Vấn đề dạy học và đọc hiểu hài kịch Mô lie theo chương trình THCS mới qua trích đoạn " Ông Giuốc -đanh mặc lễ phục " - Pdf 28

Bộ gd&đt trờng đại học
s phạm hà nội khoa ngữ văn
------------
Bài tập tốt nghiệp
Cử nhân s phạm ngữ văn
Đề tài:
Vấn đề dạy học và đọc hiểu hài kịch Mô-li-e
theo chơng trình THCS mới
qua trích đoạn"ông giuốc-đanh mặc lễ phục"
từ vở kịch"trởng giả học làm sang"
( Sách giáo khoa ngữ văn 8 - tập II)
Ngời thực hiện: Đặng Thị Tuyết Mai
Lớp: VHVL Ngữ Văn K6 Nam Định
Ngời hớng dẫn: PGS.TS Đỗ Hải Phong
Nam Định, tháng 6 năm 2010
-------- - - - - - - -------* ** ** ** ---------------- -
1
Lời cảm ơn
Trong những năm gần đây, giáo dục trong nhà trờng nói chung và bậc THCS
nói riêng đã có những thay đổi cả trong nội dung và phơng pháp dạy học. Từ năm
học 2002 - 2003 chơng trình đổi mới sách giáo khoa đã đợc thực hiện trên toàn
quốc. Chơng trình có nhiều nội dung mới, nhiều vấn đề mới đợc đa vào bên cạnh
những nội dung đã có từ trớc. Đi đôi với việc cải cách trong nội dung giáo dục, yêu
cầu thay đổi phơng pháp dạy học cũng đợc đặt ra. Quan điểm lấy ngời học làm
trung tâm đã trở thành quan điểm chỉ đạo khi thực hiện các phơng pháp giáo dục.
Giáo viên đóng vai trò là ngời hớng dẫn.
Sự thay đổi này đã tạo ra bớc đột phá trong công tác giáo dục đào tạo. Tuy
nhiên bên cạnh những thuận lợi cũng có không ít những khó khăn đặc biệt là trong
vấn đề dạy học, nhất là dạy học Ngữ văn trong trờng THCS. Đã có rất nhiều bài
viết, chuyên đề thực hiên nhằm tháo gỡ phần nào những khó khăn, thắc mắc của
giáo viên, giúp các thầy cô thuận lợi khi lên lớp. Song mỗi bài viết, mỗi chuyên đề

Đặng Thị Tuyết Mai
Mục lục
3
Lời cảm ơn:
Trang 1,2
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài Trang 3
2. Lịch sử vấn đề Trang 3
3. Đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Trang 4
3.1. Đối tợng nghiên cứu Trang 4
2.2. Phạm vi nghiên cứu Trang 5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu Trang 5
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Trang 5
5. Phơng pháp nghiên cứu Trang 6
6. Cấu trúc của bài tập Trang 6
Chơng I. Cơ sở lí thuyết
1. Cơ sở lí thuyết thể loại Trang 8
1.1. Cách hiểu về kịch Trang 9
1.2. Cách hiểu về hài kịch Trang 9
2. Cơ sở phơng pháp
2.1. Phơng pháp đọc hiểu Trang 16
2.2. Phơng pháp dạy học Trang 8
Chơng II: Định hớng dạy học
1. Tác giả
1.1. Thân thế, sự nghiệp Trang 19
1.2. Con ngời và phong cách sáng tác Trang 20
1.3. Thời đại Môlie sống Trang 22
2. Tác phẩm
2.1. Xuât xứ, tóm tắt tác phẩm Trang 23

đoạn "Ông giuốc - đanh mặc lễ phục" trích từ vở kịch "Trởng giả học làm sang"
Văn bản này đã đợc đa vào trờng Phổ thông bậc THCS, nhng việc đọc hiểu
tác phẩm này vẫn còn nhiều vấn đề. Để khẳng định nhận thức trên, chúng tôi đã
thực hiện khảo sát ở học sinh khối lớp 8 và các thầy cô giáo tại trờng THCS Xuân
Thợng huyện Xuân Trờng. Trong tổng số 59 em đợc khảo sát sau khi học bài thơ
này thì có 15 em (chiếm tỷ lệ 25,4%) thấy học và thích đọc tác phẩm. Có 32 em
không hiểu tác phẩm(chiếm tỷ lệ 54,2%) còn lại không thích và không có ý
kiến(8,5%). Theo các em giáo viên dạy tác phẩm này cha hay, cha rõ kịch tính, cha
hấp dẫn, cách dạy còn buồn, ít t liệu tham khảo.
