GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC KỸ NĂNG SINH VIÊN BẰNG MÔ HÌNH “3N - Pdf 28

1
PHẦN MỞ ĐẦU
ừ những ngày đầu Việt Nam mở cửa, gia nhập vào
các tổ chức thế giới như WTO, cho đến nay đã có
nhiều sự phát triển vượt bậc về kinh tế, tiếp thu và
áp dụng nhiều tiến bộ trong khoa học kĩ thuật cũng
như trong nhận thức. Những rào cản trước kia như ngôn ngữ, khoãng cách địa lý
nay hầu như đã được xóa bỏ, mọi người trên thế giới giờ đây có thể giao lưu, học
tập với nhau nhờ internet. Sự tiến bộ trong khoa học kĩ thuật đã giúp tri thức các
nước xích lại gần nhau hơn, học hỏi nhau và chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm.
Để làm được điều đó đòi hỏi mỗi chúng ta phải trang bị đầy đủ hành trang tri thức
và kĩ năng để có thể đáp ứng, thích nghi được với những yêu cầu ngày càng cao
của xã hội. Yếu tố con người là yếu tố quan trọng, then chốt quyết định đến thành
công của một công ty, sự đi lên của một xã hội, sự phát triển của một quốc gia.
T
Sinh viên là đội ngũ nhân lực tương lai của đất nước. Quá trình làm Sinh viên
là quá trình rèn luyện, trao dồi kiến thức để phát triển, hoàn thiện năng lực của
từng cá nhân Sinh viên. Nhưng trên thực tế, rất nhiều Sinh viên sau khi ra trường
không trang bị đủ cho mình hành trang về tri thức, kỹ năng để đáp ứng những nhu
cầu ngày càng cao của xã hội. Đó không chỉ là một vấn đề lớn đối với bản thân
Sinh viên mà còn là yếu tố hạn chế sự phát triển của đất nước.
Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu về
thái độ, nhận thức, hành vi thường ngày của Sinh viên để có được cái nhìn khái
quát về đội ngũ nhân lực tương lai. Đồng thời xây dựng mô hình giúp cho các
Sinh viên có thể tự nâng cao tri thức và kĩ năng bằng những bước đi, hành động
cụ thể, qua đó giúp cho bản thân Sinh viên nhận ra và phát huy hết năng lực của
chính mình.
Sinh Viên
Nhà Trường
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
2

giúp các nhà hoạch định Giáo Dục trong công cuộc đưa nền giáo dục Việt Nam
phát triển.
Mục Tiêu nghiên cứu:
Đề tài có 2 mục tiêu chính:
 Thứ nhất: điều tra bảng khảo sát, nắm bắt được các vấn đề sau:
o Những thói quen thường ngày của Sinh viên.
o Cách phân bổ thời gian của Sinh viên.
o Năng lực học tập của Sinh viên.
o Tính cách phổ biến trong Sinh viên.
o Thái độ của Sinh viên đối với một số vấn đề xã hội.
o Chỉ số cảm xúc và kỹ năng mềm của SV.
 Thứ hai: giúp Sinh viên tự hoàn thiện trình độ năng lực và kỹ năng thông
qua mô hình “3N”.
Phương Pháp Nghiên Cứu:
 Bước 1: Xây dựng bảng khảo sát dựa trên những mục tiêu của đề tài.
 Bước 2: Tiến hành quá trình khảo sát đối với Sinh viên một số trường Đại
Học – Cao Đẳng trên điạ bàn Thành Phố Hồ Chí Minh.
4
 Bước 3: Thống kê, tổng hợp số liệu từ bảng khảo sát thu được.
 Bước 4: Hoàn thiện đề tài, xây dựng giới thiệu mô hình “3N” - giúp nâng
cao trình độ năng lực - kỹ năng SV.
Đối Tượng và Phạm Vi Nghiên Cứu:
 Đối Tượng: Sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
 Phạm vi nghiên cứu: tiến hành tham gia lấy bảng khảo sát tại các trường
Đại Học – Cao Đẳng sau:
1. Đại học Hoa Sen.
2. Đại học Quốc tế Hồng Bàng.
3. Đại học Mở TP.Hồ Chí Minh.
4. Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh.
5. Đại học Kiến trúc TP.Hồ Chí Minh.

