Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay - Pdf 28



1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bộ máy nhà nước nói riêng và trong hệ thống chính trị nói
chung ở Việt Nam hiện nay, Tòa án nhân dân (TAND) có một vị trí đặc biệt
quan trọng. Với những đặc trưng của hoạt động xét xử, hệ thống tòa án có khả
năng đem đến cho các bên tranh tụng sự công bằng, góp phần thiết lập trật tự
xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống tòa án cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ
nếu những nguyên tắc sống còn của hoạt động tố tụng không được bảo đảm.
Khi đó, không những quyền lợi chính đáng của các đương sự không được bảo
đảm, mà uy tín của Nhà nước cũng bị giảm sút.
Trước tình hình trên, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ
ba (khóa VIII), Đảng đã đặt vấn đề tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của
Quốc hội, trong đó có giám sát hoạt động xét xử của TAND. Tại kỳ họp thứ
ba, Quốc hội khóa XI năm 2003, Quốc hội đã thông qua Luật hoạt động giám
sát. Đây là đạo luật rất quan trọng, thể chế hóa đường lối của Đảng và cụ thể
hóa các quy định của Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về
trình tự, thủ tục thẩm quyền giám sát của Quốc hội nói chung và hoạt động
xét xử của hệ thống tòa án nói riêng. Trên cơ sở đường lối chủ trương của
Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, những năm qua công tác giám
sát của Quốc hội đối với công tác xét xử của Tòa án đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ. Thông qua hoạt động giám sát giúp cho hoạt động xét xử
của Tòa án, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hơn, tránh được những oan,
sai trong xét xử... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động
giám sát của Quốc hội đối với công tác xét xử của TAND cũng còn nhiều bất
cập như: hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này còn thiếu tính cụ thể.
Công tác giám sát còn mang tính thời điểm, không thường xuyên. Kiến thức
pháp luật nói chung và kiến thức pháp luật tố tụng nói riêng của các đại biểu

Nhà nước và Pháp luật, thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ 3
trì. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đáng chú ý như "Hoàn thiện cơ chế pháp lý
bảo đảm quyền con người ở nước ta" của TS. Lê Minh Thông, đặt vấn đề Quốc
hội cần thiết phải thành lập một ủy ban chuyên trách; GS.TSKH Đào Trí Úc:
"Về chức năng kinh tế, xã hội của nhà nước ta và những cơ sở hiến định của
cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước", đã đề cập vấn đề nghiên cứu, xem xét
việc thành lập cơ quan giám sát chuyên trách thuộc Quốc hội; bài viết "Giám
sát thực hiện quyền lực nhà nước" của tác giả Võ Khánh Vinh...
Nhóm thứ hai, nghiên cứu hoạt động giám sát trên một số lĩnh vực cụ thể
được thể hiện qua các công trình nghiên cứu sau: đề tài "Quyền giám sát của
Quốc hội với Tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân" do TS. Phạm Văn
Hùng chủ trì; Luận văn thạc sĩ luật học: "Nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt
động của ủy ban pháp luật Quốc hội ở nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn thị
Dung. Bài của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt " Một vài suy nghĩ về hoạt động giám
sát của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội" đã kiến nghị tăng cường
mối quan hệ phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện chức năng giám sát.
Liên quan tới vấn đề quyền giám sát của Quốc hội đối với tòa án trong
nhà nước tư sản đã có một số công trình nghiên cứu như "Luật Hiến pháp đối
chiếu" của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung; "Hệ thống chính trị Mỹ" của TS. Vũ
Đăng Hinh và các đồng tác giả...
Các công trình khoa học nói trên đã góp phần không nhỏ vào việc
nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung cũng như
TAND thời gian qua nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công
trình chuyên biệt nào nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội đối với
hoạt động xét xử của TAND. Mặc dù vậy, các công trình nói trên là những tài
liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn

