MỤC LỤC
Trang
Phong trào nông nghiệp hữu cơ phát triển mạnh và được khởi xướng tại một sô quốc gia
như Nam Mỹ như Brazin, Mexico, Mỹ hay một số nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, New
Zealand, Thái Lan, Phillipine, Vì vậy, tại các quốc gia này, xu hướng áp dụng PGS khá
phổ biến. Đã có nhiều công trình nghiên cứu tại các nước này nhằm giới thiệu về mô hình
PGS, phân tích những lợi ích đạt được cũng như chia sẻ những kinh nghiệm, những khó
khăn mà các chuỗi sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại các nước này gặp phải trong quá trình
triển khai và vận hành hệ thống PGS. Một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu về PGS
tại các nước như Mexico, Brazil, Ấn Độ, Nepal và Italia, đó là: 6
- Nelson, E, Gómez Tovar, L, Schwentesius, R & Gómez Cruz, M., Participatory
Guarantee Systems: New Approaches to Organic Certification - The Case of Mexico,
2009 6
Nghiên cứu đã nêu lên kinh nghiệm triển khai hệ thống PGS ở Mexico. Nghiên cứu được
thực hiện dựa trên phương pháp quan sát hiện trường và phỏng vấn chuyên sâu do nhóm
tác giả thực hiện trong suốt khóa học về đào tạo và thúc đẩy áp dụng PGS tại Chapingo
cũng như 16 thị trường hình thành nên mạng lưới thị trường thực phẩm và nông nghiệp
hữu cơ ở Mexico 7
- Claudia Hochreiter, Certified with trust and solidarity? Attitude, benefits, and challenges
of organic farmers in paticipatory guarantee systems (PGS), Cacahoatán, Mexico, Master
thesis, 2011 7
Nghiên cứu đã đưa ra một số nội dung lý thuyết cơ bản của hệ thống đảm bảo cùng tham
gia như sự ra đời và đặc trưng của hệ thống, các yếu tố ảnh hưởng, quá trình chứng nhận,
tình hình chứng nhận hệ thống trên toàn cầu, những lợi ích và hạn chế của hệ thống. Thông
qua nghiên cứu điển hình về áp dụng PGS ở Mexico, tác giả đã làm rõ quá trình triển khai,
các đặc trưng cơ bản, lợi ích, thách thức và kinh nghiệm áp dụng hệ thống đảm bảo cùng
tham gia PGS ở quốc gia Nam Mỹ này. Đặc biệt, tác giả đã đi sâu nghiên cứu về thái độ,
lợi ích, thách thức phải đối mặt đối với các hộ nông dân khi tham gia mô hình PGS 7
- Zanasi, C., Venturi P, Impact of the adoption of participatory guarantee systems (PGS)
for organic certification for small farmers in developing countries: the case of Rede
Ecovida in Brasil, 2008 7
challenges of organic farmers in paticipatory guarantee systems (PGS), Cacahoatán,
Mexico, Master thesis, 2011 71
7. Nelson, E, Gómez Tovar, L, Schwentesius, R & Gómez Cruz, M., Participatory
Guarantee Systems: New Approaches to Organic Certification - The Case of Mexico,
2009 71
12. Zanasi, C., Venturi P, Impact of the adoption of participatory guarantee systems (PGS)
for organic certification for small farmers in developing countries: the case of Rede
Ecovida in Brasil, 2008 72
13. Raffaele Zanoli, Danilo Gambelli, Francesco Solfanelli, Effectiveness of organic
certification: A study on an Italian organic certification’ data, 2012 72
14. Ron Khosla, A participatory Organic Guarantee System for India, Final Report of
FAO, 2006 72
15. Salil Bhattarai, Michael Lyne, and Sandra Martine, Assessing performent of supply
chains from a smallholder perspective: A model of farmer – buyer engagement and its
application in Nepal, 2012 72
16. Vincent Darlong, Harmonizing Jhum (Shifting Cultivation) with PGS Organic
Standards in Northeast India: Key features and characteristics of Jhum for process
harmonization, 2008 72
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tình trạng đáng báo động về ATVSTP hiện nay, nhu cầu mua và sử dụng thực
phẩm an toàn là rất lớn. Đây cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm rất lớn của nhà
nước, các cấp các ngành và của toàn xã hội. Đã có nhiều chương trình, dự án, đề án tập
trung nghiên cứu, tìm giải pháp cho việc xây dựng các chuỗi hay các hình thức liên kết
trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn, thúc đẩy áp dụng các tiêu chuẩn, kỹ
thuật sản xuất tiên tiến, các mô hình quản lý chất lượng hiện đại nhằm đảm bảo chất
lượng và an toàn thực phẩm cũng như thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và cả tiêu thụ thực
2
phẩm an toàn ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo ước tính, lượng thực phẩm được sản xuất
và kinh doanh theo những mô hình này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, vẫn chưa đáp ứng
3
thế giới như Mỹ, Ấn Độ, Brazil…nhưng ở Việt Nam nó chỉ mới xuất hiện từ năm
2008 đến nay. Vì vậy, PGS còn là một khái niệm mới mẻ với người tiêu dùng cũng
như là một mô hình mới trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn ở Việt Nam.
