ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THỊ HIỀN
HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
1.1.2. Mục tiêu trong công tác huy động vốn của NHTM 9
1.2 Các hình thức huy động vốn của NHTM 11
1.2.1 Huy động vốn từ hoạt động tiền gửi 11
1.2.2 Huy động vốn thông qua thị trƣờng tiền tệ 16
1.2.3 Huy động vốn thông qua hoạt động đi vay……………………… 17
1.3 Hiệu quả huy động vốn của NHTM 20
1.3.1 Quan niệm về hiệu quả huy động vốn 20
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM 21
1.4 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả huy động vốn của NHTM 27
1.4.1 Nhân tố khách quan 27
1.4.2 Nhân tố chủ quan 29
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2011 - 2013 34
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam 34
2.1.1 Lịch sử hình thành ngân hàng 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt dộng của ngân hàng 35
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu giai đoạn 2011 – 2013 38
2.2 Phân tích thực trạng hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu
tƣ và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2011 - 2013 48
2.2.1 Qui mô, cơ cấu nguồn vốn huy động 48
2.2.2 Chi phí vốn huy động………………………………………………52
2.2.3 Sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn 55
2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu
tƣ và Phát triển Việt Nam 61
2.3.1 Những kết quả đạt đƣợc 61
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 64
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM 74 i DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
ATM
Thẻ rút tiền tự động
2
BIDV
Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát
triển Việt Nam
3
CDs
Chứng chỉ tiền gửi
4
GTCG
Giấy tờ có giá
5
LC
Tín dụng thƣ
6
NHNN
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Tình hình huy động vốn của một số ngân
hàng Việt Nam
40
2
Bảng 2.2
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối
giai đoạn 2011-2013
43
3
Bảng 2.3
Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn
2011-2013
47
4
Bảng 2.4
Tình hình huy động vốn giai đoạn 2011-2013
49
5
Bảng 2.5
60
iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
STT
Sơ đồ
Biểu đồ
Nội dung
Trang
1
Sơ đồ 2.1
Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và
Phát triển Việt Nam
37
2
Biểu đồ 2.1
Tổng huy động vốn giai đoạn 2011-2013
39
3
Biểu đồ 2.2
Tình hình sử dụng vốn giai đoạn 2011-2013
41
4
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đối với các ngân hàng thƣơng mại – loại hình doanh nghiệp chuyên
kinh doanh tiền tệ thì nguồn vốn có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và
phát triển của bản thân ngân hàng. Trong hoạt động ngân hàng thì huy động
vốn là hoạt động chủ yếu nhằm tăng quy mô nguồn vốn phục vụ cho các hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Huy động vốn là một nghiệp vụ truyền
thống của ngân hàng. Từ khi các ngân hàng ra đời thì nghiệp vụ huy động
vốn đã gắn liền với các hoạt động của nó, trải qua quá trình phát triển của hệ
thống ngân hàng thì nghiệp vụ huy động vốn cũng đƣợc đổi mới cho phù hợp
với sự phát triển của xã hội. Hiệu quả huy động vốn đƣợc các ngân hàng quan
tâm không chỉ vì nó là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng mà còn vì
nó là một trong những hoạt động chủ yếu và mang lại nhiều lợi nhuận cho
ngân hàng. Do đó trong mọi giai đoạn, nâng cao hiệu quả huy động vốn luôn
là vấn đề đƣợc các NHTM chú trọng hàng đầu.
Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam là NHTM lâu đời
nhất Việt Nam và đã khẳng định đƣợc vị thế trên thị trƣờng. Trong xu thế hội
nhập, ngân hàng cũng đã có những đổi mới không chỉ về vốn, quy mô mà cả
về phƣơng châm hoạt động, mô hình quản lý. Tuy nhiên, đứng trƣớc xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ và sự gia nhập vào tổ chức kinh
tế thế giới WTO (tháng 1 năm 2007), BIDV không tránh khỏi sự cạnh tranh
khốc liệt của các ngân hàng trong nƣớc và các tập đoàn tài chính lớn trên thế
giới đang xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trƣờng vốn tại Việt Nam. Thêm
vào đó, các ngân hàng thƣơng mại cổ phần cũng đang phải đối diện với sự
khan hiếm về vốn trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn hiện nay.
