KINH NGHIỆM CHỈ ĐẠO RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ QUA CÁC GIỜ NGỮ VĂN
GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mục tiêu giáo dục của Đảng ta: Đào tạo con người phát triển toàn diện,
con người có bản lĩnh làm chủ xã hội làm chủ tương lai. Bên cạnh đó sống ở thế
kỉ XXI, chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục chứng kiến sự phát triển như vũ bão của
khoa học và công nghệ thông tin. Làm thế nào để đào tạo được những con người
phát triển toàn diện góp phần làm rạng danh đất nước? Trách nhiệm trước hết
thuộc về những người thầy, người cô, những người đang làm công tác giáo dục.
Đúng như lời nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Hồng Quân đã nói: "Sản
phẩm của nhà giáo gắn liền với tương lai của đất nước. Vì vậy trách nhiệm của
nhà giáo là rất lớn. Mỗi giáo viên chịu trách nhiệm cụ thể về quá trình hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh, những chủ nhân tương lai của đất
nước "
Theo lí luận dạy học hiện đại thì trong quá trình dạy học phải lấy người
học làm trung tâm. Vì thế học sinh cần được xác định như như một chủ thể có ý
thức trong quá trình dạy văn và học văn. Người thầy phải biết tổ chức cho học
sinh tiếp cận để từng bước nhận thức vấn đề, nhận thức cuộc sống, con người và
xã hội. Từ đó các em tự thể hiện mình trong giao tiếp, trong tự đánh giá và đánh
giá để hoàn thiện mình. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, trước hết, mỗi học sinh
phải được rèn luyện tốt các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết khi còn ngồi trên nghế
nhà trường. Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học, không phải khi nào bốn kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết cũng được giáo viên chú trọng rèn luyện và phát triển đồng
thời. Thông thường, người dạy thường chú ý vào việc hướng dẫn học sinh tìm
hiểu các tri thức theo phân môn mà ít để tâm tới việc rèn luyện, phát triển toàn
diện các kĩ năng cho học sinh. Giáo viên ít chú ý tới việc rèn luyện các kĩ năng,
nghe, nói, đọc, viết trong những tình huống giao tiếp cụ thể, gần gũi với cuộc
sống sinh hoạt của các em. Có khi, giáo viên quá chú trọng rèn luyện kĩ năng
1
2
Tôi mạnh dạn áp dụng đề tài Chỉ đạo rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh
Trung học cơ sở qua các giờ Ngữ văn góp phần nâng cao chất lượng dạy học
với mục đích:
Bồi dưỡng phương pháp dạy học cho đội ngũ giáo viên môn Ngữ văn
trong các nhà trường THCS ở huyện Quảng Xương. Bên cạnh việc hướng dẫn
học sinh tiếp cận kiến thức, chúng tôi yêu cầu cao ở việc rèn luyện các kĩ năng
cho học sinh trong đó có kĩ năng nói.
Từ mục đích vừa nêu, mỗi giáo viên sẽ giúp học sinh biết lắng nghe và
thấu hiểu, biết nói ra những điều mình nghĩ, truyền đạt đúng những thông tin
muốn truyền đạt theo đúng những nguyên tắc giao tiếp cơ bản;Giúp học sinh
được thực hành luyện tập trên cả 2 phương diện: văn nói và văn viết.
Việc chỉ đạo rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh THCS qua các giờ dạy -
học ngữ văn không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy học các giờ luyện nói, chất
lượng môn Ngữ văn mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
II. PHẦN THỨ HAI : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng vấn đề rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh THCS qua
các giờ dạy - học Ngữ văn
1.1. Cơ sở lí luận
Môn Ngữ văn vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ nên việc xác
đinh phương pháp dạy học gắn với đặc trưng bộ môn và đạt được mục tiêu của
môn học là việc làm hết sức cần thiết. Dạy học Ngữ văn theo quan điểm giao
tiếp là một trong những định hướng quan trọng. Hiện nay nhiều nước trên thế
giới rất coi trọng quan điểm này, lấy hoạt động giao tiếp là một trong những căn
cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ cụ thể là năng lực nghe,
nói, đọc, viết cho người đọc.