Có thể thấy, trong bối cảnh này thì mô hình đảm bảo chất lượng cùng tham
gia PGS là một mô hình phù hợp có thể giải quyết bài toán nan giải này ở Việt Nam
hiện nay. PGS là một dạng hệ thống quản lý chất lượng dựa trên tiêu chuẩn, áp
dụng trong sản xuất và kinh doanh nông sản thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ, đảm
bảo sự an toàn và chất lượng sản phẩm. Đây cũng là mô hình mới về hệ thống đảm
bảo chất lượng với tính ưu việt nổi trội là quản lý chất lượng tập trung chủ yếu
tại cộng đồng, đòi hỏi sự tham gia giám sát của tất cả các thành viên trong
chuỗi cung ứng (hộ trồng trọt/chăn nuôi, nhà sản xuất, chế biến, nhà phân
phối, nhà bán lẻ, khách hàng,…) và các bên quan tâm. Chính sự vận hành
theo cơ chế này sẽ gia tăng sự giám sát và thúc đẩy niềm tin của các thành viên
trong chuỗi, đặc biệt là của khách hàng với các sản phẩm của chuỗi. Khác với
các mô hình quản lý chất lượng khác, mô hình PGS là mô hình đảm bảo chất
lượng vừa mang tính khoa học, vừa mang tính hiện đại, vận hành theo cơ chế
chuỗi với các bên liên quan nhưng lại đặc biệt có sự phù hợp cao với điều kiện
sản xuất và kinh doanh nông sản, thực phẩm ở Việt Nam như sản xuất quy mô
nhỏ, kênh hàng ngắn, chi phí thấp.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu mô hình
đảm bảo chất lượng cùng tham gia PGS”. Chúng tôi hy vọng sẽ đóng một vai trò
nhất định để giúp người tiêu dùng biết nhiều hơn và tin tưởng về mô hình PGS, đồng
thời khẳng định rõ hơn PGS là chứng nhận đáng tin cậy cho các sản phẩm hữu cơ.
2. Tổng quan nghiên cứu đề tài.
2.1 Nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, đã có một số các công trình nghiên cứu tiến hành nghiên cứu
về hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS. Trong đó, các nghiên cứu tập trung làm
rõ những tác động và vai trò, lợi ích cũng như sự phù hợp của mô hình này đối vơi
điều kiện sản xuất kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, đặc biệt tại các
mục đích đánh giá hiệu quả và chi phí về việc triển khai các mô hình khác nhau
trong nông nghiệp hữu cơ, trên cơ sở đó đánh giá triển vọng của các mô hình chứng
nhận này, trong đó co mô hình đảm bảo cùng tham gia PGS.
5
- Alexandre Meybeck, Suzanne Redfern, Voluntary standards for sustainable food
systems: Challenges and opportunities, A workshop of the FAO/UNEP –
Programme on sustainable food systems, 2013
Kỷ yếu hội thảo bao gồm tập hợp các bài viết, bài nghiên cứu, thông tin về các tiêu
chuẩn trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm nhằm hướng tới một nền sản xuất
thực phẩm bền vững và an toàn. Trong đó có giới thiệu về các tiêu chuẩn, các mô
hình, cách thức áp dụng, vận hành, các điển hình, bài học kinh nghiệm cũng như
các cơ hội và thách thức khi áp dụng các tiêu chuẩn và mô hình này ở các quốc gia
khác nhau, bao gồm cả mô hình đảm bảo cùng tham gia PGS.