Do đó, vấn đề đặt ra là phải đánh giá đúng thực trạng hiệu quả huy động vốn
2
của BIDV, tận dụng những cơ hội, phân tích những khó khăn, thách thức để
đƣa ra những định hƣớng, giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của
mình trong quá trình hội nhập kinh tế.
văn chỉ nghiên cứu trên khía cạnh nhỏ là hiệu quả huy động vốn từ khách
hàng cá nhân nên chƣa đề cập đƣợc một cách toàn diện về hiệu quả huy động
vốn của các NHTM.
Trong luận văn nghiên cứu của thạc sỹ Nguyễn Tuấn Khanh với đề tài:
“Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam” viết năm 2000, đã phân tích đƣợc các
nhân tố ảnh hƣởng tới hoạt động huy động vốn của các NHTM nói chung,
đánh giá đƣợc vai trò của việc tăng cƣờng hoạt động huy động vốn đối với sự
phát triển của một ngân hàng, đƣa ra đƣợc các giải pháp toàn diện để góp
phần tăng cƣờng công tác huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, vì luận văn đƣợc nghiên cứu năm 2000 khi
nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu hội nhập vào kinh tế quốc tế và công nghệ
ngân hàng thì chƣa phát triển mạnh nên luận văn mất đi phần nào tính thực
tiễn của nó.
Phát triển thêm các ý tƣởng góp phần hoàn thiện và nâng cao hoạt động
huy động vốn trong các NHTM, thạc sỹ Nguyễn Thị Thủy đã đi sâu nghiên
cứu đề tài “ Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh Tây Hồ” viết năm 2011. Với đề
tài này tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả huy động
tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh
Tây Hồ, từ đó đƣa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nói riêng và hệ
thống NHTM trên thị trƣờng nói chung. Tuy nhiên, luận văn vẫn còn nhiều
4
hạn chế, phân tích về hiệu quả huy động vốn còn mờ nhạt, các chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả chƣa rõ.
Các công trình nói trên nhìn chung đã đi sâu phân tích và đƣa ra đƣợc
hệ thống các hoạt động huy động vốn; các giải pháp nhằm củng cố và nâng
cao hiệu quả huy động vốn của NHTM. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn khác
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu hiệu quả huy động vốn bằng cách kết hợp một
số phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: phƣơng pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so
sánh, nghiên cứu tài liệu để giải những quyết vấn đề đặt ra trong luận văn.
Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp đƣợc thu thập từ các tài liệu,
thông tin nội bộ, báo cáo thƣờng niên, trung tâm công nghệ thông tin, báo cáo
tài chính phòng Tài chính - Kế toán Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển
Việt Nam.
6. Những đóng góp của luận văn
Đã có rất nhiều luận văn, luận án đi sâu nghiên cứu vấn đề hiệu quả
huy động vốn trong các ngân hàng thƣơng mại, kế thừa những luận văn đó và
nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả huy động vốn
cùng với quá trình làm việc thực tế của bản thân, tác giả lựa chọn đề tài
nghiên cứu này nhằm làm rõ hơn vai trò của việc nâng cao hiệu quả huy động
vốn đối sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thƣơng mại. Luận văn đã
chỉ ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả huy động vốn, các yếu tố
ảnh hƣởng tới hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát
triển Việt Nam. Thông qua đó phân tích thực trạng hiệu quả huy động vốn
của ngân hàng, đề xuất đƣợc các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt
Nam nói riêng và hệ thống các ngân hàng thƣơng mại cổ phần nói chung.
6
7. Kết cấu của luận văn
Với vấn đề nghiên cứu trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của
luận văn gồm 3 chƣơng sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả huy động vốn của Ngân
hàng thƣơng mại.
Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP
Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2011 – 2013.
ngƣời gửi tiền chứ không phải là các ngân hàng, các khoản tiền chỉ đƣợc xem
đơn thuần là vật đƣợc kí gửi chứ hoàn toàn không đóng vai trò là nguồn vốn
đối với các ngân hàng thƣơng mại. Tiền lúc này không đƣợc xem là tiền tệ
theo đúng nghĩa của nó, vì không có khả năng luân chuyển, không sinh ra
đƣợc lợi nhuận. Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp vụ ngân hàng phát
triển, vị thế đó bị đảo ngƣợc: ngân hàng là ngƣời phải trả phí (lãi suất), và
nguồn tiền đƣợc kí gửi thay đổi vai trò của nó, trở thành nguồn vốn khả dụng
và lớn nhất của các NHTM hiện nay. Chính vì vậy, trái ngƣợc với quá khứ -
ngân hàng là ngƣời phải đi nài nỉ khách hàng gửi tiền và là ngƣời bị động
trong quan hệ này thì hiện nay hầu hết tất cả các ngân hàng đều có các chính
sách, phƣơng thức để lôi kéo nguồn tiền gửi này và chính vì vậy các phƣơng
thức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng hơn.
Có thể nói, hiện nay, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động
hết sức quan trọng và liên quan đến sự sống còn của các NHTM.
Xuất hiện khá lâu đời và không ngừng phát triển, thay đổi cùng sự phát
triển của các NHTM, nội hàm của khái niệm huy động vốn có những thay đổi
đáng kể, kể cả về quy mô và các hình thức thể hiện. Hơn nữa gần nhƣ không
8
tìm đƣợc một định nghĩa hoàn thiện về hoạt động này cũng nhƣ không có sự
thống nhất giữa các quan điểm. Có quan điểm cho rằng: “Hoạt động huy
động vốn có thể hiểu là hoạt động mà ngân hàng thông qua uy tín và các hoạt
động kinh doanh của mình tiến hành huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các
thành phần kinh tế trong xã hội, tạo ra nguồn vốn kinh doanh của mình, góp
phần ổn định lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm
phát…”. Hay trong ngôn ngữ thƣờng nhật của báo chí và xã hội, khái niệm
này đƣợc dùng chủ yếu đề cập đến một hoạt động đặc trƣng nhất của các
NHTM: nhận tiền gửi. Điều 4 - Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 giải
thích hoạt động của NHTM là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một
hay một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch
Chi phí trả lãi đƣợc coi là chi phí lớn nhất trong các chi phí của ngân
hàng. Trong đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho tiền gửi có kỳ hạn và trả
lãi trái phiếu, kỳ phiếu Định kỳ ngân hàng lập biểu về số dƣ và lãi suất
tƣơng ứng để xác định vốn huy động bình quân và tính toán chi phí trả lãi.
Thông thƣờng có ba cách trả lãi: Trả lãi trƣớc, trả lãi khi đến hạn và trả lãi
nhiều lần theo định kỳ. Mỗi cách trả lãi khác nhau sẽ ảnh hƣởng đến chi phí
khác nhau. Quản lý chi phí trả lãi là hoạt động thƣờng xuyên và quan trọng
của các ngân hàng. Mỗi sự thay đổi về lãi suất hay cơ cấu nguồn vốn đều có
thể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hƣởng đến thu nhập của ngân hàng.
Việc tính chi phí của từng nguồn vốn cụ thể cho phép các nhà quản lý xác
định nguồn vốn nào rẻ hơn, có nên thay đổi lãi suất hay không, thu nhập từ tài
sản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí của nguồn vốn tăng thêm hay không. Về
nguyên tắc, những nguồn vốn có thời hạn càng ngắn và tính ổn định thấp thì
chi phí nguồn vốn cũng phải thấp tƣơng ứng. Tuy nhiên nguồn rẻ thì lại đồng
nghĩa với giảm tính cạnh tranh của ngân hàng. Tính chi phí một cách chính
10
xác cho phép ngân hàng chủ động lựa chọn những nguồn vốn khác nhau và
đảm bảo doanh thu đủ bù đắp chi phí và đem lại tỷ lệ thu nhập mong đợi.
Thứ hai, tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp.
