TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY AGIFISH AN GIANG - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY AGIFISH AN GIANG
1. Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển
Trụ sở công ty
Tên gọi Công ty:
CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN AN GIANG
Tên giao dịch:
ANGIANG FISHERIES IMPORT EXPORT JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: AGIFISH Co.
Vốn điều lệ: 128.592.880.000 đồng
(Một trăm hai mươi tám tỷ năm trăm chín mươi hai triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng).
Địa chỉ: 1234 Trần Hưng Đạo, Thành phố Long xuyên, Tỉnh An giang.
Điện thoại: (84.76) 852 939 – 852 368 – 852 783. Fax: (84.76) 852 202
Website: www.agifish.com.vn E-mail: [email protected]
Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu số: 4.01.1.001/GP do Bộ Thương Mại cấp ngày
29/05/1995.
Quyết định chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần số 792/QĐ-TTg do Thủ
Tướng Chính phủ ký ngày 28 tháng 06 năm 2001.
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 5203000009 do Sở Kế hoạch và đầu tư Tỉnh An giang
cấp
- Đăng ký lần đầu ngày 10 tháng 08 năm 2001
- Đăng ký lần thứ 11 ngày 06 tháng 10 năm 2006
Mã số thuế: 16.00583588 -1
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
GIỚI THIỆU CÔNG TY:
Agifish là tên thương mại của Công ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Thủy sản An Giang là một
trong những nhà chế biến thực phẩm thủy sản hàng đầu của Việt Nam góp phần đáng kể cho sự
phát triển kinh tế xã hội trong nước từ năm 1997.
Sự năng động và sáng tạo đã giúp Agifish trở thành nhà chế biến có uy tín hàng đầu trong
ngành công nghiệp thủy sản và là một trong số mười công ty xuất khẩu thủy sản về lĩnh vực cá

định số 792/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 28 tháng 06 năm 2001, được tổ chức
và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp do Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 12 tháng 06 năm 1999.
• Ngày 01/09/2001, Công ty Agifish chính thức hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần và
được cấp phép niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt nam ngày 8/3/2002.
• Năm 2000, Công ty Agifish được Nhà nước tặng danh hiệu “Anh Hùng Lao Động” và đã trở
thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong ngành thủy sản.
• Công ty Agifish là thành viên của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
(VASEP), và Phòng công nghiệp thương mại Việt Nam (VCCI).
• Agifish áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng trong toàn bộ quá trình sản xuất : HACCP,
ISO 9001:2000 , Safe Quality Food 1000 (SQF 1000); Safe Quality Food (Safe Quality Food
2000), British Retail Consortium (BRC).
• Agifish được phép xuất khẩu sản phẩm thủy sản vào thị trường EU với 3 code: DL07, DL08,
DL360. Được cấp chứng chỉ HALAL để xuất khẩu sang cộng đồng người Hồi giáo trong và
ngoài nước.
• Trên thị trường trong nước sản phẩm Basa Agifish là “Hàng Việt Nam chất lượng cao“ liên
tục từ năm 2002 đến nay.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LÔ GÔ
Ý nghĩa của lôgô: lôgô có hình chóp, phía trên là là hình tam giác cân lớn sọc ngang màu xanh,
chữ AGIFISH màu đỏ là tên tự đặt nằm trên hình tam giác cân đó, góc bên trái tam giác cân lớn
có hình tam giác cân nhỏ màu đỏ. Phía dưới là những đường uốn lượn màu xanh biểu tượng
cho sông nước và con cá đang bơi giữa bốn làn sóng nước.
CHỦNG LOẠI VÀ CHẮT LƯỢNG SẢN PHẨM:

Agifish hiện nay có các nhóm sản phẩm chính như sau: Sản phẩm cá Tra, cá Basa đông lạnh;
Sản phẩm giá trị gia tăng; Sản phẩm thuốc thú y thủy sản; và Sản phẩm từ phụ phẩm.
a. Cá Tra cá Basa đông lạnh
- Cá Basa và cá Tra đông lạnh là sản phẩm chính có doanh thu chiếm khoảng 73% trong tổng

- Giá bán trung bình các sản phẩm của Xí nghiệp chế biến thực phẩm là 4.000 – 4.500 VNĐ/kg
bột cá và 2.500 – 3.000 VNĐ/kg mỡ.