6
• Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc “thể lý”
(physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, bài tiết, thở, nghỉ
ngơi.
• Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an
toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
• Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
(love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó,
muốn có gia đình yên ấm,bạn bè thân hữu tin cậy.
• Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm
giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng.
• Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) -
muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn
mình, có được và được công nhận là thành đạt.
1.2. Một số lý luận về Sinh viên:
1.2.1. Khái niệm:
Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta, hai tiếng Sinh viên luôn gợi lên một cái
gì trong sáng, tốt đẹp. Đó là thế hệ còn quá sớm để được coi là từng trải, dày dặn,
nhưng cũng quá muộn để bị coi là non nớt, thơ ấu. Thế hệ SV đứng giữa hai cái
đó: Họ nhìn đời một cách nghiêm trang mà không mất vẻ trẻ trung, hồn nhiên, họ
là thế hệ của học hỏi, rèn luyện, ước mơ. Họ là tuổi đẹp của một con người, thế hệ
đẹp của một thời đại (Theo nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm). SV là những chàng trai,
cô gái rời xa vòng tay của gia đình để bắt đầu một cuộc sống tự lập, trải nghiệm
những thứ mới mẻ với bản thân, để rồi tràn ngập hạnh phúc trong những điều giản
đơn, và đôi khi có cả sự hụt hẫng, hối tiếc về một cái gì đó đã thoáng đi qua.
Mỗi người Sinh viên đều mang trên mình những trọng trách lớn nhỏ khác
nhau, nhưng có chung một hướng: rèn luyện, học hỏi, trau dồi kiến thức để hoàn
thiện bản thân. Kiến thức ở đây là những tri thức từ giảng đường Đại Học, những
kinh nghiệm, kỹ năng từ việc trải nghiệm cuộc sống hằng ngày.
1.2.2. Vai trò:

huy những nét đẹp văn hóa dân tộc cũng phải có một đội ngũ kế thừa xứng
đáng .v.v… tất cả những đội ngũ trên đều có xuất phát điểm từ thế hệ SV, vì vậy
vấn đề năng lực SV đóng vai trò rất quan trọng.

8
Tóm tắt chương 1:
Trong chương 1, chúng ta đã nắm đuợc những nhu cầu cơ bản của con người
và cấp bậc các nhu cầu qua thuyết nhu cầu của Maslow. Đồng thời nắm được khái
niệm về SV, vai trò của SV đối với các doanh nghiệp và đối với xã hội. Hiểu được
tầm quan trọng của năng lực SV, sự tác động mạnh mẽ của yếu tố năng lực SV
đến tiến trình phát triển của một đất nước. Nắm được các vấn đề trong chương 1,
ta sẽ có được cái nhìn cơ bản về thế hệ SV và những tác động to lớn của SV đến
các vấn đề khác. Và để nắm có được cái nhìn tổng thể về SV Việt Nam, chúng ta
sẽ tìm hiểu qua chương 2 – chương nói về thực trạng học tập, thái độ, nhận thức
.v.v… của Sinh viên TP.HCM.
9
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÀO
TẠO BẬC ĐH - CĐ Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG TRONG
HỌC TẬP, THÁI ĐỘ, NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TP.HCM.
2.1. Giới thiệu tổng quát về hệ thống đào tạo bậc Đại học – Cao đẳng ở Việt
Nam:
2.1.1. Tổng quan sơ lược: sau đây là 2 bảng số liệu để chúng ta tham khảo
Bảng 2.1: Thống kê ngành Giáo Dục hệ Cao Đẳng từ năm học 2007 – 2008 đến
năm học 2010 – 2011. ( Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)
CAO ĐẲNG 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011
TRƯỜNG/INSTITUTIONS 206 223 227 223
Công lập/Public 182 194 197 193
Ngoài công lập/Non-Public 24 29 30 30
Sinh viên/Students 422,937 476,721 576,878 726,219
Nữ/Female 214,686 244,200 305,905 386,265