Nếu như nghe và đọc là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận
thông tin thì nói và viết là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền
đạt thông tin. Cả bốn kĩ năng năng này đều cần được rèn luyện và phát triển
trong nhà trường. Đặc biệt, với việc dạy học gắn liền với quan điểm giao tiếp
với một học sinh trung học cơ sở việc để tạo lập một văn bản là vấn đề phức tạp
4
và khó khăn. Chính vì vậy rất nhiều học sinh cho rằng văn học là môn trừu
tượng và khó học.
Tâm lí của một bộ phận giáo viên dạy Ngữ văn là ngại rèn luyện kĩ nói
cho học sinh trong các giờ học nói chung và qua giờ luyện nói nói riêng.
Nguyên nhân cơ bản có lẽ là do mâu thuẫn giữa thời lượng giờ luyện nói có giới
hạn mà mục tiêu cần đạt thì không đơn giản. Bên cạnh đó còn có những nguyên
nhân rất quan trọng như: học sinh chưa có kĩ năng nói trước tập thể, lớp học
chưa được thiết kế và trang thiết bị chưa đáp ứng cho những giờ học kiểu đối
thoại, thảo luận. Số lượng học sinh trong một lớp quá nhiều, giáo viên lúng túng
khi tổ chức một giờ luyện nói, những vấn đề lí thuyết cũng như đúc kết thực tiễn
về dạy kĩ năng nói trong nhà trường chưa được phổ biến rộng rãi. Chính vì thế,
thực trạng rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh trong nhà trường THCS có những
thuận lợi nhất định những cũng còn nhiều khó khăn
* Thuận lợi :
Vốn từ vựng của học sinh THCS là tương đối phong phú, đa dạng do các
em học được từ nhà trường, từ giao tiếp xã hội. Đặc biệt, hiện nay sách báo,
ti vi, Internet phổ biến rộng rãi nên các em có điều kiện học hỏi, bổ sung vào
vốn từ của mình. Chính nhờ vốn từ ấy mà khả năng giao tiếp phát triển hơn theo
chiều hướng tích cực.
Nhu cầu và ý thức được nói, được nâng cao vốn từ của học sinh nói chung
và học sinh THCS nói riêng đã trở thành nhu cầu tự thân. Bên cạnh đó, việc rèn
luyện kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp cho học sinh đã và đang trở thành việc làm
thường xuyên trong nhà trường và ở cả gia đình. Nhiều giáo viên đã thực sự
quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng nói và viết cho học sinh.
*Khó khăn :
Tại các trường THCS ở Quảng Xương, mặc dù giáo viên xác định được là
cần rèn luyện toàn diện cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh nhưng
trong thực tế, nhiều khi chúng ta quá chú trọng vào việc truyền tải kiến thức, vào
Luyện nói: Kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu
tả và biểu cảm
12 8 54 Luyện nói: Thuyết minh một thứ đồ dùng
13 9 65
Luyện nói: Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả
nội tâm
14 9 140 Luyện nói: Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
Vì vậy, nếu giáo viên không biết lồng nghép việc rèn luyện kĩ năng nói
cho học sinh trong các giờ học khác và các hoạt động ngoại khoá thì mục tiêu
luyện nói cho học sinh sẽ rất khó thành công
- 35/42 trường trong huyện có sĩ số/lớp học đông( trung bình khoảng 40
học sinh/lớp), thời lượng một tiết học không nhiều nên khó có thể tổ chức cho
tất cả học sinh được nói. Các tiết luyện nói đã ít, thời gian luyện nói lại càng co
hẹp trong 45 phút và số học sinh được lên bảng trình bày bài nói là con số đếm
6
trờn u ngún tay. Cú khi mt tit luyn núi, giỏo viờn ch gi c 2 hoc 3 em
trỡnh by. Nhng con s ớt i trờn ũi hi mi giỏo viờn phi cú mt bin phỏp
khc phc thỡ mi nõng cao c hiu qu gi dy.