cơ quan nhà nước nói riêng. 5
- Phương pháp nghiên cứu, để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ đặt ra,
luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng
như: phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, kết hợp các phương pháp khác
như: So sánh, thống kê, điều tra xã hội ...
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn "Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của Tòa
án nhân dân" là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn
diện có hệ thống cả lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Quốc hội
đối với TAND. Vì vậy, luận văn có những đóng góp khoa học mới cụ thể như
sau:
Đưa ra khái niệm, đặc điểm, giám sát của Quốc hội đối với hoạt động
xét xử của TAND.
Phân tích chỉ ra được thực trạng, nguyên nhân của hoạt động giám sát
của Quốc hội đối với TAND từ năm 2003 đến nay, trên cơ sở đó đưa ra hệ
giải pháp tăng cường giám sát của Quốc hội đối với TAND trong thời gian
tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa lý luận:
Với kết quả đạt được, luận văn làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận, cơ sở
pháp lý về giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND qua đó
nâng cao hơn nữa nhận thức của nhân dân nói chung, của cán bộ công chức
nhà nước nói riêng về vị trí pháp lý, vai trò tầm quan trọng của Quốc hội - là
một thiết quyền lực nhà nước.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát của Quốc hội đối với TAND.

pháp năm 1959, 1980, 1992 đã quy định rõ về chức năng xét xử của Tòa án,
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: "Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa
án nhân dân địa phương, các tòa án quân sự và các tòa án khác do luật định
là những cơ quan xét xử của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [12, tr.
71]. Trên cơ sở của Hiến pháp, Luật tổ chức TAND cũng đã quy định về
thẩm quyền xét xử của TAND. 8
Pháp luật tố tụng nước ta quy định nguyên tắc xét xử hai cấp, sơ thẩm
và phúc thẩm. Xét xử sơ thẩm vụ án là xét xử lần thứ nhất, là giai đoạn tố
tụng mở đầu cho toàn bộ hoạt động xét xử. Trong giai đoạn này, Hội đồng xét
xử sơ thẩm tiến hành các hoạt động tố tụng theo đúng thủ tục tố tụng, căn cứ
vào các tình tiết vụ án cụ thể, vào quy định của pháp luật lần đầu tiên nhân
danh Nhà nước ra bản án hoặc quyết định để giải quyết vụ án đó.
Xét xử phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng, Tòa án cấp trên trực tiếp xét
xử lại vụ án do Tòa án cấp dưới xét xử những bản án hoặc quyết định sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, nhằm sửa chữa sai lầm
của bản án hoặc quyết định sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử vụ án được nghiêm
minh, khách quan, đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Vậy xét xử là gì?
Theo Đại từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1998: "Xét xử; xét và xử
các vụ án nói chung" [45, tr. 1859].
Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng: "Xét xử; hoạt động do tòa
án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó tòa án sau khi nghiên cứu một
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải
quyết, xử lý vụ án bằng cách việc ra bản án và quyết định cần thiết có liên
quan" [29, tr. 418].
Với quan niệm xét xử như trên, có thể hiểu hoạt động xét xử của
TAND là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực của nhà nước, được
thực hiện thông qua thẩm phán và Hội đồng xét xử nhằm cá biệt hóa các quy

