đại học thái nguyên
Trờng đại học s phạm
Khoa đào tạo giáo viên tiểu học
Bài tập lớn
Đề tài :
đề tài kháng chiến chống xâm lợc trong các
bài thơ thuộc chơng trình sách tiếng việt tiểu
học
Ngời thực hiện : Nông Văn Hội
Lớp : K3 Bắc Kạn
Bắc Kạn tháng 2, năm 2009
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
1
Mục lục
Nội dung Trang
Lời nói đầu
4
Phần một: Mở đầu
5
I. Tên đề tài 5
II. Lý do chọn đề tài 5
III. Đối tợng phạm vi ngiên cứu 6
IV. Phơng pháp nghiên cứu 6
V. Cấu trúc đề tài 6
Phần hai: Nội dung
8
Chơng I: Đề tài kháng chiến trong lịch sử Văn học viết Việt Nam
8
I. Đại cơng lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1975 8
II. Văn học viết về đề tài kháng chiến chống xâm lợc 20
1. Văn học viết về đề tài kháng chiến chống xâm lợc là một chủ đề quan
nền văn học viết dân tộc
38
2. Đề tài kháng chiến chống xâm lợc có một vị trí đặc biệt quan trong ch- 38
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
2
ơng trình Tiếng Việt Tiểu học
Tài liệu tham khảo
40
Lời nói đầu
Bốn nghìn năm dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta đã gắn liền với lịch sử, lịch
sử luôn tác động tới văn hoá, quy định sự phát triển của văn học. Thế hệ sau hiểu đợc
lịch sử dân tộc, về đất nớc và con ngời Việt Nam với truyền thống dựng nớc và giữ nớc
là nhờ những trang lịch sử văn học đã lu truyền lại.
Tâm hồn non trẻ của các em học sinh Tiểu học còn trong trắng và ngây thơ.
Vì vậy, chúng ta phải cung cấp cho các em những kiến thức ban đầu về lịch sử đất nớc
con ngời Việt Nam, về những vị anh hùng dân tộc và những cuộc kháng chiến chống
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
3
xâm lợc vô cùng anh dũng của nhân dân ta. Qua các dẫn chứng nh vậy hình thành cho
các em những phẩm chất của con ngời công dân tơng lai nh : lòng yêu quê hơng đất n-
ớc, long tự hào dân tộc, có ý thứ bảo tồn và phát triển truyền thống cao đẹp của dân
tộc ta.
Bản thân tôi là một giáo viên dạy Tiểu học, cần thiết hiểu sâu những tri thức lịch sử
đó và truyền đạt cho các em học sinh sự hiểu biết cũng nh tình yêu lịch sử dân tộc đó
là lý do mà tôi chọn đề tài này.
Do điều kiện thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế
nhất định. Tôi rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các
bạn giáo sinh để đề tài của tôi đợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Nhữ đẳng hành khan thủ bại h
Dịch thơ:
Sông núi nớc Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Rồi những bài Hịch t ớng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Cảm hoài của Đăng Dung,
Bìng ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, rồi những áng văn thơ tràn đầy lòng yêu nớc căm
thù giặc của Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trỉnh, rồi những áng văn
thơ cách mạng bừng bừng khí thế trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tất cả đã
hợp thành một đề tài lớn, một dòng cảm hứng nóng bỏng nuôi dỡng những giá trị tinh
thần cao đẹp nhất của dân tộc.
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
5
Đề tài này hiện diện trong chơng trình văn học nhà trờng nh một dòng chảy lớn từ
Tiểu học đến Trung học cơ sở, Phổ thông trung học và cả Đại học.
Vì thế đi vào đề tài này, chúng ta đợc ôn lại truyền thống anh hùng của dân tộc, có
điều kiện giáo dục học sinh lòng yêu nớc, lòng căm thù giặc, tinh thần chiến đấu hi sinh
vì độc lập tự do của dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Đó là lý do chủ yếu khiến tôi chọn đề tài
này.
III. đối tợng phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về đề tài kháng chiến trong các bài thơ thuộc chơng trình sách Tiếng
Việt Tiểu học.
IV. Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài này sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau:
-Phơng pháp thống kê, phân lọai.
-Phơng pháp phân tích, tổng hợp.
-Phơng pháp so sánh.