Qua kho sỏt xỏc sut v kh nng v k nng núi ca hc sinh ti 10 n
v (m bo v c cu vựng min, cht lng giỏo dc ) s liu c th nh sau:
TT Đơn vị
Số HS
đợc
khảo sát
Khả năng và kĩ năng nói
Cha tốt Trung bình Khá Tốt
SL % SL % SL % SL %
1. Quảng Tâm
35 9 25.7 19 54.3 6 17.1 1 2.9
2. Quảng Hùng
cỏc nh trng, cú th khng nh: vic rốn luyn k nng núi cho hc sinh cỏc
gi dy - hc Ng vn cha c quan tõm ỳng mc; cht lng cỏc gi dy -
hc luyn núi cha cao v cỏc gi thc hnh luyn núi s rt ớt hiu qu nu
khụng cú s chun b chu ỏo.
2. Nhng gii phỏp
ch o vic rốn luyn k nng núi cho hc sinh qua cỏc gi dy - hc
Ng vn ti nh trng THCS trong huyn, tụi ó tp trung thc hin thụng qua
mt s gii phỏp sau:
2.1. T chc chuyờn i mi phng phỏp dy hc mụn Ng vn
tho lun v nhng yờu cn thit rốn luyn k nng núi cho hc sinh qua
cỏc gi dy - hc Ng vn
Ngay t u nm hc, PGD&T ó m cỏc chuyờn i mi phng
phỏp dy hc trong ú cú chuyờn Rốn luyn k nng núi cho hc sinh thụng
qua cỏc gi dy- hc Ng vn. Chuyờn ó thng nht mt s nhng yờu cu
c bn rốn luyn k nng núi cho hc sinh. lm tt vic rốn luyn v phỏt
7
triển kĩ năng nói cho học sinh, ngoài những yêu cầu cụ thể về nội dung của mỗi
giờ luyện nói trong chương trình vẫn là rèn luyện cho học sinh tự tin khi giao
tiếp, chính vì thế khi luyện nói cho học sinh cần đảm bảo những yêu cầu sau:
Thứ nhất, rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh bằng nhiều nội dung và hình
thức tổ chức để tránh sự gò bó và gây áp lực cho học sinh
Thứ hai, đối với những giờ luyện nói theo phân phối chương trình phải tổ
chức giờ học theo một tiến trình khoa học
* Yêu cầu chuẩn bị:
Trước mỗi tiết luyện nói, giáo viên cần cho học sinh chuẩn bị đề tài trước
khoảng một tuần. Có thể giao cho các em cùng một đề tài hay chia lớp từ 4 đến
6 nhóm, mỗi nhóm một đề tài.
Giáo viên hướng dẫn để học sinh xác định được nội dung, xác định được
đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và cách thức giao tiếp để thuyết phục
người nghe.
khích bằng cách cho điểm, tặng những tràng pháo tay sau mỗi bài nói tốt.
* Yêu cầu về cách thức và tác phong
Tránh đọc lại văn bản đã chuẩn bị sẵn, cũng tránh thuộc lòng văn bản;
Giọng nói rõ ràng, cao độ vừa phải, đúng chuẩn ngữ âm, truyền cảm và thuyết
phục người nghe (thể hiện cảm xúc chân thành, tự nhiên, không gò bó, áp đặt );
Tác phong tự nhiên, phản xạ ngôn ngữ nhanh nhạy; tránh những động tác thừa.
Biết chào và giới thiệu đề tài trước khi nói; biết cảm ơn khi kết thúc. Đây là
những thao tác nhỏ nhưng gây được thiện cảm lớn cho người nghe.
Thứ ba, việc tổ chức rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh cần được chức
đồng bộ. Tổ chuyên môn cần có những buổi sinh hoạt tổ, đánh giá rút kinh
nghiệm về hiệu quả và cách thức tổ chức thực hiện.
2.2. Các hình thức rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh
2.2.1. Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh trong tất cả các giờ Ngữ
Văn, kết hợp với rèn luyện các kỹ năng khác.
