Quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân ở Nghệ An - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐẶNG THỊ THANH
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC
KINH TẾ TƢ NHÂN Ở NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2014

Hà Nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình do chính tôi nghiên
cứu và soạn thảo. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng. Nếu có bất kỳ một sự vi phạm nào, tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên. TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Thị Thanh

2.2.1. Ban hành và thực hiện chính sách ƣu đãi đối với doanh nghiệp tƣ nhân
2.2.2. Tổ chức và hƣớng dẫn các chủ doanh nghiệp đăng ký kinh doanh 377
2.2.3. Tổ chức đào tạo, bồi dƣỡng nghiệp vụ nâng cao năng lực quản lý cho
chủ doanh nghiệp. 388
2.2.4. Phối hợp và kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan quản lý Nhà nƣớc đối
với DN 399
2.2.5.Một số kết quả chủ yếu về phát triển DNTN ở Nghệ An 2007-2013 .40
2.3 Đánh giá hoạt động quản lý Nhà nƣớc đối với KTTN ở Nghệ An 466
2.3.1. Những thành tựu cơ bản 466
2.3.2 Một số tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý Nhà nƣớc đối với khu vực
KTTN và nguyên nhân 51
2.3.3. Một số vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nƣớc đối với khu vực KTTN ở
Nghệ An hiện nay 566
CHƢƠNG 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ TƢ NHÂN Ở NGHỆ AN ĐẾN
NĂM 2020………………………………………………………………… 588
3.1. Cơ hội, thách thức đối với kinh tế tƣ nhân tỉnh Nghệ An trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế 588
3.1.1. Cơ hội 588
3.1.2. Thách thức 588
3.2. Định hƣớng và mục tiêu quản lý đối với KTTN ở tỉnh Nghệ An đến năm
2020…………………………………………………………………… … 59
3.2.1. Định hƣớng: 599
3.2.2. Mục tiêu : 61
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế
tƣ nhân ở Nghệ An. 61
3.3.1. Tăng cƣờng chức năng quản lý nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế tƣ
nhân 61
3.3.2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật theo hƣớng tạo điều kiện
cho kinh tế tƣ nhân phát triển 65

ĐKKD
Đăng ký kinh doanh
5
GPMB
Giải phóng mặt bằng
6
HĐH
Hiện đại hoá
7
KTTBTN
Kinh tế tƣ bản tƣ nhân
8
KTTN
Kinh tế tƣ nhân
9
SXKD
Sản xuất kinh doanh
10
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
11
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
12
DNVVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ


5
Bảng 2.5
Cơ cấu doanh nghiệp phân theo lĩnh vực hoạt động (%)
40
6
Bảng 2.6
Tình hình nộp ngân sách hàng năm của các doanh nghiệp
41
7
Bảng 2.7
Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành
42 1

2
quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc đang là trở ngại cho sự phát triển
của thành phần kinh tế này.
Tại Nghệ An, khu vực kinh tế tƣ nhân những năm gần đây đã có những
bƣớc phát triển đáng kể, góp phần quan trọng trong việc huy động các nguồn
lực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và làm sống động nền kinh tế của địa
phƣơng, tạo áp lực cạnh tranh thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển nền kinh tế trên
địa bàn. Nhƣng bên cạnh đó sự phát triển của khu vực kinh tế này còn có nhiều
hạn chế nhƣ tạo sự mất cân đối trong phát triển kinh tế, cạnh tranh không lành
mạnh, phát triển tự phát, nhỏ lẻ…Điều đó là do nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân từ sự quản lý Nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế này.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay, để nâng cao
hiệu quả hoạt động của khu vực KTTN ở tỉnh Nghệ An, đòi hỏi phải giải quyết
nhiều vấn đề đặt ra, trong đó cơ bản nhất là: Nhà nước phải làm gì để phát huy
tiềm năng của kinh tế tư nhân và hạn chế tối đa tác động tiêu cực của nó?. Đó là
câu hỏi nghiên cứu mà đề tài Luận văn thạc sỹ “Quản lý Nhà nƣớc đối với khu
vực kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Nghệ An” có nhiệm vụ phải tìm câu trả lời xác đáng.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quản lý Nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế tƣ nhân ở nƣớc ta nói
chung và ở mỗi địa phƣơng nói riêng đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu,
liên quan trực tiếp đến đề tài có các công trình tiêu biểu sau:
- “Đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các
loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay”
(2004) của Nguyễn Thanh Hóa. Bài viết tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và
thực tiễn về quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật đối với các loại hình doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế tƣ nhân; kiến nghị các phƣơng hƣớng và giải
pháp khả thi nhằm đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật đối
với các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tƣ nhân nói chung trong
điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở nƣớc ta hiện nay;