Về phía giáo viên 2/4 đồng chí khi đợc hỏi thì cho rằng phơng pháp dạy tác
phầm kịch khó(chiếm tỉ lệ 50%).
Từ thực trạng đó, chúng tôi qyuết định lựa chon đề tài này để làm sáng tỏ
hơn cách đọc hiểu trích đoạn: "Ông giuốc - đanh mặc lễ phục" giúp giáo viên và
học sinh có thể tham khảo thêm khi trên lớp, tạo hứng thú cho học sinh khi học tác
phẩm, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao chất lợng dạy học môn Ngữ văn ở tr-
ơng THCS nói chung và văn học nớc ngoài nói riêng. Ngoài ra, bản thân tôi cũng
vì lòng yêu quý tác giả, với hài kịch tính cách, mỗi nhân vật đều có thói xấu, một
thói xấu điển hình, một nét tính cách.
2. Lịch sử vấn đề:
5
Có thể thấy rằng có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đi vào khai
thác, tìm hiểu Hài kịch của Mô-li-e và trích đoạn "Ông giuốc - đanh mặc lễ
phục" từ kịch" Trởng giả học là sang" của ông, cụ thể:
- Sách giao viên do Nguyễn KHắc Phi làm tổng chủ biên phần lớn chỉ định
hớng khai thác vào nội dung văn bản.
- Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 8 do TS Nguyễn Văn Đờng làm chủ biên
trên cơ sở của sách giáo viên đã đa ra những bớc cơ bản nhất, những phơng pháp
cần sử dụng khi lên lớp để tiêp cận tác phẩm tuy nhiên nhiều chỗ vẫn cha đợc cụ
thể đặc biệ là về đặc trng thể loại.
- Sách Bình giảng ngữ văn 8 của nhóm tác giả Vũ Dơng Qúy, Lê Bảo chủ

- Định hớng đọc - hiểu văn bản.
- Định hớng dạy học.
5. Phơng pháp nghiên cứu.
Phơng pháp tiếp cận vấn đề của chúng tôi chủ yếu là tiếp cận hệ thống, lịch
sử văn hoá và thi pháp văn bản. Định hớng phơng pháp của chúng tôi là tích hợp
Ngữ văn.
Trong quá trình thực hiện bài tập, chúng tôi còn thực hiện một số phơng
pháp vụ thể nh:
- Phơng pháp tổng hợp, phân loại.
- Phơng pháp phân tích.
- Phơng pháp thống kê.
6. Cấu trúc của bài tập.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tập của chúng tôi chia là ba chơng:
- Chơng I. Cơ sở lý thuyết.
- Chơng II. Định hớng đọc hiểu.
- Chơng II. Định hớng dạy học.
7
Chơng I
Cơ sở lý thuyết.
1. Cơ sở lý thuyết thể loại.
1.1. Cách hiểu về kịch:
Theo cách Bêlinxkin, tác phẩm kịch" là sử dụng hợp của các yếu tố đối lập -
của chính khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình" (8,243).
Kịch còn đợc hiểu ở hai cấp độ:
ở cấp độ loại hình: kịch là một trong ba phơng thức cơ bản của văn
học(kịch, tự s, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để
diễn tả là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phơng diện văn học của kịch.
Song nói đến kịch là nói đến sự biểu diễn sân khấu của các diễn viên bằng hành
động, cử chỉ hành động và bằng lời nói(riêng kịch câm thì không diễn tả bằng lời).