- Pilar Santacoloma, Ph.D, Marketing strategies and organisational structures
under different organic certification schemes, 2008
Mục đích của nghiên cứu là tiến hành so sánh cấu trúc tổ chức và chiến lược
marketing trong các chuỗi cung ứng thực phẩm hữu cơ được vận hành theo 3 mô
hình chứng nhận khác nhau ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi. Mô
hình thứ nhất là sự chứng nhận của bên thứ ba với từng thành viên trong chuỗi
cung ứng, được biết đến như những chứng nhận mang tính quốc tế. Mô hình thứ hai
cũng dựa trên chứng nhận của bên thứ ba nhưng trong đó các nông hộ quy mô nhỏ
có thể được chứng nhận theo nhóm - được gọi là hệ thống kiểm soát nội bộ ICS.
Mô hình thứ ba là hệ thống chứng nhận về đảm bảo cùng tham gia PGS.
Phong trào nông nghiệp hữu cơ phát triển mạnh và được khởi xướng tại một
sô quốc gia như Nam Mỹ như Brazin, Mexico, Mỹ hay một số nền kinh tế mới nổi
như Ấn Độ, New Zealand, Thái Lan, Phillipine, Vì vậy, tại các quốc gia này, xu
hướng áp dụng PGS khá phổ biến. Đã có nhiều công trình nghiên cứu tại các nước
này nhằm giới thiệu về mô hình PGS, phân tích những lợi ích đạt được cũng như
chia sẻ những kinh nghiệm, những khó khăn mà các chuỗi sản xuất nông nghiệp
hữu cơ tại các nước này gặp phải trong quá trình triển khai và vận hành hệ thống
tiếp cận cùng tham gia theo mô hình PGS đến kinh tế địa phương, sự phát triển của môi
trường và xã hội. Nghiên cứu cũng cho thấy vai trò của nhóm nông hộ trong việc tăng
cường lòng tin đối với thực phẩm hữu cơ trong cộng đồng địa phương.
- Zanasi, C.
1
, Venturi P
2
, Impact of the adoption of participatory guarantee systems
(PGS) for organic certification for small farmers in developing countries: the case
of Rede Ecovida in Brasil, 2008
1
DIPROVAL – Economic Unit- Bologna University, via F.lli Rosselli 107, 42100 Reggio Emilia, Italy E-Mail
2
DIPROVAL – Rural Engineering Unit - Bologna University, via F.lli Rosselli 107, 42100 Reggio Emilia, Italy
7
Mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ nền tảng lý thuyết nhằm xác định các đặc trưng
của hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS cũng như vai trò của nó trong việc thúc
đẩy thị trường thực phẩm địa phương, sự gắn kết cộng đồng xã hội và sự xâm nhập
vào các thị trường xuất khẩu
- Fonseca, M.F. Wilkinson, J . Egelyng, H . Mascarenhas, G.C.C, The
instutitionalization of participatory guarantee systems (PGS) in Brazin: Organic
and fair trade initiatives, 2008.
Nghiên cứu dựa trên những phân tích và mô tả những nhóm tham gia trong các hệ
thống chứng nhận PGS ở Braxin. Đánh giá những động cơ và các phương pháp có
liên quan nhằm phát triển hệ thống này. Nghiên cứu cũng xác định các nguyên tắc,
tiêu chuẩn, thách thức và hạn chế và kinh nghiệm triển khai hệ thống ở Braxin.
- Laercio, Meirelles, Regulation of participatory gurantee systems in Brazil – A
case study, 2010.
PGS là một hệ thống chứng nhận hữu cơ được áp dụng khá phổ biến trong sản xuất nông
nghiệp hữu cơ ở Braxin. Nghiên cứu này làm nổi bật những yếu tố quan trọng trong quá
certification: A study on an Italian organic certification’ data, 2012
Mục đích của nghiên cứu là thực hiện một mô hình dựa trên phân tích rủi ro trong
kiểm tra và chứng nhận sản phẩm hữu cơ, trong đó có chứng nhận PGS. Nghiên cứu
được phân tích dựa trên những dữ liệu thu thập được từ hệ thống chứng nhận hữu
cơ của Italian trong giai đoạn từ 2007 đến 2009.