Cơ cấu vốn cần đa dạng thể hiện ở việc duy trì một tỷ lệ giữa vốn huy
động ngắn hạn và dài hạn, giữa vốn nội tệ và ngoại tệ. Một ngân hàng có chất
lƣợng huy động vốn cao sẽ có nguồn vốn dồi dào và cơ cấu vốn cân đối, tránh
cho ngân hàng rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong điều kiện môi
trƣờng kinh doanh thƣờng xuyên thay đổi.
Hơn nữa ngân hàng phải dự đoán xu hƣớng biến đổi cơ cấu nguồn vốn
huy động. Yếu tố này cũng rất quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch sử
dụng vốn của ngân hàng. Mỗi loại nguồn vốn có điểm mạnh, điểm yếu riêng
biệt trong việc huy động và khai thác. Do đó sự biến động về cơ cấu vốn sẽ
kéo theo sự biến đổi trong cơ cấu cho vay, đầu tƣ, bảo lãnh… và kéo theo sự
Bởi vốn huy động có ý nghĩa quyết định đến khả năng hoạt động của
mỗi ngân hàng nên nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của
NHTM. Các hình thức huy động vốn ảnh hƣởng rất lớn đến khối lƣợng vốn
huy động đƣợc vì vậy việc đƣa ra các hình thức huy động phù hợp, linh hoạt
là hết sức cần thiết đối với ngân hàng bởi nhƣ vậy họ mới khai thác đƣợc hết
các nguồn vốn từ các doanh nghiệp và cá nhân mọi thành phần kinh tế. Nguồn
tiền của ngân hàng đƣợc hình thành qua nhiều kênh khác nhau:
1.2.1 Huy động vốn từ hoạt động tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của
NHTM, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền ngân hàng. Để gia
tăng lƣợng tiền gửi trong môi trƣờng cạnh tranh, các NHTM đã triển khai
nhiều hình thức huy động tiền gửi khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp
và tổ chức.
12
Các dịch vụ nhận tiền gửi mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng gửi
tiền bao gồm:
* Tiền gửi không kỳ hạn:
Là loại tiền gửi mà khách hàng - ngƣời gửi tiền có thể gửi vào và rút ra
bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng. Chính
vì tính không ổn định của tiền gửi không kỳ hạn nên với loại tiền gửi này,
khách hàng không đƣợc trả lãi hoặc lãi suất rất thấp. Tiền gửi không kỳ hạn
gồm 2 loại:
- Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): là các khoản tiền gửi không
kỳ hạn trƣớc hết đƣợc sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt
động hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh của ngƣời gửi tiền
một cách thƣờng xuyên, an toàn và thuận tiện.
Đây là loại tiền gửi chủ yếu của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế.
Với loại tiền gửi này khách hàng đƣợc sử dụng các phƣơng tiện thanh toán
không dùng tiền mặt nhƣ: séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán
Việt Nam đã tiến hành trả lãi cho loại tiền gửi này. Ở các nƣớc phát triển loại
tiền gửi này chiếm một vị trí quan trọng trong kết cấu nguồn vốn của NHTM (ở
Mỹ, chiếm 30% tổng tiền gửi). Vì lẽ đó, để tạo nguồn tiền gửi trên tài khoản
thanh toán, việc thu hút và giữ khách hàng đƣợc các ngân hàng rất coi trọng.
Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn biến động thƣờng xuyên, giải pháp
để tăng cƣờng nguồn vốn này không phải là yếu tố lãi suất mà là sự an toàn,
thuận tiện cũng nhƣ chất lƣợng các dịch vụ, điển hình là dịch vụ thanh toán
phi tiền mặt.
* Tiền gửi có kỳ hạn
Là khoản tiền khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trƣớc về
thời hạn rút tiền.
Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản
chất chúng đƣợc ký thác với mục đích hƣởng lãi. Về nguyên tắc, khách hàng
14
chỉ đƣợc rút tiền ra khi đến hạn, nhƣng trên thực tế, do áp lực cạnh tranh giữa
các ngân hàng nên các ngân hàng thƣờng cho phép khách hàng rút ra trƣớc
hạn nếu họ có nhu cầu. Trong trƣờng hợp này khách hàng sẽ đƣợc hƣởng một
mức lãi suất thấp hơn lãi suất ban đầu đã thoả thuận (thƣờng là lãi suất tiền
gửi không kỳ hạn).