Kịch đợc xây dựng trên những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc những xung

sự bắt trớc cái nghiêm túc, sự mù quáng trong nhữn ớc muốn...đặc biể xuất phát từ
quan điểm duy vật lịch sử, Mác đã phát hiện tính chất hài kịch ở những lực lợng xã
hội phải tiến hoá. Đó trớc hết là những chế độ lỗi thời, cổ hủ đã sông dai dẳng quá
đời mình(8, 266).
9
Có thể thấy hài kịch phản kháng và đánh giá những thế lực xã hội, những
hiện tợng đời sồng, những tính tình, những tập tục, những hoạt động và tác phong
của con ngời hoàn toàn không phù hợp, mâu thuẫn với tính quy luật khách quan của
sự phát triển, lịch sử và lí tởng xã hội thẩm mĩ tiên tiến, từ đó gây nên sự phê phán
bằng hình thức chế diễu. Gô Ngô có nói về hài kịch trong tác phẩm của
mình:"trong quan thanh tra tôi đã tập vào một chỗ tất cả những điều tồi tệ ở nớc
Nga mà hồi ấy tôi biết, tất cả những gì phi nghĩa bất công...mà chỉ một lần cời chế
nhạo tất cả". Tiếng cời trong hài kich do đó có tác dụng giải thoát cho con ngời
khỏi những tệ nạn xã hội vf thói xấu cá nhân khỏi những điều ti tiện và thị hiếu tầm
thờng có tác dụng lớn lao trong giáo dục t tởng, đạo đức và thẩm mĩ tiên tiến. Tiếng
cời này cũng có nhiều cung bậc và tính chất cho nên cũng có nhiều loại hài kịch
khác nhau. Sự đánh giá thẩm mĩ các tình huống, các quan hệ va tính chất buồn cời,
mù quáng nhng thể sửa chữa đợc là cơ sở cùa hái kịch châm biếm. Còn hài kịch
kại biểu lộ sự mỉa mai sâu cay chế giễu công khai nhằm tẩy chay những tệ nạn xã
hội.
Qua đây chúng ta hiểu hài kịch là "thể loại kịch trong đó có tính cách, tình
huông và hành động đợc thể hiện dới dạng buồn cời hoặc ẩn chứa cái hài nhằm
giễu cợt, phê phán cái xấu, cái lố bịch, cái lỗi thời để tống tiễn nó một cách vui vẻ
ra khỏi đời sống xã hội. Hài kịch cho đến thến kỷ XVII đợc coi nh thể loại đối lập
với bi kịch, và tác phẩm của nó kết thúc nhất thiết phải có hậu".(10,137)
Hài kịch hớng vào sự cời nhạo cái xấu xa, lố bịch đối lập với lí tởng xã hội
hoặc chuẩn mực đạo đức. Nhân vật của hài kịch thờng không có sự tơng xứng giữa
thực chất bên trong với danh nghĩa bên ngoài của mình nên đã trở thành lố bịch.
Cái tính cách trong hài kịch thờng đợc mô tả một cách đậm nét, cận cảnh và ở
trạng thái tĩnh, nhất là những nét gây cời. Phạm vi phản ánh của hài kịch hết sức

môn ấy. Đối với kiến thức đã dạy, giáo viên cần tận dụng điều này để củng cố, ôn
tập đồng thời qua đó rèn luyện cho học sinh ý thức và kỹ năng vận dụng mọi kiến
thức đã học để xử lý các vấn đề trơcd mắt. Đối với kiến thức sẽ dậy, có thể giới
thiệu ở chừng mực cần thiết cho sự hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đang đề cập, qua
đó khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham hiểu biết của học sinh và đặt cơ sở thuận lợi
cho việc trình bày các kiến thức sẽ học ở sau. Quan điểm tích hợp phải đợc quán
triệt trong mọi khâu kể cả khâu đánh giá, kiểm tra.
