thiết và phản
ánh quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn.
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên các đòa bàn nông
thôn nói chung và biểu hiện ở nông thôn miền Đông Nam bộ nói riêng
được phản ánh bởi những chuẩn mực xác đònh. Bên cạnh những chuẩn
mực chung, còn là những chuẩn mực mang tính đặc thù cho đòa bàn.
Chúng được phản ánh thông qua nhiều tiêu chí và chòu ảnh hưởng của
nhiều biến số kinh tế xã hội khác nhau.
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên đòa bàn nông thôn
dù ở nước ta hay ở nhiều nước khác đều có những nét chung phổ quát.
13

sự biến đổi kinh tế xã hội nông thôn thường chậm hơn khu vực thành thò.
Đòa bàn nông thôn gặp nhiều khó khăn hơn trong tìm hướng đi lên,
mang tính đặc thù cao theo cộng đồng dân tộc, tôn giáo và đòa bàn cư
trú… Nhiều vấn đề kinh tế xã hội bức xúc là khá giống nhau. Vì thế,
việc tham khảo kinh nghiệm của các dân tộc khác trên thế giới, như của
Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản… là rất cần thiết.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ø,
CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1. Những điều kiện tự nhiên, xã hội có ảnh hưởng tới tăng trưởng
kinh tế và công bằng xã hội ở nông thôn miền Đông Nam bộ

nói chung, của công nghiệp nông thôn, nông nghiệp- thương mại dòch
vụ… phản ánh về quy mô kinh tế nông thôn. Các số liệu về diện tích,
năng suất, sản lượng các loại cây công nghiệp có giá trò cao, như: cao
su, cà phê, tiêu, điều, mía, các nông sản và thu nhập từ các hoạt động
kinh tế khác nói lên điều đó.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế nông thôn trong vùng được tập
trung làm nổi bật thêm ở sự biến đổi về cơ cấu ngành nghề theo tỷ
15

trọng, theo số hộ trong nông nghiệp, nông thôn, sự gia tăng về thu nhập
của người dân nông thôn, của từng đòa phương theo từng giai đoạn qua
các bảng biểu. Đó còn là sự chuyển dòch mạnh cơ cấu kinh tế nông thôn
theo hướng CNH, HĐH. Khảo sát thực tiễn trên cho thấy, nhiều năm
qua tăng trưởng và phát triển kinh tế nông thôn miền Đông Nam bộ đạt
quy mô và tốc độ cao nhất khi so với trước đây và với nông thôn các
vùng khác trong cả nước. Sản xuất và đời sống của người dân nông thôn
miền Đông Nam bộ đạt được nhiều thành tựu có ý nghóa to lớn, thực sự
thay đổi về chất, ngày càng tốt hơn.
2.2.2. Những động thái về mặt công bằng xã hội ở nông thôn
miền Đông Nam bộ: Luận án tập trung phân tích làm rõ mặt tiến bộ và
công bằng xã hội ở nông thôn miền Đông Nam bộ thông qua nhiều mặt.
Cụ thể là: các cơ hội, điều kiện tiếp cận với các nguồn lực phát triển
của người dân nông thôn, mức sống, thu nhập, chi tiêu, tài sản và các
tiện nghi sinh hoạt gia đình của người dân nông thôn đáp ứng ngày càng
tốt hơn, thể hiện rõ về tiến bộ, công bằng và bình đẳûng xã hội.
Nếu xếp các chỉ tiêu về 1/ Thu nhập bình quân đầu người; 2/ GDP
bình quân đầu người; 3/ Chỉ số HDI của nông thôn miền Đông Nam bộ
giai đoạn từ năm 2002-2008 đứng ở vò trí thứ 1, thì về chỉ tiêu thu nhập
bình quân đầu người của đồng bằng sông Cửu Long vò trí thứ 2, đồng
bằng sông Hồng thứ 3, Bắc Trung bộ thứ 7 và Tây Bắc thứ 8. Về chỉ

nông thôn tiếp cận được nhiều hơn các vùng khác, đối tượng khác.
Luận án đi sâu phân tích thu nhập, mức sống của người dân nông
thôn trong tương quan so sánh với thành thò của từng đòa phương miền
Đông Nam bộ cho thấy kết quả nổi bật về tăng trưởng kinh tế trên đòa
bàn. Mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở nông thôn miền
Đông Nam bộ hiện nằm trong mức độ chấp nhận được. Việc phát triển
mạnh các khu kinh tế cửa khẩu(Mộc Bài, Xa Mát, Hoa Lư) đã tạo thế
phát triển toàn diện hơn giữa vùng biên giói với nội đòa, kéo giảm sự
chênh lệch cách biệt của các đòa phương miền Đông Nam bộ. Với số
liệu phong phú qua 20 bảng, biểu đồ, sự phân tích trên phản ánh kết quả
kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trên đòa bàn. Bên
cạnh đó, luận án cũng chỉ ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan
của thực trạng trên.
2.4. Những hạn chế trong việc thực hiện kết hợp tăng trưởng
kinh tế với công bằng xã hội ở nông thôn miền Đông Nam bộ và
nguyên nhân: Thực hiện tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở
nông thôn miền Đông Nam bộ còn gặp nhiều hạn chế. Đó là: sự gắn kết
giữa chúng hiệu quả chưa cao, kết quả chưa đồng đều; sản xuất và kinh
doanh của người dân nông thôn còn chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn,
khó lường; gía cả không ổn đònh, chưa gắn kết giữa sản xuất và lưu
thông; sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thò trường thấp; các
điều kiện sống và cơ hội vươn lên cho cư dân nông thôn ở các đòa
phương rất khác nhau. Bên cạnh đó là, môi trường bò tổn hại nặng nề
18