năm học 2010 – 2011. ( Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)
ĐẠI HỌC 2007-2008 2008-2009 2009-2010 2010-2011
TRƯỜNG/INSTITUTIONS 140 146 149 163
Công lập/Public 100 101 103 113
Ngoài công lập/Non-Public 40 45 46 50
Sinh viên/Students 1,180,547 1,242,778 1,358,861 1,435,887
Nữ/Female 571,523 602,676 659,828 693,175
Công lập/Public 1,037,115 1,091,426 1,185,253 1,246,356
Ngoài công lập/Non-Public 143,432 151,352 173,608 189,531
Hệ chính quy/Full time
training
688,288 773,923 862,569 970,644
Hệ cử tuyển/Students
receiving tied grant
5,765 5,562 7,189 7,448
Vừa làm vừa học/In service
training
486,494 463,293 489,103 457,795
Học sinh tốt nghiệp/Graduated
students
152,272 143,466 161,151 187,379

Giảng viên/Teaching Staff 38,217 41,007 45,961 50,951
Nữ/Female 16,459 18,185 20,849 23,306
Công lập/Public 34947 37,016 40,086 43,396
Ngoài công lập/Non-Public 3,270 3,991 5,875 7,555
Phân theo trình độ chuyên
môn/
Professional qualification by
classifying

• Sinh học môi trường.
• Y – Bác sĩ.
• Kiến trúc - Xây dựng.
• Mỹ thuật.
• Văn hóa - Nghệ thuật.
• Xã hội nhân văn.
• Báo chí.
• Hóa học.
• Vật lý học.
• Toán học.
• Nông lâm.
• Thủy sản.
• Hàng không.
• Vận tải.
• Dầu khí.

• Nhìn chung, hệ thống giáo dục Việt Nam khá hoàn thiện trong việc bao
quát được ở tất cả các lĩnh vực, chuyên ngành, nhằm xây dựng đội ngũ nhân
12
lực đáp ứng được yêu cầu đa ngành nghề hiện nay. Tuy nhiên vẫn còn chênh
lệch lớn về chất lượng đào tạo giữa các trường, và giữa các chuyên ngành, dẫn
đến tình trạng có trường quá tải SV, có trường lại thiếu SV theo học. Vì vậy,
Bộ Giáo Dục nên quan tâm nhiều đến chất lượng của các trường ĐH-CĐ nhằm
hoàn thiện hệ thống Giáo Dục nước nhà.
• 2.2. Thực trạng trong học tập, thái độ, nhận thức của Sinh viên Thành
phố Hồ Chí Minh:
• Giới thiệu về thang điểm 5/5:
• 1 2 3 4 5
• Min Max


%
• 3
4
%
• 1
6
%
• 7
%
• 3 • Khả năng tự học, tự nghiên cứu
• 2
%
• 1
1
%
• 3
6
%
• 3
8
%
• 1
3
%
• 4 • Dám hỏi, dám trả lời
• 1
0
%
• 1
8