2.2. Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, sản xuất và kinh doanh sản phẩm hữu cơ (thực phẩm sạch, an
toàn) mới chỉ được nhắc đến trong một vài năm trở lại đây. Năm 2006, Bộ
NN&PTNT đã ban hành Bộ tiêu chuẩn Quốc gia cho các sản phẩm hữu cơ tại Việt
Nam. Tuy nhiên, những thủ tục cấp giấy chứng nhận sản phẩm hữu cơ lại không
được mô tả trong bộ tiêu chuẩn này. Vì vậy, dù sản phẩm hữu cơ có được sản xuất
ra cũng khó có thể tạo được niêm tin với người tiêu dùng. Vì vậy, sự ra đời của tiêu
chuẩn PGS cùng các mô hình sản xuất và liên kết chuỗi theo hệ thống này sẽ giúp
giải quyết những mâu thuẫn và những khoảng trống mà cả người sản xuất (hộ nông
dân), các nhà phân phối, kinh doanh, người tiêu dùng và các bên liên quan đang
rất quan tâm. Hai tiêu chuẩn PGS chính trong hệ thống các tiêu chuẩn PGS, đó là:
Tiêu chuẩn PGS cho nhà sản xuất và tiêu chuẩn PGS cho nhà bán lẻ cùng một số
tài liệu và cẩm nang hướng dẫn đã được xây dựng nhằm giới thiệu về tiêu chuẩn,
mô hình và chia sẻ kinh nghiệm, cách thức xây dựng và triển khai hệ thống
- Ban điều phối PGS Việt Nam, Tiêu chuẩn hữu cơ PGS, 2013.
9
Đây là bộ tiêu chuẩn PGS áp dụng cho các nhà sản xuất bao gồm cả trồng trọt và chăn
nuôi. Tiêu chuẩn về vận hành, chế biến và bán lẻ các sản phẩm hữu cơ. Những tiêu chuẩn
này tạo điều kiện cho PGS Việt Nam cung cấp dịch vụ chứng nhận cho các sản phẩm
trồng trọt và chăn nuôi hữu cơ từ sản xuất đến bán hàng và cho đến người tiêu dùng.
- Ban điều phối PGS Việt Nam, Tiêu chuẩn PGS cho đối tượng bán lẻ, 2011.
Tiêu chuẩn trình bày những yêu cầu của PGS đối với nhà bán lẻ, thủ tục đăng ký
PGS, các phương pháp thanh tra và cấp giấy chứng nhận PGS cho nhà bán lẻ.
- ADDA, PGS – Hệ thống giám sát có sự tham gia cho sản phẩm hữu cơ – Cẩm
nang hoạt động cho người sản xuất, 2009
nhỏ ở Việt Nam hiện nay, và sẽ là hướng đi mới, giải pháp mới để giải quyết những
khó khăn và thúc đẩy đầu ra cho sản xuất và kinh doanh rau an toàn ở Việt Nam
Tóm lại, Hệ thống đảm bảo chất lượng cùng tham gia – PGS là một hệ thống
quản lý chất lượng được áp dụng trong sản xuất thực phẩm an toàn có nguồn gốc
hữu cơ, mặc dù đã được áp dụng khá phổ biến ở một số quốc gia trên thế giới
nhưng vẫn còn là khá mới ở Việt Nam. Chưa có nhiều công trình nghiên cứu về hệ
thống này. Mặc dù vậy, đây là một mô hình đảm bảo chất lượng dựa trên quan
điểm tiếp cận hiện đại – quan điểm chuỗi giá trị, cũng như đặc biệt phù hợp với
điều kiện sản xuất, canh tác nông nghiệp quy mô nhỏ ở Việt Nam. Vì vậy, để thúc
đẩy sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ thực phẩm an toàn, cần đẩy mạnh việc triển
khai và áp dụng PGS ở Việt Nam cũng như cần có những hệ thống cơ sở lý luận và
những nghiên cứu chuyên sâu về mô hình này.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
* Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu mô hình đảm bảo chất lượng cùng tham gia - PGS trong sản xuất và
cung ứng thực phẩm hữu cơ .
* Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của mô hình mô hình đảm bảo có sự tham gia PGS.
- Nghiên cứu việc áp dụng và thực trạng áp dụng mô hình PGS trong sản xuất
và cung ứng thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam
- Từ việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng, đưa ra một số
giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cương áp dụng mô hình PGS
trong sản xuất và kinh doanh thực phẩm hữu cơ nhằm thúc đẩy sản xuất đồng thời
11
thu hút và tạo sự tin tưởng của khách hàng với những loại thực phẩm an toàn, tiếp
tục mở rộng và phát triển việc áp dụng mô hình PGS tại Việt Nam
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình đảm
bảo chất lượng cùng tham gia PGS (Participatory Guarantee System) và ứng dụng
mô hình trong chuỗi sản xuất, kinh doanh thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam
- Phương pháp điều tra trắc nghiệm: Phát phiếu điều tra về tình hình kinh
doanh và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ được chứng nhận PGS tại các cửa hàng trong hệ
thống PGS tại Hà Nội.