- Chất lượng bột cá và mỡ thực phẩm đã đạt được những tiêu chuẩn cần thiết do Viện Pasteur
Tp. Hồ Chí Minh kiểm nghiệm.
NGUỒN NGUYÊN LIỆU:
Agifish – một trong những công ty hàng đầu có mô hình sản xuất khép kín khi gắn kết giữa
nguyên liệu và chế biến biến xuất khẩu thông qua Câu lạc bộ Agifish.
Triển khai các bộ phận có liên quan nắm bắt kịp thời tình hình biến động nguồn nguyên liệu: số
lượng, cơ cấu, chất lượng, giá cả… trên cơ sở đánh giá thông qua sự biến động giá cả của thị
trường xuất khẩu và thị trường nguyên liệu để có chính sách thu mua hợp lý phù hợp với từng
tình hình cụ thể nhằm đảm bảo hoàn thành được kế hoạch sản xuất và kinh doanh có lãi. Đặc
biệt với phương thức thu mua theo chất lượng thực tế của lô nguyên liệu sau chế biến đã kích
thích người nuôi không ngừng cải tiến kỹ thuật, gắn chất lượng cá nuôi với sản xuất chế biến và
xuất khẩu.
Thực hiện đầu tư nguyên liệu cho các thành viên Câu lạc bộ thông qua việc cung cấp các dịch
vụ: cám, bột cá, đậu nành làm thức ăn cho cá; thuốc thú y thủy sản phòng và điều trị bệnh cá,
một mặt để ổn định nguồn nguyên liệu mặt khác để kiểm soát chặt chẽ hơn các nguồn cung cấp
dinh dưỡng, tình hình sử dụng kháng sinh có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cá nuôi sau
thu hoạch, ngăn ngừa các mối nguy về vi sinh, kháng sinh đối với các sản phẩm chế biến ngay
từ nguyên liệu đầu vào.
Đầu tư hợp lý sản lượng cá basa nguyên liệu để duy trì và khôi phục lại thị trường cho mặt
hàng này vốn có nhiều tiềm năng phát triển.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đến nay, sau một năm thành lập, Liên hợp sản xuất cá sạch với 32 thành viên chính thức và 18
thành viên dự bị, diện tích ao nuôi trên 800.000 m2 đã có những thành công bước đầu trong
việc tổ chức lại sản xuất , thực hiện cam kết cung cấp cá sạch, an tòan chất lượng cho Công ty.
Năm 2006, các thành viên Liên hợp cung cấp cho các nhà máy đông lạnh của Công ty bình
quân 180 tấn cá nguyên liệu /ngày . Mặc dù giá cả và sản lượng bên ngoài có biến động lớn
nhưng Công ty vẫn có được nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định , đem lại niềm tin cho khách

chương trình quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do cơ
sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu sản xuất nhưng nhờ Công ty đẩy mạnh sản xuất kể cả
gia công tại các đơn vị khác nên sản lượng, kim ngạch xuất khẩu lợi nhuận đạt cao nhất từ
trước đến nay. Tạo việc làm và thu nhập ổn định cho gần 3.700 người. Agifish là một trong 10
doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản hàng đầu năm 2006.
- Hàng giá trị gia tăng xuất khẩu phát triển khá, một số sản phẩm bao gồm cá xiên que tẩm gia
vị các loại, cá tẩm bột chiên, cá cắt portion được khách hàng ở Bỉ, Đức ưa chuộng và mua hàng
thường xuyên.
- Doanh số các sản phẩm dịch vụ đạt khoảng 95,3 tỷ đồng. Trong đó tăng trưởng mạnh thức ăn
thủy sản cung cấp cho các thành viên Liên hợp sản xuất cá sạch APPU là 17.000 tấn..