gắn với sự phát triển của công nghiệp, đô thò. Bất bình đẳng về thu nhập
ở nông thôn diễn biến phức tạp.
Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân. Về khách quan: nông
thôn một số đòa phương trong vùng có vò trí đòa lý và điều kiện tự nhiên
chưa thuận lợi; những tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế hiện hành;

nông thôn, tiến bộ và công bằng xã hội: từ chuyển dòch kinh tế nhanh
đến tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn thấp nhất, chỉ số HDI, hệ số Gini, cơ hội
vươn lên của người dân nông thôn.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội ở nông thôn vùng Đông Nam bộ cũng đang diễn ra
không ít những mặt tồn tại, hạn chế. Luận án cũng đưa ra và phân tích
nguyên nhân của cả những thành tựu và hạn chế, dưới góc độ khách
quan và chủ quan. Từ đó chỉ ra những mâu thuẫn và bất cập đang kìm
hãm sự phát triển, sự gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội ở nông thôn trên đòa bàn. Bao gồm: sự lệch lạc về nhận
thức; bất cập về cơ chế chính sách; về cán bộ; các nguồn lực và thế
mạnh chưa phát huy cao nhất; sự tụt hậu của nông nghiệp và thiếu ổn
đònh của đời sống dân cư nông thôn; mâu thuẫn và xung đột về lợi ích
giữa các chủ thể trên đòa bàn.
20

CHƯƠNG 3 : QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU ĐỂ KẾT HP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÔNG
BẰNG XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
3.1. Quan điểm, mục tiêu kết hợp tăng trưởng kinh tế với công
bằng xã hội ở nông thôn miền Đông Nam bộ hiện nay
3.1.1. Các quan điểm kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội ở nông thôn miền Đông Nam bộ giai đọan trước mắt và tầm
nhìn đến năm 2020: Một là: kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội nhằm từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh ở nông thôn. Hai là: đẩy mạnh quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên đòa bàn và giải quyết đồng bộ
vấn đề “tam nông”. Ba là: kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội
trong phát triển thể chế kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa,
khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng, đồng thời đẩy mạnh công

bàn nông thôn, trong đó lợi ích của người nông dân phải được đặt lên
hàng đầu.
3.2.3. Nhóm những giải pháp cụ thể Một là: tập trung giải quyết
những vấn đề kinh tế xã hội bức xúc ở nông thôn gắn với phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, kiện toàn hệ thống chính trò và dân chủ
22

hoá xã hội. Hai là: thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển giao các tiến bộ kỹ
thuật, công nghệ gắn với các chương trình đào tạo, dạy nghề rộng rãi
cho lao động nông thôn. Ba là: xây dựng mô hình và thúc đẩy sự hợp tác
có hiệu quả liên kết kinh tế giữa bốn nhà: nhà nông, nhà doanh nghiệp,
nhà khoa học và nhà nước. Bốn là: chú trọng phát triển kinh tế tập thể ở
nông thôn thông qua việc xác đònh mô hình, hướng đi có hiệu quả để
kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước làm tốt vai trò nền tảng. Năm là:
nâng tầm công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn theo cả chiều
rộng, chiều sâu và tính bền vững của quá trình. Sáu là: xây dựng đời
sống văn hoá lành mạnh và mô hình nông thôn mới gắn với việc thực
hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở ở nông thôn. Bảy là: đẩy mạnh truyền
thông và nâng cao hiệu quả công tác dân số kế hoạch hoá gia đình ở
nông thôn miền Đông Nam bộ. Tám là: đầu tư cho nhân tố con người
thông qua các chương trình về giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội ở nông
thôn. Chín là: tổng kết thực tiễn, phổ biến kinh nghiệm, nhân rộng các
điển hình sáng tạo của người dân ở nông thôn trong phát triển KTXH.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Đểå tăng trưởng kinh tế kết hợp với công bằng xã hội trên đòa bàn
nông thôn miền Đông Nam bộ, cần xác lập các quan điểm, mục tiêu và
lựa chọn được các giải pháp phù hợp. Đây là lónh vực, đòa bàn, đối
tượng mang tính đặc thù cao và rất phức tạp. Nên những quan điểm,
mục tiêu, giải pháp đó phải toàn diện với tư cách là một hệ thống gắn
kết hữu cơ mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status