4
Vậy nên việc tiếp tục nghiên cứu giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà
nƣớc đối với KTTN là hết sức cần thiết, không chỉ đối với cả nƣớc mà cả ở
từng địa phƣơng, trong đó có Nghệ An.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích, đánh giá thực
trạng quản lý Nhà nƣớc đối với khu vực KTTN tại tỉnh Nghệ An từ năm 2007
đến 2013, rút ra những thành tựu, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn
chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao vai trò quản
lý nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế này .
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiêm cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến khu vực kinh tế tƣ nhân và quản lý Nhà nƣớc đối với khu vực
KTTN.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là kinh tế
TBTN, cụ thể là các Doanh nghiệp thuộc thành phần này trên địa bàn tỉnh
Nghệ An.
- Phạm vi thời gian: từ năm 2007 đến 2013 và định hƣớng đến 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Phƣơng pháp chung:
Luận văn dựa vào các văn bản pháp luật nhƣ Luật Doanh nghiệp, Nghị
định, Thông tƣ; sử dụng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng và nhà nƣớc về Quản lý Nhà
nƣớc đối với nền kinh tế.
5.2 Phƣơng pháp cụ thể:
* Thu thập tài liệu, số liệu về đăng ký thành lập doanh nghiệp, số lƣợng
6
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TƢ NHÂN
1.1. Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tƣ nhân
1.1.1. Quan niệm chung về kinh tế tư nhân
Theo C.Mác, quan hệ sở hữu đối với tƣ liệu sản xuất có vai trò phản
ánh đặc trƣng của các hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng nhƣ hình thức
tổ chức kinh tế nói riêng, nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và
phân phối kết quả sản xuất. Nhƣ vậy, có thể nhận thức rằng KTTN đƣợc đặc
trƣng bởi sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất. Mặc dù trong các tài liệu nghiên
cứu của Mác và Lê Nin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhƣng các ông lại
thƣờng đề cập đến các thuật ngữ sở hữu tƣ nhân, sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ
nghĩa, lao động tƣ nhân. Nói KTTN TBCN chính là C.Mác nói đến một hình
thức phát triển của KTTN trong thời đại TBCN.
Trong các văn kiện của Đảng ta, KTTN thƣờng đƣợc hiểu là một thành
phần kinh tế. Chẳng hạn Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (1988) và Nghị quyết hội
nghị Trung ƣơng lần thứ sáu (khoá VI) nêu quan niệm: KTTN là đơn vị kinh tế do
những ngƣời có vốn, có tài sản lập ra, sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, bao
gồm các hình thức xí nghiệp tƣ doanh, công ty hợp doanh, công ty cổ phần.[9]
Trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, KTTN đƣợc hiểu bao gồm kinh tế
cá thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân. Trong văn kiện có đoạn viết: “Kinh
tế tƣ nhân đƣợc phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý
hƣớng dẫn của Nhà nƣớc, trong đó kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt
động tƣơng đối rộng lớn ở những đơn vị chƣa có điều kiện tổ chức kinh tế tập
thể, hƣớng kinh tế tƣ bản tƣ nhân phát triển theo con đƣờng tƣ bản nhà nƣớc
dƣới nhiều hình thức [12, tr.69].
Cách hiểu này đƣợc căn cứ vào tính chất của quan hệ sở hữu đối với tƣ