6. Kết cấu đề tài
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về mô hình đảm bảo chất lượng cùng tham gia PGS
(Participatory Guarantee System).
Chương 2: Thực trạng triển khai và áp dụng mô hình PGS trong sản xuất và kinh
doanh thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường áp dụng mô hình PGS ở
Việt Nam.
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG
CÙNG THAM GIA - PGS (PARTICIPATORY GUARANTEE SYSTEM)
1.1 Giới thiệu chung về PGS
1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản
Theo tiêu chuẩn về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và chế biến (10TCN602:2006)
- Hữu cơ: Được sản xuất bằng các phương pháp quản lý sản xuất đặc biệt trong đó
có chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và đất; Không được phép sử dụng các hóa
chất hóa học tổng hợp (kể cả thuốc trừ sâu và phân bón hóa học) (trừ những chất
cho phép được liệt kê trong phụ lục 1 của tiêu chuẩn).
- Nông nghiệp hữu cơ: Là hệ thống đồng bộ hướng tới việc thực hiện các quá trình
sản xuất với kết quả là bảo đảm hệ sinh thái bền vững, thực phẩm an toàn, chất
lượng tốt, chăm sóc chu đáo động vật và công bằng xã hội; Là hệ thống sản xuất
13
không sử dụng hoặc loại trừ các chất hóa học tổng hợp trong các vật tư đầu vào, tạo
điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín vật chất trong hệ canh tác, chỉ được sử dụng
các vật tư được quy định trong tiêu chuẩn này.
- PGS - “Hệ thống đảm bảo chất lượng cùng tham gia PGS” là hệ thống đảm bảo
dựa vào sự tham gia của các tổ chức và con người có tham gia trực tiếp vào chuỗi
cung cấp hữu cơ.
nhận PGS là một hệ thống đảm bảo có giá trị cho các sản phẩm hữu cơ đặc biệt là
cho thị trường nội địa. IFOAM sau đó đã lập ra một ban chuyên trách để phát triển
phương pháp PGS cụ thể hơn. Đã có rất nhiều nước trên thế giới tham gia ứng dụng
mô hình này vào thực tế sản xuất để phục vụ nhu cầu sử dụng như : New Zealand,
Mỹ, các nước châu Á như Ấn Độ, Thái Lan và một số nước ở châu Mỹ La Tinh như
Brazil, Peru. Khi ứng dụng hệ thống đảm bảo chất lượng cùng tham gia PGS ở các
nước này, cả nông dân và người tiêu dùng đã cùng đóng góp và xây dựng cho hệ
thống PGS thêm hoàn thiện, từ đó đưa PGS trở lại phục vụ cho họ. Song ở mỗi
nước, với mỗi một điều kiện tự nhiên và con người khác nhau, hệ thống PGS phải
được xây dựng và áp dụng một cách hợp lý.Bởi vậy mà hệ thống PGS ở mỗi một
quốc gia lại có một phương pháp và quy trình riêng, sao cho đó có thể phù hợp và
dễ thích nghi nhất với điều kiện thực tế của địa phương áp dụng.Tuy nhiên những
nguyên tắc cơ bản khi thực hiện việc ứng dụng hệ thống đảm bảo chất lượng cùng
tham gia PGS đều nhất quán.