2.1.2. Dạy học theo quan điểm tích cực.
2.1.2.1. Quan điểm chung:
11
Quan điểm dạy học theo hớng tích cực đã đợc diễn đạt bằng nhiều mệnh đề
hoạt động học tập của học simh"...Những cách diễn đạt ấy cho thấy dạy tích cực là
ngời dạy tìm cách tổ chức việc cho học sinh, học tích cực là ngời học tự mình
chiếm lĩnh bài học dới sự tổ chức, hớng dẫn của giáo viên. Tích cực của ngời học
đáp ứng bằng các hoạt động học tập, phát huy tính sáng tạo ở tất cả các khâu từ
chuẩn bị bài dới sự tổ chức, hớng dẫn của giáo viên. Tích cực của ngời học là tự
mình đáp ứng bằng các hoạt động học tập, phát huy tính sáng tạo ở tất cả khâu từ
chuẩn bị bài, su tầm tài liệu, phát biẻu trong tổ, nhóm, tự đánh giá và đánh giá
bạn...Đích của dạy học tích cực là đạt tới mục tiêu của bài học cả về kiến thức, kỹ
năng và thái độ.
2.1.2.2. Dạy học văn theo quan điểm tích cực.
Dạy học phân môn văn học trong môn ngữ văn là dạy học - hiểu văn bản.
Các văn bản trong sách giáo khoa chủ yếu là văn bản nghệ thuật, do đó đối tợng
đọc hiểu là các tác phẩm văn học. Đọc văn là hoạt động tiếp nhận văn học. Văn bản
nghệ thuật chỉ thực sự có đời sống khi nó vận động trong cảm thụ của ngời đọc.
Mỗi ngời đọc văn, học văn bằng vốn sống, vốn văn hoá và thẩm mĩ riềng sẽ có đợc
hình cụ thể về tác giả, tác phẩm. Gắn liền với cá tính và đợc xác định bằng cá tính
tiếp nhận. Đó là đặc thù của hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học. Đọc văn là hoạt
động tiếp nhận văn học. Văn bản nghệ thuật chỉ thực sự có đời sống khi nó vận
động trong cảm thụ của ngời đọc. Mỗi ngời đọc văn, học văn bằng vốn sống, vốn

chơi dạy học cũng có thể đa vào trong quá trình đọc - hiểu văn bản. Các phơng tiện
dạy học truyền thống(SGK, bảng, vở, tranh, ảnh... ). Bên cạnh các hình thức dạy
học chung, môn ngữ văn cụ thể là môn Văn cũng có những hình thức dạy học đặc
thù nh giảng, giải,bình, đàm thoại...
Nh vậy, đa dạng hoá các hình thức dạy học đọc - hỉêu văn bản sẽ là tự sáng
tạo trong lựa chọn và liên kết mọi hình thức dạy học thông dụng với các hình thức
dạy học tập trung chuyên biệt của môn văn để tạo ra bài học thoả mãn mục tiêu,
kiến thức, kỹ năng Ngữ văn, đồng thời tăng hứng thú cho ngời học văn trong hoạt
động đọc - hiểu văn bản.
"Tích cực hoá" trong dạy học, là một quan niệm hiện đại. Dạy học tích cực
đề cao cả hai chủ thể, ở đó năng lực tự học của giáo viên kết hợp với khả năng tổ
chức hớng dẫn của giáo viên sẽ tạo cơ hội cho hoạt động chiếm lĩnh tri thức và kỹ
năng của bài học. Năng lực tự học của của mối học sinh luôn đợc bộc lộ ngay trong
các hoạt động học bằng các hình thức tơng ứng. Cũng nh thế, sự lựa chọn và tổ
chức một sáng tạo các hình thức tơng ứng. Cũng nh thế, sự lựa chọn và tổ chức một
13
cách sáng tạo các hình thức dạy học trong các biểu hiện cụ thể cua nó sẽ thuộc về
khả năng mới của ngời giáo viên biết"tích cực hoá" hoạt động dạy học của mình
nhằm"tích cực hoá" hoạt động học tập của học sinh. Nh vậy, dạy học theo quan
điểm tích cực là một xu thế tất yếu hiện nay.
2.2. Phơng pháp dạy hoc.
2.2.1.Phơng pháp chung trong dạy học văn.