- Trong năm 2006, Công ty đã báo cáo thẩm định đề tài nghiên cứu sản xuất Biodiesel từ mỡ cá
tra, cá basa trước Hội đồng khoa học Tỉnh An Giang do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh An
Giang làm Chủ tịch Hội đồng. Đề tài đã được nghiệm thu và xếp loại xuất sắc với mục đích
vừa nâng giá trị phụ phẩm sau khi chế biến phi-lê cá tra, cá basa xuất khẩu và tạo thêm sản
phẩm mới cho xã hội tiêu dùng trước những biến động tăng giá xăng dầu hiện nay cũng vừa
góp phần giảm thiểu tối đa vấn nạn ô nhiễm môi trường. Công ty cũng đã tổ chức sản xuất thử
dầu biodiesel tại XN Basabiodiesel có chất lượng tốt.
THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA:
- Sản phẩm: có hơn 60 loại sản phẩm chế biến từ cá Basa, cá Tra. Có hầu hết các đặc tính của
hàng thực phẩm: đông lạnh, tươi sống, khô.
- Các danh hiệu đạt được: hàng Việt Nam chất lượng cao 3 năm liền (2004,2005,2006) do bạn
đọc báo SGTT bình chọn, Thương hiệu mạnh năm 2004 do cục Xúc Tiến Thương Mại bình
chọn.
- Hệ thống phân phối: rộng khắp cả nước từ Bắc đến Nam. Bao gồm hệ thống các siêu thị Co-
op mart, Metro, Big C, các cửa hàng Vissan… và các đại lý ở các tỉnh.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1. Khu vực Tp HCM
Showroom trưng bày và phân phối sản phẩm cá Basa Agifish
Địa chỉ: 40 Nguyễn Thái Bình, quận 1, Tp HCM

2006), 4,1 lần của Thái Lan (trong thời kỳ 1981-1995); cũng cao hơn so với 4,6 lần của
Malaysia (trong thời kỳ 1981-1995). Điều đó chứng tỏ, hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn
thấp. Hiệu quả đầu tư còn được tính theo cách lấy GDP chia cho vốn đầu tư hàng năm (đều tính
theo giá thực tế). Theo cách này, thì GDP/Vốn đầu tư (có nghĩa là 1 đồng vốn đầu tư tạo ra
được bao nhiêu đồng GDP) của Việt Nam đã bị sút giảm qua các thời kỳ: nếu thời kỳ 1991-
1995 đạt 3,55 đồng/đồng, thì năm 1996-2000 còn 3,0 đồng/đồng, 2001-2005 còn 2,56
đồng/đồng, 2006-2007 còn 2,46 đồng/đồng.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp. Năm 2007 mới đạt 25.886 đồng/người, của nhóm
ngành nông, lâm nghiệp-thuỷ sản còn đạt thấp hơn chỉ có 9.607 nghìn đồng/người, ngay cả
nhóm ngành công nghiệp-xây dựng cao nhất cũng mới đạt 55.072 đồng/người và của nhóm
ngành dịch vụ cũng chỉ đạt 38.159 nghìn đồng/người.
Nếu quy ra USD theo tỷ giá hối đoái, năng suất lao động của toàn nền kinh tế cũng mới đạt
khoảng 1,6 nghìn USD, của nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thuỷ sản chỉ đạt 0,6 nghìn USD,
của nhóm ngành công nghiệp- xây dựng đạt khoảng 3.438 USD, của nhóm ngành dịch vụ đạt
khoảng 2.385 USD.
Các con số trên còn thấp xa so với năng suất lao động chung của thế giới
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng, mức tiêu dùng bình quân đầu
người trong nhiều năm còn thấp nên nhu cầu và tốc độ tăng thường khá cao (mấy năm liên tục
tăng trên 7%, gần bằng với tốc độ tăng của GDP).
Tăng trưởng kinh tế do tăng trưởng tích luỹ tài sản chiếm tỷ trọng khá cao. Đây cũng là một tín
hiệu tốt thể hiện tâm lý tiết kiệm để dành cho tích luỹ của khu vực Đông Nam Á nói chung và
Việt Nam nói riêng.