Tại Việt Nam, với sự hỗ trợ của IFOAM, dự án ADDA- VNFU đã giới thiệu
ý tưởng PGS tới các nhà sản xuất, thương lái, người tiêu dùng mà dự án đang cùng
làm việc cũng như với một số nhà nghiên cứu và các tổ chức phi chính phủ tại địa
phương. ADDA là “Dự án Phát triển Nông nghiệp Hữu cơ”được tài trợ bởi Tổ
chức Phát triển Nông nghiệp Châu Á, Đan Mạch (ADDA) – Tổ chức Phi chính phủ
của Đan Mạch, phối hợp thực hiện với Hội Nông dân Việt Nam từ tháng 11/2005
đến tháng 10/2012 tại các tỉnh phía bắc bao gồm: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh,
Bắc Giang, Hải Phòng, Hòa Bình, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Tĩnh. Từ tháng
11/2010 đến tháng 12/2012, Dự án lựa chọn các nhóm nông dân tiềm năng, thực sự
mong muốn và quyết tâm làm nông nghiệp hữu cơ tại Sóc Sơn (Hà Nội) và Lương
Sơn (Hòa Bình) để tiếp tục củng cố và phát triển sản xuất hữu cơ một cách bền
vững. Năm 2008, các bên liên quan đã đồng ý thiết lập hệ thống PGS (participatory
guarantee system) là hệ thống đảm bảo chất lượng sản phẩm hữu cơ . Từ năm 2009
15
đến 2011, dự án đã tiến hành phát triển hệ thống PGS, bao gồm: Cơ cấu tổ chức,
thiết lập tiêu chuẩn, phương pháp giám sát và đánh giá, mẫu biểu, thủ tục đăng ký;
tới người tiêu dùng.
Khi tham gia, các thành viên cần phải:
Ở mức độ cá nhân
- Thực sự hứng thú làm canh tác hữu cơ chứ không vì tiền.
- Thực sự hiểu và tuân thủ theo các tiêu chuẩn hữu cơ.
- Quyết tâm (thể hiện trong việc hoàn thành một bản cam kết)
Ở mức độ nhóm
- Cùng rà soát lại nhau (kiểm tra chéo)
- Kiểm tra không chính thức bằng cách thường ngày các thành viên quan sát
nhau khi thực hiện các hoạt động ở trang trại (áp lực đồng sự).
- Kiểm tra chính thức bởi thanh tra và được lưu lại thành các văn bản.
- Chia sẻ và trợ giúp nhau giải quyết vấn đề (cùng chủ động).
Việc chia sẻ và giúp đỡ nhau trong nhóm được thể hiện ở chỗ mọi người
cùng nhau tìm cách giải quyết khi có khó khăn nào nảy sinh. VD: ở giai đoạn đầu,
nếu có vấn đề về sâu bệnh được xác định, nông dân có thể cùng nhau bàn bạc tìm
cách giải quyết vấn đề bằng các phương tiện hữu cơ để tránh tình trạng một nông
dân trong nhóm không tìm ra cách giải quyết hữu cơ nào phù hợp và quyết định sử
dụng thuốc trừ sâu.
Tuy nhiên mọi người trong hệ thống PGS đều chung quan điểm: để các thành
viên bên ngoài cùng tham gia vào quá trình áp dụng hệ thống PGS là một diều tốt mà
qua đó tính tin cậy của các sản phẩm PGS càng được khẳng định và thể hiện rõ hơn.
1.1.4 Mục tiêu và lợi ích áp dụng
Mục tiêu của PGS dựa trên mục tiêu của các cơ quan chứng nhận từ bên
ngoài, đó là cung cấp một hệ thống đảm bảo đáng tin cậy cho người tiêu dùng đang
tìm kiếm và có nhu cầu sử dụng các sản phẩm hữu cơ.
Phương pháp của hệ thống PGS là khuyến khích hoặc thậm chí có thể yêu cầu
sự tham gia trực tiếp của người nông dân và người tiêu dùng vào quá trình cấp chứng
nhận để đảm bảo yếu tố khách quan với người sử dụng. Sự tham gia trực tiếp này giúp
các chương trình của PGS giảm bớt được các công việc giấy tờ và ghi chép hồ sơ, đồng
17
điều hành văn hoá, xã hội khác nhau và cung cấp sự giám sát cần thiết để đảm bảo
18
tính liêm chính cho nông dân làm hữu cơ của họ. Những giá trị này là không thay
đổi trong suốt quá trình chứng nhận.
Minh bạch
Tất cả các bên liên quan, gồm cả nông dân, bắt buộc phải hiểu chính xác bộ
máy đảm bảo PGS sẽ hoạt động như thế nào và việc ra các quyết định được tiến
hành ra sao. Điều này không có nghĩa là mọi chi tiết đều được tất cả mọi người
cùng biết. Nhưng tất cả mọi người cần phải có những hiểu biết cơ bản về các chức
năng của hệ thống. Ví dụ:
* Mọi người cần phải hiểu ra quyết định cấp chứng nhận được dựa trên những
tiêu chí nào, đặc biệt là lý do tại sao một số trang trại lại không được cấp
chứng nhận.