Giáo viên Ngữ Văn khó có thể phát triển kỹ năng nói cho học sinh nếu chỉ
trông chờ vào số tiết luyện nói trong chương trình sách giáo khoa. Mặc dù sách
giáo khoa đã đổi mới theo khuynh hướng quan tâm tới việc rèn luyên kỹ năng
nói cho học sinh, phân phối mỗi khối lớp đề có tiết luyện nói ở cả hai học kỳ.
9
Nếu không có sự chuẩn bị ngay từ đầu năm học thì chắc chắn giáo viên sẽ
gặp không ít trở ngại khi tổ chưa các giờ học. Vậy nên chú trọng việc luyện nói
cho học sinh mọi lúc, mọi nơi có thể thực hiện được vì việc này không quá khó
nhất là khi giáo viên Ngữ Văn thực sự muốn đạt hiệu quả trong những giờ luyện
nói. Chú trọng đến việc tập nói cho HS có thể thực hiện theo những cách như :
- Tạo cho các em có nhu cầu muốn nói, muốn được bộc lộ.
Khi tiếp xúc với các em lần đầu tiên, giáo viên Ngữ Văn cần thiết lập tốt
mối quan hệ, giúp học sinh thấy được sự gần gũi, thân tình nơi giáo viên Ngữ
Văn, điều này là cơ sở giúp học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên hơn trong
những giờ học sau. Giáo viên có thể làm quen với các em bằng cách giới thiệu
về mình, cũng là cơ sở để các em theo đó mà tự giới thiệu bản thân về những
đã có sự thay đổi, các em dần dần bớt e ngại, rụt rè và trở nên dạn dĩ hơn, tiếp
xúc với giáo viên một cách tự nhiên hơn. Thiết nghĩ, mục đích của các tiết luyện
nói nhằm giúp cho các em có thể tự tin trình bày ý kiến của mình, và chúng ta
tập cho học sinh sự tự tin để các em khỏi ngỡ ngàng khi bắt đầu vào tìm hiểu các
giờ luyện nói.
2.2.2. Rèn luyện kĩ năng nói qua các tiết luyện nói trong chương trình
Để nâng cao chất lượng các giờ luyện nói, giáo viên cần vận dụng linh
hoạt các hình thức đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt
động học tập của người học, vận dụng sáng tạo lý thuyết giao tiếp vào dạy các
giờ luyện nói .
Giúp học sinh chuẩn bị tốt nội dung bài nói để các em hình dung được
mình sẽ nói gì (xác định đề tài), nói với ai (xác định đối tượng giao tiếp). nói
trong hoàn cảnh nào (xác định hoàn cảnh giao tiếp), nói như thế nào (cách thức
giao tiếp để thuyết phục người nghe). Ví dụ: Đề bài yêu cầu: Phát biểu cảm
nghĩ về cô giáo chủ nhiệm trong buổi tổng kết lớp cuối năm học. Học sinh cần
xác định được nội dung là cảm nghĩ về cô giáo chủ nhiệm, xác định được đối
tượng giao tiếp: thầy cô giáo và các bạn cùng lớp, hoàn cảnh giao tiếp(buổi
tổng kết lớp) và cách thức giao tiếp để thuyết phục người nghe (nói rõ ràng, tình
cảm, chân thành )
Tạo tính huống có vấn đề để học sinh có nhu cầu muốn nói, muốn bộc lộ.
điều này tưởng chứng đơn giản nhưng rất khó thực hiện trong nhà trường bởi đa
11
số học sinh ngại nói, không tự tin khi nói trước đám đông mặc dù trong giờ chơi,
trong cuộc sống các em nói năng rất lưu loát. Vì thế trong quá trình luyện nói ,
người giáo viên phải tạo ra được những tình huống giả định gần gũi với cuộc
sống thường ngày của học sinh để các em có hứng thú
Trong các tiết luyện nói, trên thực tế thời lượng dành cho luyện tập kỹ
năng nói còn quá ít. Hầu như trong 45 phút giáo viên thường dành 20 phút cho
học sinh tập viết các đoạn văn và giáo viên chỉnh sửa. Thời gian còn lại giáo
viên có gọi học sinh lên nói trước lớp, cho nên học sinh làm việc và hoạt động
các em những câu mở, lời kết phù hợp, những điệu bộ cử chỉ tạo sự lôi cuốn hấp
dẫn người nghe. Ví dụ trong lời mở đầu bài nói bao giờ cũng có câu: " Thưa cô
giáo và các bạn, tôi xin trình bày bài nói của mình", kết thúc bao giờ cũng có
câu:" Xin cảm ơn cô giáo và các bạn đã chú ý lắng nghe" hoặc:" Rất mong cô
giáo và các bạn sẽ bổ sung cho bài nói của tôi được hoàn chỉnh .