Thông tư liên tịch. Đây là hoạt động hết sức đặc trưng của hoạt động xét xử.
Bởi vì, TAND không phải là cơ quan lập pháp nhưng bằng thực tiễn công tác
của mình, TAND đã chỉ ra những quy định pháp luật còn mơ hồ, không rõ
ràng, hoặc khó hiểu, hoặc có quá nhiều cách hiểu khác nhau. Từ đó Tòa án
đưa ra cách hiểu và cách áp dụng thống nhất. Sự giải thích này, rõ ràng, có 10
ảnh hưởng tới quyền lợi ích của các đương sự, thậm chí, còn ảnh hưởng đến
quyết định của các cơ quan tổ chức có liên quan.
Ba là, hoạt động xét xử của TAND là hoạt động mang tính quyền lực
nhà nước.
Nói đến đặc trưng trong hoạt động xét xử không thể không nói đến
hoạt động ra bản án, quyết định của thẩm phán, đây là một hoạt động mang
tính quyền lực cao, nhân danh nhà nước và chỉ tuân theo pháp luật. Bản án,
quyết định của Hội đồng xét xử có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp của cơ quan tổ chức và mọi công dân. Trong đó có những quyền chỉ
Tòa án mới phán quyết được. Ví dụ, đó là quyền sống, quyền tự do của con
người. Tính quyền lực này được thể hiện ngay phần mở đầu của bản án, quyết
định, đó là "nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Tính
quyền lực này còn thể hiện trong các quy định của pháp luật buộc "bản án,
quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải
được mọi công dân, cơ quan tổ chức tôn trọng. cá nhân, cơ quan tổ chức có
nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của tòa án".
1.1.3. Nguyên tắc hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
Nguyên tắc hoạt động xét xử của TAND là những quan điểm, tư
tưởng cơ bản chỉ đạo toàn bộ quá trình tổ chức, thực hiện xét xử tại phiên tòa
nhằm đưa ra những bản án đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Theo quy
định của pháp luật hiện hành, nguyên tắc xét xử của TAND bao gồm những
điểm sau.

Đây là nguyên tắc quan trọng mang tính nền tảng đối với hoạt động
xét xử của TAND. Nguyên tắc này xuất phát từ đòi hỏi, yêu cầu của xã hội
dân chủ đồng thời. chống lại sự can thiệp của các cá nhân và cơ quan nhà
nước khác vào hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án
nói riêng. Ở Việt Nam, nguyên tắc này được thừa nhận ngay từ khi thành lập 12
Tòa án cách mạng. Tại Điều 47 Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 01 năm 1946
quy định "Tòa án tư pháp sẽ độc lập với cơ quan hành chính". Điều 69 Hiến
pháp năm 1946 cũng quy định: "Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ
tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp". Các bản Hiến
pháp 1959, 1980, 1992 cũng khẳng định nguyên tắc này. Điều 130 Hiến pháp
năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: "khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm
độc lập chỉ tuân theo pháp luật". Thực chất của nguyên tắc này là đảm bảo
cho hoạt động xét xử được độc lập không bị lệ thuộc bởi tác động của cơ quan
nào và cá nhân nào. Từ đó hoạt động xét xử mới đưa ra được phán quyết đúng
đắn kết quả chính xác. Nội dung của nguyên tắc này là khi xét xử thẩm phán
và Hội thẩm độc lập đánh giá chứng cứ thu thập được, độc lập xem xét tình
tiết vụ án, độc lập trong nhận định và vận dụng đúng quy định pháp luật để
đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Tòa án cấp trên cũng
không được dùng mệnh lệnh hành chính buộc Tòa án cấp dưới xử theo ý
mình. Đảng đối với Tòa án chủ yếu là bằng chủ trương, đường lối chính sách,
chứ không nhất thiết can thiệp vào các vụ án cụ thể.
Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòi hỏi các thẩm phán phải có trình
độ chuyên môn cao, tinh thông về pháp luật: Hội thẩm nhân dân phải có hiểu
biết về pháp luật về lĩnh vực được đề cập trong từng vụ án cụ thể.
1.1.3.3. Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Trên thế giới hiện nay có nhiều nước áp dụng một thẩm phán xét xử
đối với những vụ án đơn giản. Tuy nhiên, các vụ án phức tạp liên quan tới lợi