V. Cấu trúc đề tài
Cấu trúc đề tài gồm 3 phần
Phần hai
Nội dung
Ch ơng I:
đề tài kháng chiến trong lịch sử văn học việt
nam
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
7
I. đại cơng lịch sử việt nam từ thế kỷ X năm 1975
Từ khi An Dơng Vơng thất bại trớc con rể của mình là Triệu Đà, cho đến chiến
thắng Bạch Đằng lịch sử do Ngô Quyền lãnh đạo năm 938, thời Bắc thuộc kéo dài
khoảng 1000 năm. Trong những năm đó các triều đại phong kiên Trung Hoa đã nối nhau
cai trị đất nớc ta, chúng muốn biến nớc ta thành lãnh thổ của mình, từ tiếng nói đến
phong tục tập quán, lối sống ý thức, t tởng văn hoá đều bị chúng tìm cách tiêu diệt.
Thế nhng, nền văn hoá ấy hoàn toàn bất lực trớc nền văn hoá Việt Nam. Tinh thần yêu n-
ớc, ý thức đoàn kết đợc nảy nở ngày từ buổi đầu dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Việt
Nam khi đứng trớc giặc ngoại xâm nó đợc khơi dậy, phát huy sức mạnh to lớn và trở
thành vũ khí lợi hại sắc bén đánh đuổi quân thù. Vì vậy trong gần 1000 năm Bắc thuộc
đã có hàng loạt cuộc đấu tranh, khởi nghĩa của nhân dân ta nổ ra. Tiêu biểu là cuộc khởi
nghĩa của Hai Bà Trng, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu. Ngoài ra còn có cuộc khởi nghĩa
nh : Cuộc khởi nghĩa Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng hng, Khúc Thừa Dụ vv. Các cuộc
khởi nghĩa này đã khẳng định đợc sự trởng thành của ý thức dân tộc, khẳng định đợc nền
độc lập tự chủ của nhân dân ta và phủ nhận quyền đô hộ, thống trị của đế phơng Bắc
thuộc đối với nớc ta.
1. Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X - XV.
Trong những năm từ thế kỷ X đến thế kỷ XV đất nớc ta phải trải qua các cơn bão lửa
của cuộc chiến tranh xâm lợc. Tiêu biểu là các cuộc xâm lợc của nhà Tống (thế kỷ XI);
của nhà Nguyên Mông (thế kỷ XIII) và nhà Minh (thế kỷ XV). Tơng ứng với các
cuộc xâm lợc đó là các cuộc kháng chiến vô cùng anh dũng của quân dân Đại Việt.
Thắng lợi đầu tiên phải kể đến là cuộc kháng chiến chống quân Tống của Lê Hoàn
(tháng 4 năm 938) đã đợc ghi vào sử sách là cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ
nội chiến giữa Lê Mạc (thế kỷ XV)và Trịnh Nguyễn (cuối thế kỷ XVI cuối thế
kỷ XVIII).
3. Lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX
Có thể nói, lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX đây là giai
đoạn chế độ phong kiến Việt Nam bớc vào giai đoan suy tàn, tan rã bộc lộ khá rõ những
mặt xấu xa tiêu cực trên tất cả các phơng diện chính trị, t tởng văn hoá. Thế kỷ này đợc
ngời ta mệnh danh là Thế kỷ nông dân khởi nghĩa hàng trăm các cuộc khởi nghĩa lớn
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
9
nhỏ đã nổ ra, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do anh hùng áo vải Quang Trung
Nguyễn Huệ khởi sớng và lãnh đạo. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chế độ phong
kiến việt Nam xuất hiện một cuộc khởi nghĩa nông dân đã có đủ sức mạnh để lật nhào
ngai vàng chế độ phong kiến. Sau khi chiếm đợc thành Thăng Long, tiêu diệt đợc họ
Trịnh và hoàn thành công cuộc Phù Lê diệt Trịnh , vào ngày 22/12/1788, Nguyễn Huệ
đã lên ngôi Hoàng Đế và tức tốc đem quân ra Bắc tiêu diệt 29 vạn quân Thanh. Ngày
mùng 5 tết Kỷ Dậu, giải phóng hoàn toàn thành Thăng Long. Cũng trong thời gian này
năm 1789 cuộc Đại cách mạng T sản Pháp nổ ra và giành thắng lợi, lịch sử nhân loại lại
sang trang mới từ chế độ phong kiến sang chế độ t bản chủ nghĩa.