Đối với giáo viên dạy bộ môn văn, khâu tiến hành hoạt động giờ luyện nói
trên lớp phải được chuẩn bị chu đáo, kĩ lưỡng song không cầu kì hoặc mất nhiều
thời gian. Giáo viên bộ môn văn có thể phát phiếu học tập cho từng nhóm trước
khi đến giờ luyện nói.
Khi bước vào giờ luyện nói, việc đầu tiên giáo viên cần làm là kiểm tra sự
chuẩn bị của từng nhóm qua việc báo cáo của nhóm trưởng. Khi kiểm tra đánh
giá giáo viên có thể cho điểm với những nhóm hoạt động tốt để khuyến khích sự
hoạt động của từng nhóm. Khâu kiểm tra này diễn ra khoảng từ 3 đến 5 phút đầu
giờ. Thời gian còn lại là dành cho việc học sinh thực hành nói trên lớp. Như vậy
trong 45 phút một giờ luyện nói thực sự đem lại hiệu quả rất lớn cho học sinh.
Giáo viên Ngữ văn nên cho học sinh ý thức được vai trò của những giờ
luyện nói ngay trong tiết đầu tiên, vì các học sinh còn rất lạ lẫm với giờ học này
nên giáo viên làm cho các em thấy được bên cạnh việc học những tri thức văn,
tiết Việt, tập làm văn… Nhằm nâng cao kỹ năng đọc, viết tiếng Việt được thành
thạo, thì việc nói cũng không kém phần quan trọng, là công cụ giao tiếp và là
chìa khóa cho sự thành công của cuộc sống. Cũng nên làm cho học sinh ý thức
được đây là những giờ học quan trọng bằng cách đưa ra những yêu cầu cụ thể
mà các em cần phải đạt được như phải nói được theo một đề tài soạn sẵn, có sự
đánh giá của giáo viên… Từ việc giáo dục đó khiến các em học sinh có động lực
13
để phấn đấu hơn trong những lần luyện nói, tạo điều kiện cho giáo viên tổ chức
giờ luyện nói đạt hiệu quả.
2.2.3. Rèn luyện kĩ năng nói thông qua các hoạt động ngoại khoá
Vào các dịp như 20/10, 20/11,22/12, 8/3, 26/3, 19/5 chúng tôi đã chỉ
đạo tổ khối chuyên môn tại các nhà trường THCS trong toàn huyện tăng cường
2 5.7 19 54.3 9 25.7 5 14.3
3 Quảng Lộc
35
2 5.7 15 42.9 11 31.4 7 20.0
4 Quảng Lợi
35
0 0.0 14 40.0 12 34.3 9 25.7
5 Quảng Ninh
35
1 2.9 16 45.7 10 28.6 8 22.9
6 Quảng Đông
35
1 2.9 17 48.6 9 25.7 8 22.9
7 Quảng Đức
35
0 0.0 15 42.9 13 37.1 7 20.0
8 Quảng Hoà
35
0 0.0 14 40.0 13 37.1 8 22.9
9 Quảng Vọng
35
1 2.9 16 45.7 12 34.3 6 17.1
10 Quảng Ngọc
35
2 5.7 16 45.7 11 31.4 6 17.1
Tổng 350
11 3.1 158 45.1 111 31.7 70 20.0
Qua kho sỏt thc t, chỳng tụi thy:
a s cỏc em khụng cũn rt rố, e ngi, thiu t tin khi ng trc ỏm
342 97.7
5 Quảng Phú 323 0 0.0 9 2.8 195 60.4 104 32.2
15 4.6
314 97.2