gia lao động trực tiếp hay không bóc lột. Ngoài ra, lý do chính mà trƣớc đây
cần có sự phân biệt nhƣ vậy là để “cải tạo tƣ sản” và phân biệt đối xử trong 8
chính sách, nhƣng hiện nay nhƣ vậy là không có lợi. Hơn nữa cơ sở để xác
định KTTN hay loại hình kinh tế nào không chỉ căn cứ vào sở hữu tƣ liệu sản
xuất, mà còn phải tính đến cả sở hữu vốn và tài sản kể cả những thứ chƣa
thành tƣ liệu sản xuất nhƣng có thể đƣa vào sản xuất [21, tr.21].
- Loại ý kiến thứ ba cho rằng, KTTN bao gồm các công ty, doanh
nghiệp tƣ nhân và các cơ sở kinh tế cá thể. Nó còn bao gồm cả các hợp tác xã
do tƣ nhân đội lốt, các doanh nghiệp có vốn nƣớc ngoài [14, tr.3 - 6], hoặc
bao gồm kinh tế gia đình, tiểu chủ và tiểu tƣ nhân có phân biệt theo giá trị tài
sản và số lao động làm thuê [4, tr.23]. Nghĩa là, KTTN bao gồm tất cả các cơ
sở kinh tế dựa trên sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất hoặc sở hữu tƣ nhân
chiếm ƣu thế, không bao gồm các hợp tác xã đích thực.
- Loại ý kiến thứ tƣ, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế ngoài kinh
tế nhà nƣớc (kể cả hợp tác xã và kinh tế gia đình) [19, tr.33-36].
- Loại ý kiến thứ năm lại coi KTTN là một khu vực, bao gồm các tổ
chức kinh tế mà sở hữu tƣ nhân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của chúng
do một hoặc một nhóm tƣ nhân tổ chức và quản lý [17, tr.5]. Nhƣ vậy, việc
xác định KTTN ở đây ngoài yếu tố cơ bản là sở hữu về tƣ liệu sản xuất (hoặc
vốn) còn có cả yếu tố quản lý và tổ chức.
Những ý kiến trên đã không thống nhất về quan niệm KTTN, tiêu
thức xác định KTTN chƣa rõ ràng và chƣa nhất quán. Nếu lấy sở hữu tƣ
nhân làm cơ sở để xác định KTTN thì tại sao trong loại hình kinh tế này lại
có cả kinh tế tƣ nhân cá thể và các hợp tác xã (trong khi Hiến pháp năm
1992 lại quy định nƣớc ta có ba hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể và tƣ
nhân). Nếu căn cứ vào tiêu chí có bóc lột ngƣời lao động hay không bóc lột
để phân biệt KTTN và kinh tế cá thể, thì ai dám khẳng định rằng các cơ sở

tế nhà nƣớc và KTTN làm cho sự phận loại thêm phức tạp. Trong các công ty
hỗn hợp, khu vực tƣ nhân đƣợc xác định dựa vào tỷ lệ vốn khống chế thuộc
về tƣ nhân. Tỷ lệ vốn đó tuỳ thuộc vào điều kiện mỗi nƣớc và có thể dao động
từ 18 - 40%, không nhất thiết phải trên 50%. 10
Qua những phân tích trên, căn cứ vào quá trình ra đời và phát triển của
quan hệ sản xuất theo đó là quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân
phối sản phẩm, căn cứ vào quan niệm của Đảng ta về kinh tế tƣ nhân trong nền
kinh tế nhiều thành phần, có thể hiểu KTTN là loại hình kinh tế ra đời và phát
triển trên cơ sở chế độ sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất và vốn, tồn tại dƣới
nhiều hình thức tổ chức khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu mà
nó đại diện.
KTTN đã từng tồn tại lâu dài qua những biến đổi của các hình thái kinh
tế - xã hội trong lịch sử. Nó chứng tỏ có một sức sống mạnh mẽ đã vƣợt qua
những thử thách để tồn tại và phát triển lâu dài. Trong nền kinh tế ở nƣớc ta,
KTTN tồn tại chủ yếu dƣới ba hình thức: Kinh tế cá thể, Kinh tế tiểu chủ và
Kinh tế tƣ bản tƣ nhân, tuy ranh giới không phải bao giờ cũng phân chia rạch
ròi giữa ba hình thức đó, nhất là giữa Kinh tế tiểu chủ và KTTN. KTTN là
một bộ phận hữu cơ của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nƣớc ta hiện nay.
KTTN bao gồm nhiều bộ phận hợp thành. Cụ thể, gồm:
- Kinh tế cá thể là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân
dựa trên chế độ tƣ hữu nhỏ về tƣ liệu sản xuất và lao động của chính hộ hay cá
nhân đó.
- Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và
điều hành, dựa trên cơ sở tƣ hữu nhỏ về tƣ liệu sản xuất và có thuê mƣớn
thêm một số lao động. So với kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ có sử dụng lao
động làm thuê, còn so với kinh tế TBCN, ông chủ là ngƣời lãnh đạo trực tiếp.
- Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức tổ chức kinh tế dựa trên chế độ sở