Đất nớc vừa thoát khỏi sự suy tàn, loạn lạc, chiến tranh ác liệt cha đợc bao lâu thì vào
ngày 16/9/1792 Quang Trung qua đời. Ngay sau đó, tháng 7/1802 Nguyễn ánh đã
cõng rắn cắn gà nhà đánh chiếm Thăng Long, lất đổ Tây Sơn và làm lễ đăng quang lên
ngôi hoàng đế lấy hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân và đổi tên nớc Đại Việt thành
Việt Nam, mở đầu cho sự thống trị của dòng họ Nguyễn. Các vua nhà Nguyễn từ Gia
Long, Minh Mạng, Thiêu Trị đến Tự Đức đã kế tiếp nhau xây dựng và củng cố nền
thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến trong bối cảnh khủng hoảng suy vong. Triều Nguyễn
tồn tại hơn nửa thế kỷ xã hội Việt nam lúc bẫy giờ hầu nh không phát triển theo chiều h-
ớng tiến bộ của thời đại. Đời sống nhân dân ngày càng cực khổ lầm than, nạn đói kéo
dài thiên tai sảy ra liên miên. Nền kinh tế tài chính nớc ta đã suy yếu trầm trọng về mọi
mặt. Những chính sách cai trị của nhà Nguyễn đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng
tăng khiến phong trào đấu tranh của nhân dân chống chính quyền và giai cấp thống trị
vua Hàm Nghi đã bị đầy đi Angiêri từ những năm trớc, thực dân Pháp coi nh đã hoàn
thành cuộc bình định và chinh phục Việt Nam.
Có thể nói, phong trào Cần Vơng nổ ra đợc ví nh một ngọn đuốc soi sáng là tiền đề
để các phong trào sau này diễn ra rộng khắp trong cả nớc, mà sau này nhiều phong trào
đã nổ ra ở nhiều nơi nổi bật là phong trào của Phan Bội Châu và Phan Chu Chinh. Mặc
dù nhiệt tình cách mạng rất lớn nhng cả hai ông đều mắc sai lầm và bế tắc vì cha tìm đợc
cho mình một con đờng đi đúng đắn. Phan Bội Châu với chủ trơng dựa vào Nhật còn
Phan Chu Chinh thì lại chọn con đờng cải lơng để đánh Pháp.
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
11
Sau khi nền kinh tế bị thâm hụt nặng nề do cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914
1918) và để bù đắp lại những thiệt hại nặng nề đó. Chơng trình khai thác thuộc địa
lần thứ hai của thực dân Pháp đối với nớc ta thực hiện một cách đầy đủ và toàn diện trên
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Xã hội Việt Nam có những biến
động dữ dội nhiều giai cấp mới ra đời. Mỗi giai cấp trong xã hội Việt Nam lúc này đều
có một địa vị kinh tế quan trọng, một thái độ chính tri khác nhau, họ giữ những vị trí
khác nhau trong cuộc cách mạng Việt Nam. Trong đó giai cấp công nhân là giai cấp có
đầy đủ điều kiện để nắm giữ vị trí lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sự phát triển của
phong trào công nhân từ tự phát đến tự giác giữ một vị trí quan trọng đối với sự ra đời
của Đảng. Trong giai đoạn đầu của phong trào này là bắt đầu từ năm 1919 1925
phong trào của công nhân diễn ra rộng khắp, tiêu biểu là phong trào của công nhân xởng
Ba Son nổ ra vào tháng 8/1923, dới sự lãnh đạo của tổ chức Công Hội Đỏ do Tôn Đức
Thắng đứng đầu. Phong trào đã thể hiện rõ sự trởng thành về trình độ giác ngộ cách
mạng của giai cấp công nhân. Phong trào công nhân từ năm 1925 trở đi đã thể hiện rõ sự
phát triển mạnh mẽ và diễn ra liên tục với quy mô rộng lớn, phong trào đã vợt qua giới
hạn một nhà máy, xí nhgiệp bớc đầu có sự liên kết rộng rãi.
Có thể nói, phong trào công nhân ở những giai đoạn này phát triển rộng khắp, phong
trào yêu nớc, cùng với sự truyền bá t tởng chủ nghĩa Mác Lênin là những nhân tố cơ
bản dẫn đến sự thành công dẫn đến sự thành lập Đảng sau này. Trong đó, những hoạt
động tìm tòi không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đóng vai trò quan trọng đối với
gian này Ngời xuất bản tờ báo Ng ời cùng khổ và Ngời viết những trang đầu tiên tác
phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp . Dới ngòi bút sắc sảo Nguyễn ái Quốc, tác phẩm
đã nghiêm khắc tố cáo tội ác tầy trời của thc dân Pháp đã gây ra đối với các nớc thuộc
địa trong đó có nhân dân Việt Nam, trớc toàn thể nhân dân tiến bộ trên thế giới. Đồng
thời, tác phẩm cũng khích lệ tinh thần đấu tranh chống thực dân, đế quốc vì nền độc lập
dân tộc.