Tuy nhiên, tốc độ gia tăng lạm phát vẫn còn ở mức cao: năm 2004 là 9,5%, năm 2005 là 8,4%,
năm 2006 là 7,6% và hết năm 2007 là Thương mại: Việt Nam luôn nhập siêu trong những năm
gần đây, mặc dù kim ngạch xuất khẩu cao. Nguyên do là chúng ta phải nhập khẩu một lượng
lớn nguyên phụ liệu và thiết bị máy móc đầu vào. tăng trưởng xuất khẩu ròng hiện đang mang
dấu âm do nhập siêu gia tăng mạnh cả về quy mô, cả về tỷ lệ so với xuất khẩu. Nhập siêu cả về
hàng hoá, cả về dịch vụ. Riêng về hàng hoá, năm 2007 lớn gấp 2,5 lần năm 2006, năm nay mới

- Những bài học kinh nghiệm về tổ chức, quản lý kinh tế trong năm 2007 sau 1 năm gia nhập
WTO cũng rất bổ ích đối với Chính phủ và các bộ, ngành trung ương cũng như các địa phương
và các doanh nghiệp trong điều hành, chỉ đạo phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ theo
hướng bền vững và hiệu quả. Năm 2008 là năm thứ 2 Việt Nam thực hiện các cam kết WTO
nên thời cơ mở rộng thị trường xuất nhập khẩu và hợp tác bình đẳng với 150 nước thành viên
chắc chắn được mở rộng. Đó là cơ hội để kinh tế Việt Nam tăng tốc và đạt các mục tiêu đề ra.
II_ phân tích ngành thủy sản Việt nam:
Việt Nam trong top 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới
Hoạt động xuất khẩu thuỷ sản bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước và có tốc độ tăng
trưởng ấn tượng trong 10 năm trở lại đây. Năm 2007, sản lượng thủy sản cả nước ước đạt 3,9
triệu tấn, trong đó, khai thác đạt 1,95 triệu tấn, nuôi trồng 1,95 triệu tấn, với kim ngạch xuất
khẩu 3,75 tỷ USD. Công nghệ chế biến thủy sản của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam hiện nay
ngang với trình độ của các nước trong khu vực và bước đầu tiếp cận với công nghệ của thế
giới. Hiện nay, nhiều nhà máy chế biến thủy sản VN đã được trang bị những dây chuyền chế
biến hiện đại, trình độ kỹ thuật và công nghệ cao, có thể ngang tầm khu vực và thế giới, vì vậy
ngành chế biến hoàn toàn có khả năng NK nguyên liệu thô để chế biến và tái xuất các mặt hàng
GTGT phù hợp với thị trường quốc tế nhằm khai thác triệt để tiềm năng thiết bị máy móc, đồng
thời tạo việc làm ổn định cho người dân. Xu hướng này đã phát triển khá mạnh từ nhiều năm
nay ở Trung Quốc, Thái Lan và một vài nước ở Châu Âu, những nước có giá trị XKTS lớn trên
thế giới. Việt Nam có 470 DN chế biến thuỷ sản đông lạnh thì 346 cơ sở đạt tiêu chuẩn ngành
về ATVSTP, trong đó 245 DN được phép xuất khẩu sang EU, 34 DN được xuất vào Mỹ và
Canada. Thuỷ sản là một trong ngành kinh tế sớm lấy xuất khẩu làm hướng ưu tiên phát triển.
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 3,75 tỷ USD (tăng gần 12% so với năm
2006), đưa nước ta nằm trong top 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Con số này
giúp thủy sản tiếp tục duy trì ngôi vị thứ 4 trong những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu Việt Nam,
đồng thời khẳng định, thủy sản là ngành kinh tế hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích xã hội.
Đáng chú ý, dù là năm đầu tiên gia nhập WTO, nhưng xuất khẩu thủy sản có chuyển biến lớn
về nhiều mặt: số lượng DN đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính (EU, Mỹ, Nhật
Bản…) tăng hai lần so với trước; hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt tại 130 quốc gia và vùng
lãnh thổ; sản phẩm xuất khẩu đa dạng hơn về chủng loại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status