%
• 4
4
%
• 2
3
%
• (Nguồn: Số liệu thống kê từ bảng khảo sát)
• Các số liệu trên cho thấy:
− Việc lên lớp đầy đủ, đúng giờ; đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập được
phần lớn SV thực hiện tốt (trên 65%), khoảng 30% số SV thực hiện ở mức
độ khá và còn một tỷ lệ nhỏ (dưới 10%) thực hiện chưa nghiêm túc.
− Trong số SV được khảo sát có đến 57% Sinh viên tự đánh giá là thường
xuyên nói chuyện, làm việc riêng. Trong khi chỉ có 43% SV là thực hiện
nghiêm túc.
− Vấn đề mức độ tiếp thu kiến thức bài học và khả năng tự học, tự nghiên
cứu thì chỉ hơn một nửa số SV tham gia khảo sát tự đánh giá là ở mức độ
tốt (dưới 60%), khoảng 30% số SV thực hiện ở mức độ khá và số còn lại
thì ở mức độ trung bình và yếu (dưới 15%).
− Vấn đề cuối cùng trong bảng trên và cũng là một trong những vấn đề ảnh
hưởng đến chất lượng kiến thức SV tiếp thu được chính là việc dám hỏi,
dám trả lời của SV, theo khảo sát thì tỷ lệ thực hiện được chia điều cho cả
ba mức độ trung bình, khá và tốt. Nghĩa là có khoảng 30% SV ở mức độ
tốt, 30% ở mức độ khá, 30% ở mức độ trung bình.

• Từ kết quả trên cho thấy ý thức kỷ luật, tính tự giác của SV chưa cao và chưa
toàn diện, điều đó ảnh hưởng lớn đến khối lượng kiến thức và chất lượng học của
SV. Vấn đề chấp hành giờ giấc lên lớp không có nghĩa cứ đi học đầy đủ là sẽ học
tốt, nhưng đó chính là tiền đề để mỗi SV tự đặt ra kỷ luật cho riêng mình. Trong
cách dạy hiện nay, chất lượng dạy học của giảng viên chỉ ở mức độ trung bình và

thụ động của bản thân SV đã kéo chân SV đứng lại một chỗ, trong khi khối
lượng kiến thức của nhân loại càng ngày càng lớn hơn. Vấn đề của các cơ
quan, tổ chức GD là phải thay đổi được thực trạng học tập của SV, nếu không
chúng ta sẽ bị tụt hậu.








• 2.2.2. Trong các hoạt động hàng ngày của Sinh Viên:
• Tiếp theo chúng ta sẽ theo dõi xem SV thường tham gia những hoạt động
gì và với tần suất như thế nào, tất cả sẽ được thể hiện qua bảng sau:
• Bảng 2.4: Một số hoạt động mà SV tham gia và tần suất của chúng.
• S
T
T
• Hoạt động
• Rất
khô
ng
thườ
ng
xuyê
n
• Khô
ng
thườ

• 9 • Du lịch, dã ngoại • 18% • 32% • 44% • 4% • 2%
• (Nguồn: Số liệu thống kê từ bảng khảo sát)

 Nhìn vào bảng 2.4 ta thấy có 49% SV thường xuyên đọc sách trong tổng
số SV tham gia khảo sát, trong khi có 42% chỉ thỉnh thoảng đọc, 9% số SV
còn lại thì không thường xuyên. Sách ở đây có thể là sách về chuyên ngành
đang học, các tiểu thuyết viết về cuộc sống, xã hội hoặc những sách liên
quan đến lĩnh vực, khoa học khác. Việc đọc sách không chỉ giúp SV bổ
sung thêm kiến thức, thói quen này còn giúp SV có được một cách thư giãn
mang tính khoa học. Nhìn vào số liệu trên ta có thể nhận thấy chỉ một nửa
trong số SV tham gia khảo sát là có thói quen đọc sách, vậy có nghĩa số SV
còn lại dành thời gian đọc sách để làm việc những việc khác. Chúng ta thử
hình dung, để đọc một cuốn sách 1600 trang, trong vòng 4 ngày 4 đêm là
có thể đọc xong, tất nhiên là vẫn ăn, ngủ, đi học bình thường, có nghĩa là
chỉ một thời gian ngắn chúng ta có thể bổ sung được khối lượng kiến thức
khổng lồ cho bản thân (vấn đề trên được rút ra từ thực tế bản thân người
làm đề tài). Bên cạnh đó, đối với mỗi môn học, SV chỉ có từ 1 đến 2 giáo
trình theo yêu cầu bắt buộc của môn học, chừng đó kiến thức đâu thể đủ để
SV hiểu sâu và hiểu hết các vấn đề liên quan đến môn học đó. Vậy không
thường xuyên đọc sách, SV sẽ lấy kiến thức chuyên môn từ đâu?