* Những tài liệu sẵn có về PGS
* Những tài liệu này sẵn có cho tất cả các bên có mối quan tâm về hữu cơ có
thể sử dụng
* Tuy nhiên những thông tin riêng và thông tin nhạy cảm về thương mại được
thu thập trong quá trình thực hiện PGS phải được bảo mật.
Cùng hợp tác và cùng chịu trách nhiệm:
Hệ thống PGS không thể hoạt động nếu thiếu sự hợp tác giữa các thành viên.
Trong PGS, ở các cấp khác nhau đều có những trách nhiệm riêng được xác định rõ và
ở tất cả các cấp, tất cả các bên liên quan đều chia sẻ trách nhiệm trong hoạt động PGS.
Phát triển
Bằng việc tham gia hệ thống PGS, các đối tác khác nhau sẽ cùng phát triển
năng lực riêng của mình để lập kế hoạch và quản lí các hoạt động cụ thể. Khi tiến
trình ra quyết định được phân quyền, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo sự
năng động và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên PGS.
Chia sẻ niềm tin “Thức ăn lành cho cuộc sống khỏe mạnh”.
Một trong những điều cốt lõi đó là những người tham gia vào PGS cùng
chia sẻ niềm tin của họ vào điều ăn thức thức ăn lành là cách để có cuộc sống khỏe
• Thu thập các bản cam kết của thành viên và đảm bảo rằng các thành viên
hiểu rõ về các tiêu chuẩn của PGS.
• Lập kế hoạch sản xuất của nhóm và tuyên truyền các sản phẩm của nhóm.
• Tiến hành kiểm tra chéo định kỳ ( kiểm tra của thanh tra ) cho tất cả các
thành viên nhóm.
• Thúc đẩy các thành viên trong nhóm đạt được mục đích và mục tiêu của nhóm.
• Đảm bảo tính công bằng và tránh xung đột quyền lợi giữa các thành viên.
- Tạo dựng một nhóm sản xuất:
• Bất cứ nông dân nào cũng có thể khởi đầu thành lập một nhóm sản xuất của
những nông dân làm hữu cơ. Nhóm sản xuất cần có ít nhất 5 thành viên. Nhóm phải
nằm ở tại địa phương (cụ thể là các thành viên phải quen nhau và biết đồng ruộng
sản xuất của nhau).
• Các thành viên nhóm sản xuất co hệ thống sản xuất tương tự nhau.
• Để hình thành một nhóm, nông dân phải hoàn thành “bản đăng ký tham gia
PGS của nhóm sản xuất” và gửi tới Ban điều phối PGS.
• Ban điều phối sẽ sắp xếp đưa nhóm sản xuất vào trong liên nhóm thích hợp.
Trưởng của liên nhóm sẽ liên hệ trực tiếp với nhóm sản xuất. Tiến trình này sẽ bắt
đầu bằng việc đào tạo nông dân trong nhóm sản xuất về các tiêu chuẩn hữu cơ của
PGS và hoàn thành đơn cam kết của mình.
• Nhóm sản xuất sẽ phải đảm bảo rằng tất cả các thành viên đang canh tác
hoặc chế biến hữu cơ sẽ hoàn thành đơn cam kết, đọc và học những tài liệu cơ bản
nhất về PGS được cung cấp.
- Chức năng của nhóm sản xuất
• Nhóm sản xuất tự xây dựng nội quy, quy chế của riêng mình, sử dụng
biểu mẫu được liên nhóm cung cấp. Nội quy, quy chế của nhóm cần được thảo
21
luận và đồng ý bởi tất cả các thành viên trong buổi họp đầu tiên và sau đó được
viết lại thành văn bản. Một bản copy những nội quy quy chế này được gửi đến
nhóm điều phối xem xét để bảo đảm rằng không có mẫu thuẫn với các quy định
chung của PGS ( được ghi trong cẩm nang hoạt động PGS).
như những hoạt động sản xuất của các thành viên.
• Điều phối tiến trình kiểm tra chéo
• Kiểm tra sổ sách của tiến trình kiểm tra chéo của mỗi nhóm sản xuất.
• Xem xét các tài liệu kiểm tra chéo của các nhóm và đôn đốc các hoạt
động khi cần
• Ra quyết định chứng nhận.
• Có các xử lý khi có gian lận hoặc sai phạm.
• Điều phối kế hoạch sản xuất cho tất cả các nhóm trong liên nhóm và
quảng bá các sản phẩm của liên nhóm.