vốn ấy. Trong quá trình phát triển sản xuất xã hội, sở hữu tƣ nhân đã trải qua
các trình độ phát triển từ thấp đến cao. Những trình độ khác nhau của sở hữu
tƣ nhân là những hình thức sở hữu đặc trƣng của các phƣơng thức sản xuất
trong lịch sử. Sở hữu tƣ nhân của chủ nô đặc trƣng cho phƣơng thức sản xuất 12
chiếm hữu nô lệ, sở hữu tƣ nhân của địa chủ đặc trƣng cho phƣơng thức sản
xuất phong kiến, sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa đặc trƣng cho phƣơng thức
sản xuất TBCN.
Mặc dù sở hữu tƣ nhân đã tồn tại và phát triển trong các giai đoạn lịch
sử khác nhau về cả phƣơng thức sản xuất và chế độ chính trị, nhƣng chúng
đều có đặc điểm chung là tồn tại và phát triển khách quan dựa trên quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ lực lƣợng sản xuất, chứ
không phải theo ý muốn chủ quan của bất cứ một ngƣời hay một tổ chức nào.
1.1.2.2. Đặc điểm về tổ chức, quản lý
Trong thời kỳ kinh tế tự cung, tự cấp, KTTN tồn tại dƣới hình thức tổ chức
hộ sản xuất, còn trong kinh tế thị trƣờng, hoạt động kinh tế của tƣ nhân đƣợc tổ
chức dƣới nhiều hình thức khác nhau. Dƣới đây là các hình thức tổ chức, quản lý
chủ yếu của KTTN trong kinh tế thị trƣờng:
- Doanh nghiệp một chủ: Đây là hình thức truyền thống và phổ biến
của KTTN. Nó do một cá nhân nắm quyền sở hữu. Hình thức này đặc biệt
thích hợp với các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhỏ, không đòi hỏi vốn lớn
và công nghệ phức tạp.
- Doanh nghiệp nhiều chủ (sở hữu nhóm): Đây là doanh nghiệp mà sở
hữu gồm ít nhất là hai chủ. Họ ký kết với nhau một hợp đồng sở hữu nhóm để
xác lập doanh nghiệp.
- Công ty: Đây là một thực thể kinh doanh tồn tại độc lập với các chủ
sở hữu của nó. Lợi thế của hình thức này là các chủ sở hữu chỉ phải chịu trách
nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp vào công ty.

góp phần đấy nhanh tốc độ phát triển kinh tế
Kinh tế tƣ nhân cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để
thoả mãn nhu cầu về đời sống, nhu cầu cho quá trình tái sản xuất của xã hội.
Với ƣu thế nổi trội của khu vực kinh tế tƣ bản tƣ nhân: đầu tƣ thấp, dễ chuyển
đổi phƣơng hƣớng sản xuất cho phù hợp với nhu cầu của thị trƣờng, quy mô 14
nhỏ phù hợp với năng lực quản lý của các hộ gia đình, nên đã thu hút đƣợc
đông đảo các tầng lớp dân cƣ. Kinh tế tƣ nhân có vai trò quan trọng trong việc
huy động mọi nguồn lực tiềm ẩn trong xã hội cho phát triển kinh tế. Nguồn
lực này có thể tồn tại dƣới các thức khác nhau nhƣ: tài chính, đất đai, thiết bị
máy móc, kinh nghiệm quản lý, kỹ năng lao động…sự phát triển kinh tế tƣ
nhân sẽ khai thác và sử dụng hiệu quả các tiềm năng đó và xã hội hoá các yếu
tố sản xuất tập trung vào phát triển kinh tế xã hội.
Hơn nữa, trong khu vực KTTN do các nhà kinh doanh tự bỏ vốn của
mình để đầu tƣ và chịu trách nhiệm (khác với doanh nghiệp nhà nƣớc), và do
phải trực tiếp chịu các áp lực của thị trƣờng, nên các chủ doanh nghiệp phải
tính toán chặt chẽ việc lựa chọn sản xuất kinh doanh. Qua nhiều công trình
nghiên cứu cho thấy hiệu quả sản xuất, kinh doanh ở nhiều lĩnh vực của
KTTN cao hơn so với các doanh nghiệp nhà nƣớc; các chỉ tiêu hiệu quả về
vốn, thời gian thu hồi vốn, hiệu suất lao động… của khu vực tƣ nhân đều đạt
mức cao hơn khu vực nhà nƣớc.
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn từ 2000-2010, hiệu quả đầu tƣ từ tổng
số tiền bỏ ra trong năm (hệ số ICOR) tại Việt Nam là 6,07 (nghĩa là để tăng 1
đồng GDP cần bỏ ra 6,07 đồng vốn). Hệ số này thuộc vào loại thấp nhất thế
giới, chủ yếu là do đầu tƣ kém hiệu quả của khu vực nhà nƣớc (8,53) và khu
vực đầu tƣ nƣớc ngoài (9,65). Trong khi đó, khu vực KTTN tỏ ra rất hiệu quả
khi bỏ ra 3,28 đồng vốn đã tạo ra 1 đồng giá trị tăng thêm
Sự đi lên của khu vực KTTN là một yếu tố quan trọng làm thay đổi