 Vấn đề tiếp theo mà số liệu từ bảng 2.4 cho ta thấy là việc tham các CLB
kỹ năng, thể thao và hoạt động Đoàn, xã hội của SV cũng chỉ ở mức độ
trung bình: dưới 20% SV tham gia thường xuyên, 80% SV còn lại là thỉnh
thoảng và không thường xuyên tham gia. Cũng có nghĩa là chỉ có 20%
trong tổng số SV tham gia khảo sát học được các kỹ năng mềm từ quá trình
tham gia các hoạt động trên, trong khi thực tế SV chúng ta đang rất yếu về
các kỹ năng mềm, và đến khi cảm thấy có nhu cầu học thì phải bỏ ra chi
phí lớn để theo học tại các trung tâm, trong khi quá trình tham gia học tập
tại trường, SV có rất nhiều cơ hội để gia nhập vào các tổ chức này. Điều

giải trí nào phù hợp để vừa giải tỏa được căng thẳng lại vừa bổ ích cho bản
thân đó là điều cần nghĩ đến, SV sẽ dễ bị những cách giải trí đơn thuần lôi
cuốn vào như đánh bài, uống bia rượu, chơi game .v.v… Việc cân bằng
giữa học tập và vui chơi đem đến cho SV đầu óc luôn thoải mái, cảm giác
tỉnh táo giúp SV đưa ra những quyết định đúng và hợp lý trong học tập và
cuộc sống.

• Trong mỗi việc làm, mỗi hành động mà SV tham gia điều đem đến những ý
nghĩ tích cực, chúng góp phần hoàn thiện nhận thức của SV về cuộc sống, cũng
như nhận thấy được điểm mạnh và điểm yếu của bản thân để khắc phục và bổ
sung vào khiếm khuyết. Đồng thời tham gia vào môi trường thực tế cũng chính là
lúc để SV áp dụng những kiến thức đã học được, kiến thức SV có chỉ là kiến thức
ở dạng thô, khi đem vào thực tế SV sẽ nhìn thấy được những khía cạnh của vấn
đề, đâu là vấn đề chính cần được quan tâm. Hiểu rõ giá trị của mỗi hành động,
mỗi việc làm sẽ giúp SV nắm rõ bản thân hơn, từ đó cung cấp cho SV những kỹ
năng, kinh nghiệm đáp ứng đủ nhu cầu cho quá trình làm việc sau khi SV ra
trường. SV chúng ta không phải là không có trình độ, vấn đề là SV chưa có tầm
nhìn đối với cuộc sống và các vấn đề của bản thân. Giải quyết được vấn đề này
nữa, chúng ta sẽ giải quyết được bài toán về kỹ năng mềm mà SV đang thiếu hụt.
• 2.2.3. Nghiên cứu tính cách của Sinh Viên:
• Về vấn đề nghiên cứu tính cách của SV, tác giả cũng đưa vào danh mục
những vấn đề cần được khảo sát, và dưới đây là kết quả thu được:
• Bảng 2.5: Đánh giá của SV trong tính cách.
• Thang điểm
• S
T
T
• Tính cách • 1 • 2 • 3 • 4 • 5
• 1 • Trung thực
• 1

%
• 3
1
%
• 3
6
%
• 2
0
%
• 4 • Sáng tạo
• 4
%
• 1
5
%
• 3
9
%
• 2
6
%
• 1
6
%
• 5 • Trách nhiệm
• 2
%
• 5
%