Các NHTM nhận 2 loại tiền gửi có kỳ hạn: tiền gửi có kỳ hạn và tiền
gửi báo rút (khi muốn rút ra phải báo trƣớc). Về cơ bản, các khoản tiền gửi
này không đƣợc sử dụng để tiến hành thanh toán nhƣ các khoản chi trả bằng
vốn trên tài khoản vãng lai. Thông thƣờng, tiền gửi có kỳ hạn có thời hạn dài
và có lãi suất cao.
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền
gửi tiết kiệm (TGTK). Đây là nguồn tiền tƣơng đối ổn định, ngân hàng có thể
sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh. Vì vậy, các NHTM luôn tìm mọi
cách đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng việc áp dụng nhiều kỳ hạn với các
mức lãi suất khác nhau
tăng dần lãi suất TGTK và cũng đa dạng hoá thời hạn gửi tiền (tháng, tuần và
thậm chí theo ngày ) với các mức lãi suất khác nhau.
Hơn nữa, về nguyên tắc một khi khách hàng gửi tiền vào tài khoản này,
họ sẽ không đƣợc rút ra (cả gốc và lãi) trừ khi hết hạn gửi tiền. Để tăng sức cạnh
tranh trong thu hút tiền gửi, các NHTM vẫn cho phép khách hàng rút tiền trƣớc
hạn. Tuy nhiên, nhằm tránh việc khách hàng rút tiền trƣớc hạn, một phần trong
tiền lãi mà khách hàng đƣợc hƣởng bị khấu trừ (có thể ngân hàng không chấp
nhận trả lãi cho một vài tháng hoặc cũng có thể khách hàng chỉ đƣợc hƣởng một
mức lãi suất TGTK không kỳ hạn cho khoảng thời gian gửi tiền).
Tiết kiệm dài hạn: loại tiết kiệm này rất phổ biến ở một số nƣớc công
nghiệp, nhằm thu hút số tiền nhàn rỗi trong thời hạn dài. So với các loại hình
16
tiết kiệm khác, đối với loại tiết kiệm này, bất kỳ lúc nào chủ tài khoản cũng có
thể gửi tiền vào tài khoản với số lƣợng không hạn chế, nhƣng chỉ đƣợc rút ra
khi đến hạn. Đây là loại hình tiết kiệm mà ngân hàng cần tận dụng nhằm tạo
ra các nguồn vốn có tính ổn định cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dài
hạn của mình.
Vậy, TGTK là nguồn vốn tƣơng đối ổn định và lâu dài vì vậy NHTM
cần có giải pháp tăng cƣờng huy động nguồn vốn này (đặc biệt là về lãi suất)
để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình.
1.2.2 Huy động vốn thông qua thị trường tiền tệ
Các giấy tờ có giá của ngân hàng là các công cụ nợ do ngân hàng phát
hành để huy động vốn trên thị trƣờng. Nguồn vốn này tƣơng đối ổn định để sử
dụng cho một mục đích nào đó của ngân hàng. Lãi suất của giấy tờ có giá phụ
thuộc vào sự cấp thiết của huy động vốn nên thƣờng cao hơn lãi suất tiền gửi
có kỳ hạn thông thƣờng.
Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành gồm:
* Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
CDs là công cụ vay nợ do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn
vốn cần thiết đủ để đáp ứng nhu cầu vốn trong một thời gian ngắn mà còn có
thể kiềm chế lạm phát, góp phần phát triển thị trƣờng vốn, thị trƣờng chứng
khoán một cách hiệu quả.
1.2.3 Huy động vốn thông qua hoạt động đi vay
Nguồn vốn đi vay nhằm làm tăng thêm khả năng thanh toán cho ngân
hàng, nguồn vốn vay đƣợc hình thành bởi:
Vay NHTW:
- Vốn vay ngắn hạn bổ sung: Là hình thức các NHTM vay vốn bổ sung
vốn ngắn hạn của mình. Trong hình thức vay này, các NHTM chỉ đƣợc vay
khi còn hạn mức tín dụng đã thỏa thuận.