2.2.1.1. Đọc diễn cảm(phơng pháp đọc sáng tạo)
Đọc diễn cảm là một phơng pháp truyền thống trong nhà trờng từ xa đên
nay. Đọc diễn cảm không phải là một thủ thuật mà là một hoạt động sáng tao nghệ
thuật. Nếu nhà văn đi từ t tởng đến ngôn từ thì ngời đọc lại đi từ ngôn ngữ đến t t-
ởng. Đọc diễn cảm có ý nghĩa quan trọng đối với vịêc giảng dạy văn học vì con đ-
ờng đi vào tác phẩm nhất thiết là phải đọc. Đọc là một hình thức hoạt động học tập
có tính chất đặc thù của nhận thức về văn học. Tiếng nói của nhà văn gửi gắm cho
bạn đọc thông qua hệ thống của ngôn ngữ tạo nên hình tợng của tác phẩm, nhng tr-

- Thể hiện rõ trình độ tiếp nhận của mình đối với tác phẩm đợc đọc.
- Thái độ tiếp xúc nhiệt tình với ngời nghe
- Phát âm rõ ràng, chính xác.
- Truyễn đạt đợc đặc điểm thể loại và phong cách tác phẩm.
- Kỹ năng sử dụng đúng giọng nói của mình.
2.2.1.2. So sánh trong phân tích văn học.
So sánh trong giảng dạy văn học đã trở thành một phơng pháp có hiệu lực và
khá quen thuộc. Tuy nhiên, trên thực tế gỉảng dạy văn học không phải thiếu những
hiện tợng lạm dụng so sánh. Chính vì vậy việc so sánh luôn đợc xác định trên cớ sở
những nguyên tắc chặt chẽ.
So sánh văn học không đợc lấy nội dung so sánh thay thế cho việc khám phá,
phân tích tác phẩm. So sánh chỉ là phơng tiện, là con đờng đi vào tác phẩm. Những
liên hệ so sánh ngoài tác phẩm không đợc làm "đứt mối" với đờng dây chủ đề của
tác phẩm, nếu không rất dễ đa ra những bình luận không có căn cứ.
Khi so sánh cần phải tôn trọng chỉnh thể của bài văn. Ngời phân tích không
đợc tách, chọn một từ ngữ, một chi tiết, một hình ảnh ra khỏi chỉnh thể để so sánh
với những yếu tố ít nhiều có liên quan đến tác phẩm rồi bình luận một cách chủ
quan, xa rời chủ thể tác phâm.
So sánh là một trong những phơng pháp hữu hiệu trong phân tích văn học và
cũng đợc khẳng định, hoàn thiện trong thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy văn học làm
15
sao cho việc phân tích, giảng dạy văn học vừa có đợc tính khoa học vừa nghiêm
ngặt, vừa có tính nghệ thuật đậm đà.
2.2.1.3. Phân tích nêu vấn đề.
Dạy học nêu vấn đề là một hoạt động sáng tạo, song song với việc lĩnh hội tri
thức là sự phát triển những năng lực sáng tạo ở học sinh. Thực tiễn cho thấy kiến
thức sẽ đợc lĩnh hội vững chắc nếu con ngời trải qua suy nghĩ, có vợt qua khó khăn
để tìm hiểu. Dạy học nêu vấn đề dựa vào nguyên tắc trên. Theo đó, kiến thức sẽ
không đợc đa đến dới hình thức có sẵn mà thông qua tình huống có vấn đề đặt ra tr-
ớc học sinh. Học sinh dới sự giúp đỡ của giáo viên nắm đợc nôi dung bộ môn, ph-

hỏi cụ thể con ngời học sinh hơn nh hiểu đợc tính cách, phẩm chất trí tuệ, tâm hồn
tình cảm, phong cách con ngời...Năng lực làm việc độc lập, óc tìm tòi suy nghĩ ,
thói quen giao tiếp xã hội của học sinh đợc phát huy một cách tích cực.
Phơng pháp gợi mở giảng dạy văn chủ yêu đợc thông qua hệ thống câu hỏi,
toạ điều kiện cho hoạt động song phơng giữa thầy và trò để từmg bớc đi vào tác
phẩm văn học. Các câu hỏi đàm thoại phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải chính xác, rõ ràng, phải có màu sắc văn học, có khả năng khêu gợi
tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ cho học sinh.