5
• 7
%
% % % %
• 8 • Tự ti
• 3
2
%
• 3
1
%
• 2
3
%
• 9
%
• 5
%
• (Nguồn: Số liệu thống kê từ bảng khảo sát)
• Trung thực, tự chủ, sáng tạo, trách nhiệm, lập trường, tư duy độc lập, đó là
những tố chất rất cần thiết đối với mỗi SV. Nhìn vào bảng số liệu trên, chúng
ta sẽ thấy được một thực tế rất khả quan: xấp xỉ 80% số SV được khảo sát
đánh giá bản thân họ hiện có những tính cách nêu trên ở mức độ khá và tốt.
Nói như vậy có nghĩa là trên 80% SV có đầy đủ tố chất để trở thành những SV
ưu tú và là nhân viên giỏi trong tương lai. Nhưng trên thực tế cho thấy, chỉ
một tỷ lệ rất nhỏ ( dưới 30%) trong tổng số SV ra trường mỗi năm đáp ứng đủ
các yêu cầu của doanh nghiệp, điều đó chứng tỏ giữa lời nói và hành động của
SV có một khoãng cách rất xa. SV thường chỉ dám suy nghĩ trong đầu, không
dám mạnh dạn phát triển suy nghĩ của bản thân vào cuộc sống, dẫn đến sự
thiếu am hiểu về thực tế cần gì và thiếu gì để đáp ứng. Ở trong trường ĐH –

• Đây chính là một trong những câu hỏi thuộc bảng khảo sát mà tôi đã thực
hiện, nhằm tìm hiểu về thái độ của SV đối với các vấn đề xã hội và kết quả là
có 45% số SV tham gia khảo sát trả lời là bình thường, 36% cho rằng không
quan tâm đến vấn đề trên và 19% nhận xét là cảm thấy khó chịu và không thể
chấp nhận. Điều đó có nghĩa chỉ gần một nửa trong số SV tham gia khảo sát có
cách nhìn nhận khách quan về các vấn đề xã hội, trong hơn một nửa còn lại thì
có khoảng 1/3 lại có cách nhìn tiêu cực hơn và 2/3 cuối cùng thì tỏ ra không
quan tâm đến. “Les” và “Gay” là hai từ dùng đại diện cho một loại giới tính
mới - giới đồng tính, hiện tại đã có nhiều nước chấp nhận sự tồn tại của loại
giới tính này, ví dụ như Úc, Úc là nước bảo vệ và cho phép những người đồng
tính kết hôn và chung sống với nhau. Có thể thấy đây chỉ là một trong nhiều
vấn đề xuất phát từ sự phát triển của cuộc sống và xã hội, những vấn đề này
không chỉ tồn tại ở một nước, ngược lại nó hiện diện trên toàn cầu. Đối với các
vấn đề không mới này, thay vì cảm thấy bực mình, khó chịu, SV nên có một
cách nhìn thoáng hơn, khi chấp nhận thực tế, SV sẽ dễ dàng hòa nhập và sống
chung với những vấn đề của xã hội.
• Bên cạnh cách nhìn nhận, điều đáng nói chính là trách nhiệm của bản thân
đối với xã hội. Sự thiếu quan tâm của một nhóm SV về các vấn đề xã hội
chứng tỏ SV đó chỉ sống vì lợi ích cá nhân, không nghĩ đến lợi ích cộng đồng.
Thực tế ở chỗ SV chúng ta chỉ muốn nhận chứ ít khi nghĩ là sẽ cho đi, chính vì
quá đặt nặng vấn đề lợi ích nên SV dần mất đi những hành động mang nghĩa
cử cao đẹp, đó là sự thụt lùi trong văn hóa của SV hiện nay. Hằng năm khi các
đợt lũ lụt, mưa bão đổ bộ vào nước ta, cả nước đều hướng sự quan tâm về
những nơi gánh chịu thiệt hại nặng, từ người già cho đến trẻ con, mọi người
thể hiện sự quan tâm của mình bằng những đóng góp thiết thực về vật chất và
tình cảm, đó không chỉ là sự chia sẻ, cảm thông, mà đó còn là trách nhiệm của
một công dân trước một vấn đề lớn của đất nước. Hay những công ty luôn có
một quỹ để tài trợ, ủng hộ cho những chương trình từ thiện, các học bổng dành
cho học sinh hiếu học, việc làm trên có thể nhằm cho mục đích đưa danh tiếng
của công ty đi xa, nhưng nó vừa thể hiện được trách nhiệm của doanh nghiệp