doanh nghiệp Nhà nƣớc Trung ƣơng tạo ra. [ 28]
Giai đoạn 2008 - 2013, cả nƣớc có 457 nghìn DN thành lập mới thu
hút 10,9 triệu lao động. Loại hình kinh tế tập thể - hợp tác xã có 13,6 nghìn,
và 4,6 triệu cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phi nông lâm nghiệp, thủy sản
thu hút 35% lƣợng lao động trong các đơn vị kinh tế hành chính sự nghiệp
Khu vực này tuy đóng góp vào GDP khiêm tốn, nhƣng lại có ý nghĩa xã hội 16
lớn là tạo doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội, góp tăng
thêm thu nhập cho các hộ gia đình trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn.
Mức thu nhập cho ngƣời lao động khu vực này cũng đƣợc cải thiện đáng kể.
Tính trung bình, mức thu nhập bình quân hàng năm của ngƣời lao động trong
năm 2000 chỉ là 8,2 triệu đồng (gấp khoảng 1,4 lần GDP bình quân đầu ngƣời
của năm 2000, tính theo giá năm 2000). Con số này đã tăng lên 40 triệu
đồng/ngƣời/năm, gần gấp đôi mức thu nhập bình quân đầu ngƣời vào năm 2012.
Thứ ba, tạo sự cạnh tranh và góp phần nâng cao hiệu quả huy động,
sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế.
Kinh tế tƣ nhân có vai trò quan trọng thúc đẩy sự hình thành và phát
triển các loại thị trƣờng, làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong
nƣớc, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong hoạt
động sản xuất và kinh doanh. Qua đó, giúp cho nền kinh tế Việt Nam hội
nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới sau sự kiện Việt Nam gia nhập WTO. Sự
xuất hiện ngày càng nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh thuộc khu vực kinh tế
tƣ nhân trong tất cả các lĩnh vực, các ngành sản xuất, kinh doanh đã đẩy lùi
dần tình trạng độc quyền mà các DNNN ở Việt Nam nắm giữ trong nhiều
năm qua, làm cho sản xuất hàng hoá phát triển, thị trƣờng đƣợc mở rộng.
Sự đa dạng trong cung ứng dịch vụ và cạnh tranh của kinh tế tƣ nhân đã
buộc rất nhiều DNNN phải thay đổi cung cách quản trị doanh nghiệp cho phù
hợp với tình hình mới đồng thời phải nâng cao cung cách phục vụ, cải thiện chất

dài trong kinh tế thị trƣờng. Quá trình xã hội hoá ấy đƣa đến hai hình thức sở
hữu: Sở hữu xã hội và sở hữu cá nhân. Hai bộ phận đó hợp thành sở hữu
XHCN. Do dựa trên phân tích logic xã hội hoá kinh tế mà các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác - Lênin đã cho rằng CNXH thay thế CNTB là một tất yếu.
Ở đây, sở hữu xã hội là kết quả quá trình phát triển xã hội hoá trong
nền kinh tế nhiều thành phần. Nó không hoàn toàn đồng nhất với sở hữu
nhà nƣớc. Còn sở hữu cá nhân thì hoàn toàn khác về bản chất với sở hữu tƣ
nhân. C.Mác đã từng dự báo rằng: sau này sở hữu cá nhân sẽ đƣợc khôi

Trích đoạn Phối hợp và kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan quản lý Nhà nƣớc đố Những thành tựu cơ bản Định hƣớng và mục tiêu quản lý đối với KTTN ở tỉnh Nghệ An đến năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status