• Thúc đẩy các thành viên liên nhóm đạt được các mục tiêu, mục đích của
liên nhóm
• Đảm bảo không có xung đột quyền lợi giữa các thành viên.
• Hàng năm báo cáo tới nhóm điều phối PGS theo đúng quy định.
- Thành lập liên nhóm:
• Trách nhiệm của việc thành lập liên nhóm phụ thuộc vào nhóm điều phối. Khi
nhận được một yêu cầu từ nông dân hoặc từ một nhóm sản xuất, quá trình hình
thành Liên nhóm sẽ bắt đầu.
• Các thành viên của liên nhóm sẽ bao gồm các nhóm trưởng của các nhóm
sản xuất cũng như các thành viên không phải là nông dân như cán bộ của các tổ
chức phi chính phủ, thương lái, các tổ chức của người tiêu dùng hoặc các tổ chức ở
địa phương như Hội Nông dân. (Các thương lái, các tổ chức phi chính phủ và tổ
chức của người tiêu dùng này cũng nên tự đăng kí là thành viên của PGS!)
• Trong Liên nhóm, các thành viên không phải là nông dân có thể góp phần soạn
thảo các báo cáo, bảo quản các số liệu và tham gia vào quá trình giám sát hoặc ra quyết
định. Họ sẽ cam kết làm thành viên cho Liên nhóm trong khoảng thời gian là 2 năm.
• Liên nhóm sẽ lựa chọn một ban Quản Lí trong số các thành viên liên
nhóm để chịu trách nhiệm cho các hoạt động chung của Liên nhóm.
• Trong quá trình cấp chứng nhận, Liên nhóm sẽ lựa chọn:
+ Hội đồng chứng nhận (số lượng các thành viên phụ thuộc vào Liên nhóm
nhưng nên bao gồm cả các thành viên là nông dân và không phải là nông dân). Vai
• Tiếp nhận các thông tin/ báo cáo từ Liên nhóm.
• Cấp giấy chứng nhận
• Quảng bá các sản phẩm hữu cơ
24
• Chịu trách nhiệm quản lí nhãn hiệu riêng của PGS (tên thương mại)
• Báo cáo tới các cấp cao hơn và các nhóm địa phương
• Quảng bá và liên hệ với các cơ quan thông tin đại chúng.
- Thành lập nhóm điều phối:
• Nhóm điều phối PGS gồm năm thành viên khác nhau trong hệ thống của
PGS tình nguyện tham gia. Trong phiên họp thường niên, các thành viên của
nhóm PGS sẽ chỉ định ra nhóm điều phối. Các thành viên của nhóm sẽ được chỉ
định trong hai năm. Cố gắng đảm bảo rằng các thành viên của nhóm điều phối có
đủ năng lực kĩ thuật để hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
• Nhóm điều phối sẽ chỉ định một hành chính viên. Người này sẽ chịu trách
nhiệm duy trì các cơ sở dữ liệu của hệ thống PGS, phát hành giấy chứng nhận và là
người liên lạc cho PGS và nhóm điều phối.
• Nhóm điều phối sẽ chỉ định một Hội đồng Tiêu Chuẩn để xem xét lại các
tiêu chuẩn hữu cơ và các đầu vào sản xuất được phép sử dụng. Những thay đổi
trong các tiêu chuẩn hữu cơ sẽ được trình lên cuộc họp thường niên của PGS để
phê chuẩn. Các thành viên của Hội đồng Tiêu Chuẩn có thể là những người bên
ngoài nhóm điều phối hoặc thậm chí bên ngoài các tổ chức thành viên của PGS, ví
dụ một chuyên viên từ Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn hoặc từ một
trường đại học.
• Nhóm điều phối có trách nhiệm cai quản toàn bộ hệ thống PGS đặc biệt về vấn
đề liêm chính và các tiêu chuẩn của hệ thống PGS. Mặc dù các liên nhóm chịu trách
nhiệm cho các hoạt động sản xuất thường ngày của các nhóm trực thuộc, tuy nhiên một
số công việc vẫn cần có sự trợ giúp của các chuyên gia kĩ thuật và quản lí ở cấp cao hơn.
• Để bảo vệ dấu niêm phong PGS, nhóm điều phối sẽ có quyền kiểm tra các
hoạt động trong nội bộ các nhóm sản xuất và liên nhóm khi có yêu cầu. Họ cấp
chứng nhận và cũng sẽ có quyền từ chối cấp chứng nhận.