Đây là nguyên tắc phán ánh bản chất của nền dân chủ trong hoạt động
tư pháp. Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Luật tổ chức TAND năm
2002: "Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật". Với nguyên tắc này, tính công bằng trước pháp luật và niềm tin vào
công lý xã hội được thông qua Tòa án. Nội dung của nguyên tắc này khẳng
định: mọi hành vi phạm tội, mọi tranh chấp pháp lý dù người đó là ai thì đều
bị Tòa án xét xử nghiêm minh, công bằng. 14
Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên trong hoạt động xét xử của Tòa
án còn phải tuân theo các nguyên tắc. Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm cho những người tham
gia tố tụng dùng chữ viết tiếng nói của dân tộc mình, đảm bảo xét xử hai cấp.
1.1.4. Vai trò hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
Hệ thống TAND là một bộ phận của cơ quan tư pháp Việt Nam. Các
cơ quan tư pháp có chức năng bảo vệ và gìn giữ pháp luật, đấu tranh phòng và
chống tội phạm, giải quyết các tranh chấp xẩy ra trong đời sống xã hội, bảo vệ
lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Tòa án là nơi biểu
hiện tập trung của quyền tư pháp, nơi mà các kết quả của hoạt động điều tra
truy tố, bào chữa, giám định tư pháp... được kiểm tra, đánh giá, xem xét một
cách công khai và thông qua thủ tục tố tụng để đưa ra phán xét cuối cùng
mang tính quyền lực nhà nước. Các cơ quan xét xử nhà nước ta chủ yếu là các
TAND và Tòa án quân sự. Còn các tòa án đặc biệt chỉ được thành lập trong
những trường hợp đặc biệt. Việc xác định các TAND là cơ quan xét xử của
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có nghĩa là ngoài TAND, bất cứ cơ quan
nhà nước nào khác cũng không có quyền xét xử. Như vậy, Tòa án là cơ quan
thay mặt nhà nước xử lý các vi phạm pháp luật nhằm duy trì nền công lý, bảo
đảm pháp luật đã ban hành được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất, bảo vệ
lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cá nhân. Tòa án

Hai là, hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là một công cụ quan
trọng trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Vai trò tích cực của TAND đối với tuyên truyền và phổ biến giáo dục
pháp luật được thể hiện ở chỗ: Thông qua việc xét xử các vụ án đúng pháp
luật đã tác động vào ý thức các tầng lớp nhân, qua đó nâng cao ý thức pháp
luật, góp phần định hướng dư luận xã hội nâng cao ý thức lên án những hành
vi tội ác, đồng thời khuyến khích hành vi tôn trọng pháp luật và răn đe các tư 16
tưởng coi thường pháp luật. Nếu Tòa án xét xử nghiêm minh, khách quan
đúng người đúng tội, đúng pháp luật sẽ góp phần to lớn vào đấu tranh phòng
ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác. Ngược lại, nếu xét xử không
nghiêm minh, thiếu khách quan thì dẫn đến tư tưởng xem thường pháp luật.
Mặt khác, vai trò tuyên truyền giáo dục pháp luật của Tòa án còn được thể
hiện ngay trong mục đích những hình phạt mà Tòa áp dụng. Ví dụ: Điều 26
Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta quy định: "Hình phạt không chỉ nhằm
trừng trị người phạm tội, mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã
hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn
chặn họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng
pháp luật, đấu tranh phòng ngừa chống tội phạm. Luật tổ chức TAND cũng
khẳng định: "Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân
trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những
nguyên tắc của cuộc sống xã hội, có ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm, các vi pham pháp luật khác". Ngoài ra, thông qua hoạt động xét xử,
Tòa án phát hiện ra những sơ hở yếu kém trong quản lý nhà nước, những vi
phạm trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và điều kiện
dẫn đến tội phạm. Tòa án cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét
khắc phục những yếu kém đó góp phần ngăn ngừa tội phạm.
Ba là, hoạt động xét xử của Tòa án đóng vai trò quan trọng đảm bảo