- Phải vừa sức với học sinh, thích hợp với khuân khỏ một giờ lên lớp, phải có
khe năng gợi vấn đèm suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo cho học sinh.
- Phải xấy dựnh hệ thống logic có tính toán, giúp học sinh htừng bớc đi ssâu
vào tác phẩm nh một chỉnh thể.
- Cần có sự kết hợp cân đối giữa loại câu hỏi cụ thể và loại câu hỏi tổng hợp
gợi vấn đề. Câu hỏi có khi theo lô gic diễn dịch, có khi theo cách quy nạp h\nhng
đèu nhằm cung cấp cho học sinh một hệ tghống kiến thức vững chắc.
- Câu hỏi chung phải có căn cứ vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật tác
phẩm nhng vẫn phẩi đảm bảo mục đích: làm cho học sinh hiểu tác phẩm.
2.2.1.5. Giảng bình.
Giảng bình là những việc làm khá quen thuộc đối với nhiều giáo viên dạy
văn. Mục đích của ngời giảng bình là làm sao truyền đợc hiểu biết , rung cảm của
mình về tác phẩm văn chơng đến với ngời nghe để ngời nghe cũng rung cảm và
hiểu tác phẩm một cách đúng đắn, sâu sắc. Đây là việc làm hết sức khó khn, vì vậy
nó đòi hỏi có nhiều nguyên tắc nhất định trong bình giảng. Dới đây là một số
ngyuên tắc đó:
- Ngời bình phải am hiểu sâu sắc về tấc phẩm đến độ biến thành rung động,
cảm xúc, tình cảm chủ quan mới có khả năng gây hứng thú và rung cảm cho ngời
17
nghe. Giáo viên giảng bình không để cho tiếng nói của mình lấn át tiểng nói của
nhà văn, nhà thơ mà phải giúp nhà văn, thơ đa tiếng nói đến với ngời nghe một cách
nhanh nhậy, sâu lắmg.

s êm ả để đi vào con đờng nghệ thuật đầy khó khăn, vào một loại hình mà trong con
mắt mọi ngời chỉ là trò mua vui rẻ tiền.
Cùng với gia đình nghệ sỹ Bêgia, ông sàng lập ra đoàn kịch chứ danh. Song ở
Pari, đoàn kịch này không đứng nổi, ông cùng bạn bè đa gáng hát của mình đi lang
thang biểu diễn ở các tỉnh khác nhau của nớc Phấp, từ 1645 - 1658 mới trở về biểu
điẽn ở ngoại ô Pari. Lúc này đoàn kịch của Mô -li - e chững chạc có tay nghề vững
chắc. Năm 1659 đoàn kịch đợc phép biểu diễn cho Vua Luixivê xem với vở hài
kịch "Những ả cầu kỳ rởm". Vở kịch thành công, nhà Vua tán thởng công chúa
hoan nghênh. Đoàn kịch đợc phép về biẻu diễn ở Pari, đợc phép mua vui cho Vua,
Mô-li -e là linh hồn của đoàn kịch và cùng với đoàn kịch tài năng của Mô-li-e chín
rộ. Năm 1662, ông cho diễn vở(Trờng học làm vợ, phê bình trờng học là vở kịch
ứng tác ở Vecxây). Trong giai đoạn 1664 - 1666, Mô-li-e viết 3 vở hài kịch lớn với
những t tởng triết học và xã hội phong phú: (Táctuyp (1964), Đôngjuăng - 1665 và
Anh ghét đời - 1666). Sau đó cuộc đời hoạt động của Mô -li - e bớt sôi động hơn
với nhữmg vở ( Lão hà tiện - 16668, Trởng giả học làm sang 1670, Những bà
thông thái - 1672, Ngời bệnh tởng - 1673...) ngày 11.2.1673 trong đêm diễn thứ 4
vở " ngời bệnh tởng", đóng vai nhân vật chính Mô -li - e đã kiệt sức trên sân khấu.