2% SV là cho rằng vấn đề đó quá xá vời và không quan tâm đến. Số liệu trên
chỉ ra rằng trong tâm hồn mỗi SV đều tồn tại những vẻ đẹp riêng, những vẻ
đẹp mà SV chưa khám phá ra được rằng bản thân đang nắm giữ, chưa cảm
nhận được đến đỉnh cao của cảm xúc mà mỗi nét đẹp đem lại.
• SV đa số là ở các tỉnh, nên việc sống xa nhà, không nhận được sự quan tâm
thường xuyên từ gia đình dẫn đến việc dễ cảm thấy thiếu thốn về mặt tình
cảm. Trong khi đó con người dù ở đâu, vùng miền nào đều mang trong mình
những phẩm chất cao đẹp về đạo đức, ở thành phố hay nông thôn, chúng ta
vẫn có lòng yêu nước, niềm tự hào về dân tộc Việt Nam, hay là sự cảm thông
trước những hoàn cảnh thương tâm, sự đau khổ của người khác. Tình cảm
luôn hiện hữu ở khắp mọi nơi, mọi ngõ ngách của cuộc sống, nếu biết cách
đón nhận thì đó sẽ chính là mảnh vá cho khoãng trống đang thiếu hụt trong
tâm hồn mỗi SV.
• Điều đáng lo ngại là SV đang dần theo đuổi cuộc sống “thực dụng”, tất cả
điều quy ra tiền hoặc vật chất, cuộc sống tình cảm, tâm hồn dần bị đồng tiền
hóa, khiến cho cuộc sống trở nên cứng nhắc và dễ đi vào bế tắc khi không có
đủ những điều kiện về vật chất. Vấn đề nữa đáng đề cập đến là hầu hết SV đều
biết đến chỉ số IQ (Intelligence Quotient - chỉ số thông minh), nhưng lại chưa
đủ tầm nhìn về chỉ số EQ (Emotional Quotient - chỉ số cảm xúc), dẫn đến việc
SV chỉ cố gắng học thêm để nhằm bù đắp cho những lỗ hỏng về kiến thức mà
quên đi rằng, cảm xúc của SV cũng đang ở mức độ nghèo nàn, cần được quan
tâm đến, giống như “Lợi ích và trách nhiệm”, “Trí tuệ và cảm xúc” cũng có
mối quan hệ gắn bó song song với nhau.
• Có câu hỏi đặt ra là nếu SV sống có “tình yêu”, SV sẽ được những lợi ích
gì? Tình yêu tồn tại trong suy nghĩ và được thể hiện ra bằng những hành động,
cũng giống như nhận thức của SV đối với việc học và phương pháp học như
thế nào thì SV sẽ thực hiện theo đúng như vậy trong thực tế. Vậy nếu SV có
được cái gọi là tình yêu, SV sẽ có được cách nhìn lạc quan hơn đối với tất cả
mọi vấn đề, từ lớn đến nhỏ, từ đơn giản đến phức tạp, từ đó tìm ra những cách
giải quyết hoàn thiện ở nhiều khía cạnh của vấn đề. Cái tiếp theo SV có được

%
• 3
7
%
• 1
7
%
• 2 • Vào yahoo
• 1
1
%
• 1
6
%
• 2
0
%
• 2
7
%
• 2
6
%
• 3
• Vào mạng xã hội (vd: facebook,
twitter, blog…)
• 1
6
%
• 1

• 6
%
• 2
1
%
• 3
2
%
• 3
5
%
• 6 • Đọc báo, tin tức
• 2
%
• 6
%
• 1
7
%
• 3
6
%
• 3
9
%
• 7 • Chơi game
• 3
4
%
• 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status