Sau một thời gian hoạt động ở Pháp, năm 1923 Nguyễn ái Quốc đã bí mật sang Liên
Xô dự Hội nghi quốc tế nông dân. Ngời còn tham gia hội nghị khác nh : Quốc tế phụ nữ,
Quốc tế thanh niên Đặc biệt Ng ời đã tham dự Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ V tổ
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
13
chức tại Matxơcơva. Tại diễn đàn của hội nghi Ngời đã kẳng định vai trò quan trọng của
cách mạng ở các nớc thuộc địa. Ngời ví rằng: Chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi,
muốn giết con vật đó thì cùng một lúc phải cắt cả hai cái vòi của nó. Nghĩa là phải thực
hiện cả cách mạng vô sản ở các nớc chính quốc cả cách mạng ở các nớc thuộc địa, trong
đó Ngời đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giai cấp công nhân.
Cuối năm 1924 Nguyễn ái Quốc về Quảng Châu Trung Quốc để chỉ đạo phong
trào cách mạng các nớc trong khu vực và có điều kiện gần gũi chỉ đạo phong trào cách
mạng Việt Nam. Tại đây, năm 1925 Ngời lựa chọn một số ngời tiêu biểu của tổ chức
Tâm tâm xã sáng lập ra một tổ chức chính trị mới là tổ chức Việt Nam thanh niên
cách mạng đồng chí hội. Ngời còn cho xuất bản báo Thanh niên . Trực tiếp mở các
lớp tập huấn tại Quảng Châu để đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng rồi tìm cách đa họ về
hoạt động. Những bài giảng đó, sau này đợc tập hợp trong cuốn Đ ờng kách mệnh. Nội
dung của cuốn Đ ờng kách mệnh này đợc Ngời thể hiện rất rõ về đờng lối chính trị
của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đồng thời, nó cũng là cơ sở để hình
thành đờng lối cách mạng của Đảng ta.
Nhờ những hoạt động thuận lợi của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí
hội và giá tri lớn của tác phẩm Đ ờng kách mệnh và vận dụng lí luận của chủ nghĩa
Mác Lênin, truyền bá sâu rộng và liên tục vào phong trào cách mạng Việt Nam đặc
biệt là phong trào công nhân. Bên cạnh những thuận lợi đó, sự ra đời của tổ chức cộng
muồi, phải tranh thủ điều kiện thuận lợi khi quân đồng minh cha kịp vào Đông Dơng
làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật để tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Từ ngày 14 28/8/1945 chỉ trong vòng 15 ngày, sau khi lệnh Tổng khởi nghĩa đợc ban
hành cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử dân
tộc chính quyền cả nớc thực sự thuộc về tay nhân dân.Trong không khí tng bừng của
chiến thắng, ngày 2/9/1945, tại quảng trờng Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt
Chính phủ lâm thời đọc bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố trớc quốc dân và thế giới nớc
Việt Nam dân chủ cộng hoà độc lập, tự do ra đời.
Cách mạng tháng Tám thành công, là thành quả to lớn của nhân dân ta. Thắng lợi đó
đã phá tan hai xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm và phát xít Nhật, đồng
thời nó còn lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại hơn một nghìn năm. Từ đây, n-
Nông Văn Hội Lớp Đại học Tiểu học K3 Bắc Kạn
15
ớc ta từ một nớc thuộc địa đã trở thành một nớc độc lập dới chế độ dân chủ cộng hoà, đa
nhân dân ta từ phận nô lệ thành ngời độc lập tự do, dân chủ và bắc ái.
6. Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 ( giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lợc lần thứ 2 )
Có thể nói, cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhà nớc Việt Nam dân chủ
cộng hoà ra đời thế nhng nền cộng hoà còn non trẻ đã phải đối mặt với những biến động
to lớn của tình hình chính trị trong và ngoài nớc. Những khó khăn to lớn đó do thù trong
giặc ngoài đã đẩy cách mạng Việt Nam đến một tình thế hiểm nghèo:
Ngàn cân treo sợi tóc. Để tránh tình trạng phải đối phó với nhiều kẻ thù cùng một
lúc, Đảng ta đã thực hiện sách lợc hoà với quân Tởng nhằm hạn chế, ngăn chặn một cách
có hiệu quả mu đồ chống phá chống phá cách mạng của Tởng và bọn tay sai. Mặt khác
ta có điều kiện tập trung để tiến hành cuộc khởi nghiã ở Nam Bộ, hạn chế chiến tranh
mở rộng phạm vi trên cả nớc. Trên cơ sở vận dụng sách lợc phân hoá kẻ thù của chủ
nghĩa Mac Lênin, Đảng và Chính phủ ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ký
kết với thực dân Pháp bản hiệp ớc sơ bộ ( ngày 6/3/1946 ) và bản tạm ớc (ngày 14/9
1946) việc ký kết này ta đã mợn tay Pháp gạt 20 vạn quân Tởng và bọn tay sai ra khỏi
miền Bắc, đồng thời ta cũng tranh thủ thời gian hoà bình để tiếp tục chuẩn bị lực lợng