6 Quảng Cát 468 0 0.0 10 2.1 263 56.2 156 33.3
39 8.3
458 97.9
7 Quảng Minh 261 0 0.0 13 5.0 142 54.4 95 36.4
11 4.2
248 95.0
8 Quảng Hùng 276 0 0.0 14 5.1 138 50.0 106 38.4
18 6.5
262 94.9
9 Quảng Giao 274 0 0.0 11 4.0 130 47.4 119 43.4
14 5.1
263 96.0
10 Quảng Lu 493 0 0.0 14 2.8 266 54.0 191 38.7
22 4.5
479 97.2
11 Quảng Lộc 395 0 0.0 15 3.8 236 59.7 127 32.2
17 4.3
380 96.2
12 Quảng Đại 357 0 0.0 9 2.5 190 53.2 139 38.9
19 5.3
348 97.5
13 Quảng Hải 497 0 0.0 20 4.0 307 61.8 140 28.2
30 6.0
477 96.0
14 Quảng Nhân 380 0 0.0 13 3.4 208 54.7 136 35.8
23 6.1
232 93.9
25 Quảng Phong 321 0 0.0 12 3.7 127 39.6 126 39.3 56
17.4
309 96.3
26 Thị Trấn 150 0 0.0 3 2.0 52 34.7 82 54.7 13
8.7
147 98.0
27 Quảng Tân 302 0 0.0 15 5.0 187 61.9 88 29.1 12
4.0
287 95.0
28 Quảng Thịnh 305 0 0.0 9 3.0 129 42.3 106 34.8 61
20.0
296 97.0
29 Quảng Đông 249 0 0.0 9 3.6 84 33.7 105 42.2 51
20.5
240 96.4
30 Quảng Định 270 0 0.0 9 3.3 132 48.9 99 36.7 30
11.1
261 96.7
31 Quảng Đức 315 0 0.0 5 1.6 158 50.2 135 42.9 17
5.4
310 98.4
32 Quảng Yên 285 0 0.0 11 3.9 155 54.4 108 37.9 11
3.9
274 96.1
33 Quảng Trạch 281 0 0.0 11 3.9 144 51.2 101 35.9 25
8.9
270 96.1
34 Quảng Văn 263 0 0.0 7 2.7 142 54.0 101 38.4 13
4.9
484 100
16
Tæng 14.513 0 0 457 3.1 7408 51.0 5283 36.4 1365 9.5 14056 96.9
Chất lượng môn Ngữ văn ở các nhà trường đảm bảo bền vững. Tỷ lệ học
sinh khá giỏi tăng, học sinh yếu kém giảm xuống còn 3.1%, không còn hiện
tượng học sinh kém.
2. Kết luận
Đồng chí Lê Duẩn đã từng nói : "Càng yêu người bao nhiêu, càng yêu
nghề bây nhiêu". Đó là thông điệp đối với mỗi người đã và đang làm công tác
giáo dục và nhất là đối với những người thầy giáo đang trực tiếp giảng dạy học
sinh. Bởi chỉ có tình yêu thực sự thì mới có tình cảm với công việc mình làm,
mới thắp sáng trong mỗi người học sinh một tình yêu, một lẽ sống, mới khơi dậy
trong các em những tiềm năng chưa khai thác tạo cho các em một bản lĩnh để
bước vào cuộc sống. Dòng xoáy của kinh tế thị trường đã làm cho xã hội xoay
chuyển rất nhiều cả mặt tích cực và tiêu cực. Nhà trường - nơi đào tạo những
con người chủ nhân tương lai của đất nước sẽ đưa họ bước vào đối diện với
dòng xoáy đó. Hơn lúc nào hết bằng sự vinh quang của nghề dạy học, người
thầy trao cho các em một tình yêu, một niềm tin, một tinh thần chủ động làm
chủ để các em chủ động hoà nhập vững vàng vươn lên trong cuộc sống./.
17