liên quan đến lĩnh vực luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật dân sự…
Tóm lại, hoạt động xét xử của TAND là hoạt động pháp lý nhân danh
nhà nước nhằm bảo vệ nền pháp chế XHCN, có vai trò quan trọng trong hệ
thống chính trị, là công cụ chuyên chính đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm
cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh và thống nhất.
1.2. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG, HÌNH THỨC GIÁM SÁT CỦA
QUỐC HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 18
1.2.1. Khái niệm và mục đích giám sát của Quốc hội đối với hoạt
động xét xử của Tòa án nhân dân
Để hiểu rõ khái niệm giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử
của Tòa án trước hết cần làm rõ khái niệm giám sát của Quốc hội. Quan niệm
giám sát của Quốc hội đến nay vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyền giám sát của Quốc hội đối với
TAND, Viện kiểm sát nhân dân là quyền của Quốc hội tiến hành các biện pháp
giám sát tối cao do Hiến pháp, luật quy định đối với đối tượng này nhằm đảm
bảo cho quyền lực của Quốc hội được thi hành có hiệu lực, hiệu quả [13, tr. 80].
Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt thì: "Giám sát là theo dõi và
kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều đã quy định không" [43].
Quan điểm thứ hai cho rằng: Giám sát phải là hoạt động của chủ thể
ngoài hệ thống độc lập với hệ thống bị giám sát, nghĩa là chủ thể giám sát và
chủ thể bị giám sát không nằm trong cùng hệ thống, không phụ thuộc lẫn
nhau [11]. Ý kiến khác lại cho rằng: "Ngoài việc giám sát của chủ thể khác
ngoài hệ thống thì việc kiểm tra và tự kiểm tra trong hệ thống cũng là một
hình thức giám sát" [11].
Quan điểm thứ ba cho rằng: Giám sát của Quốc hội là việc Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của
Quốc hội và đại biểu Quốc hội xem xét các cơ quan, tổ chức cá nhân chịu sự

xác định và tính cụ thể rõ hơn kiểm tra thường được dùng xem lại sự việc,
những sai phạm đã xảy ra. Kiểm tra có thể là tự bản thân tự kiểm tra, cũng có
thể là cấp trên cùng hệ thống kiểm tra, cũng có thể là cơ quan tổ chức có thẩm
quyền đến kiểm tra. 20
Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND khác với
thanh tra Thanh tra, theo Từ điển tiếng Việt là "kiểm tra, xem xét tại chỗ việc
làm của địa phương, cơ quan xí nghiệp". Trong khoa học pháp lý, thanh tra là
khái niệm chủ yếu được dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan, tổ chức hay cá
nhân có thẩm quyền được xác định theo Luật thanh tra năm 2004. Điều 4 Luật
thanh tra quy định: "Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ
quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ
tục được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật..." [27].
Như vậy, về mặt khách quan của hành vi có thể thấy thanh tra và
giám sát giống nhau ở chỗ cùng có hoạt động xem xét, đánh giá, nhưng khác
nhau ở chỗ giám sát là chủ động theo dõi còn thanh tra là chỉ xem xét khi có
dấu hiệu vi phạm xảy ra, còn thanh tra là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà
nước đặc trưng trong hệ thống hành pháp với vai trò của các cơ quan thanh
tra chính phủ và thanh tra chuyên ngành, có đối tượng là các cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu sự quản lý, là một chức năng trong hoạt động quản lý
hành chính nhà nước.
Giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND khác với
kiểm sát, bởi vì kiểm sát là khái niệm dùng để chỉ hoạt động mang tính đặc
thù của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đối với việc đảm bảo tính pháp chế,
tính hợp pháp trong các hành vi, văn bản pháp quy của cơ quan nhà nước, sự
tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh của các cán bộ công chức và các công dân.
Theo pháp luật hiện hành, hoạt động kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân

thực tế nhất định; việc thu nhận thông tin cần thiết về chất lượng hoạt động
của TAND, về chất lượng của quyết định của tòa án, về việc thi hành, chấp
hành các quyết định đó. Việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật v.v...
Ở đây, mục đích chung của việc giám sát của Quốc hội đối với hoạt
động xét xử của TAND là việc đảm bảo cho sự hoạt động đứng đắn, minh 22
bạch, liên tục của từng cơ quan nhà nước, của từng người có chức vụ quyền
hạn nói chung trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật quy
định nhiệm vụ chức năng thẩm quyền của họ.
Kết quả cuối cùng, tức là tổng thể các hậu quả khách quan của giám
sát; là tiêu chuẩn chính của việc xác định hiệu quả của giám sát. giám sát của
Quốc hội đối với hoạt động xét xử của TAND bao giờ cũng nhằm củng cố kỷ
luật trong hoạt động xét xử, kỷ luật công tác, nâng cao trách nhiệm của đội
ngũ thẩm phán cũng như đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Hiệu quả của giám sát của
Quốc hội đối với hoạt động xét xử, trước hết cần phải được đánh giá theo các
kết quả cuối cùng của nó.
Để đạt được kết quả như vậy, đòi hỏi Quốc hội phải có sự hiểu biết về
nội dung cụ thể trong hoạt động của TAND. Chúng ta không thể suy xét được
về các kết quả của giám sát, nếu thiếu việc làm sáng tỏ các hậu quả thực tế do
sự giám sát đưa đến đối với nội dung hoạt động của khách thể hoặc của vụ
việc bị giám sát. Việc cân nhắc hậu quả thực tế là rất cần thiết đối với hoạt
động giám sát của Quốc hội, bởi vì hiệu quả của giám sát được hiểu là việc
đạt được kết quả tích cực của giám sát, chứ không phải là việc đạt được mọi
kết quả tích cực. Nếu như giám sát của Quốc hội đối với hoạt động xét xử của
TAND phát hiện được thiếu sót hoặc vi phạm, làm rõ ai có lỗi trong các thiếu
sót, vi phạm đó, thì cơ quan giám sát không chỉ có nghĩa vụ áp dụng các biện
pháp do pháp luật quy định, mà còn phải chỉ ra phương thức và biện pháp cải
tiến công việc cũng như ra nghị quyết hủy bỏ những văn bản sai, và sau đó kiểm

hiện quyền lực nhà nước được đứng đắn và đầy đủ; đồng thời hạn chế những
vi phạm lạm quyền trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước từ phía
chủ thể đó.
Là một bộ phận của quyền lực nhà nước hoạt động xét xử của TAND
là nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, nơi mà kết quả của các hoạt
động điều tra, công tố, bào chữa, giám định tư pháp được kiểm tra xem xét, 24
đánh giá công khai thông qua các thủ tục tố tụng để đưa ra những phán xét
cuối cùng mang tính quyền lực nhà nước, nơi thể hiện quyền công lý, sự công
bằng và bình đẳng, tính công minh của pháp luật, đồng thời cũng là nơi thể
hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơ quan tư pháp trong tổ
chức bộ máy nhà nước.
Các cơ quan tư pháp nói chung, hoạt động xét xử của TAND nói riêng
có nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn sự tôn nghiêm của pháp luật bằng cách áp dụng
các biện pháp do pháp luật quy định, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng
và xét xử công minh kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm, góp phần giải quyết các tranh chấp xảy ra trong đời
sống xã hội, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, giữ gìn trật tự kỷ cương, bảo đảm công
bằng xã hội và bảo vệ chế độ XHCN.
Quyền giám sát của Quốc hội, chế độ tự chịu trách nhiệm của cơ quan
tư pháp trước quốc hội, các cơ quan của Quốc hội được thực hiện thông qua
cơ chế giám sát được quy định trong Hiến pháp và luật giám sát hoạt động
của Quốc hội theo đó:
Chánh án TANDTC chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc
hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm báo cáo công tác
trước UBTVQH.
Chánh án TANDTC có thể bị Quốc hội bãi miễn hoặc cũng có thể bỏ

nghị quyết của Quốc hội, mà còn tổ chức thực tiễn các hoạt động cụ thể thể
hiện ở các quyết định cụ thể có hợp hiến, hợp pháp, hợp lý hay không, có hiệu
lực hiệu quả hay không, vì thế hoạt động giám sát không thể thiếu các giám
sát hoạt động thực tiễn.
Thứ tư, Quốc hội tiến hành xem xét, đánh giá trình độ, năng lực, trách
nhiệm cá nhân, tổ chức do Quốc hội bầu, hoặc phê chuẩn.

Trích đoạn Kết quả đạt được Tồn tại và nguyên nhân Xuất phát từ yêu cầu đổi mới công tác giám sát của Quốc Xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status