Ông đợc đa ngay về nhà và chỉ hơn 1 giờ sau thì chết. Nhà thờ vốn thù ghét Mô -li -
19
e ngăn cản việc mai táng ông theo nghi thức của tôn giáo. Vợ ông phải quỳ xuống
chân nhà Vua hết lời cầu khẩn mới đợc phép chôn ông vào lúc đêm khuya, ở nghiã
địa của nhà thờ.
"Đời hoạt động nghệ thụât của Mô -li - e là cuộc đời một mặt thì kiên trì rèn luyện
trong thực tế vĩ đại của nhân dân, một mặt thì đấu tranh không khoan nhợng với
những lực lợng đen tối cống hiến trọn vẹn cho nghệ thuật chân chính. Chỉ riêng
cuộc đời ấy cũng đủ để khiến Mô -li - e trở lên bất hủ"(10,289)
1.2. Con ngời và phong cách sáng tác.
Mô -li - e là một tên tuổi lớn của chủ nghĩa cổ điển Pháp, của lịch sử văn học
Pháp và của lịch sử sân khấu thế giới "hoạt động chủ yếu vào nửa cuối thế kỷ 17,
cùng thời với Laphongten, Ra-xin, Boa-lô, Mô -li - e mang đến cho văn đàn Pháp

dùng một biện pháp quen thuộc - cờng điệu tính cách, đẩy tính cách lên sát ranh
giới của sự vật vô lí, khó tin, không giống nh thật. Hành động sân khấu của Mô -li -
e khá đơn giản. Thờng bắt đầu xu thế mỗi lúc một tập trung hơn, mạnh mẽ hơn cuar
những thói giả dối, kệch cỡm. Sự thái quá ấy vi phạm"tự nhiên" làm cho những đầu
óc lành mạnh, tỉnh táo, gần với cuộc sống bình thờng, nhcg sao chịu đựng nổi.
Những xung đột ấy không phức tạp, không gay gắt đòi hỏi những giải pháp quyết
liệt, chỉ một biện pháp nhỏ, kheo tổ chức, là đủ để bắt cái hài thể hiện rõ. Màn chót
của xung đột vì thế cũng nhẹ, thờng phụ thuộc vào những yếu tố bất ngờ bên ngoài.
Tài năng của Mô -li - e thể hiện rất đa dạng trong việc xây dựng các vở kịch.
Ngoài việc tổ chức chặt chẽ các kịch tính, đảm bảo sự cân đối giữa các cảnh, các
hồi, ông cìn sử dụng nhiều biện pháp gây cời lây truyền từ truyền thông dân gian
nh các biện pháp hề, ông tận dụng khả năng gây cời của biện pháp trùng lặp, bằng
cách gây hiểu nhầm, bằng cách chơi chữ...tiếng cời mà ông tạo ra là đa dạng từ
tiếng cời hề kịch vui vẻ, rồi đến tiêng cời khôi hài, tới cái cời mỉa mai giễu cợt, tới
tiếng cời châm biếm, cho tới cái cời bi đát. Mỗi nhân vật, mỗi tính cách mà Mô -li -
e dựng đều gắn với các tiếng cời khác nhau. Các tiếng cời này tạo ra cách nhìn soi
chiếu nhân vật. Xây dựng nhân vật từ góc độ tiếng cời cũng là một đặc điểm thi
pháp quan trọng trong hài kịch của Mô -li - e.
Mô -li - e tiếp thu những truyền thống của hài kịch dân gian và những thành
tựu của kịch cổ điển, ông đã sáng tạo lên hững vở hài kịch có nội dung xã hội sâu
sắc. Nhiều nhân vật điển hình xã hội về thói h tật xấu. Mô -li - e là ngời sáng tạo ra
hài kịch Pháp, đóng góp nhiều vào mỹ học cổ điển Pháp nhiều quan niệm mới. Hài
kịch Mô -li - e đạt quy mô lớn chủ yếu do ông kết hợp một cách đầy sáng tạo t tởng
Đề - các với t tởng Ga-xăng-đi, cái " cổ điển" với cái "barôc", vừa có tinh lịch sử,
21
vừa có tính nhân loại, nhiều khi đạt tới cái mênh mông bí ẩn của con ngời, cái khát
vọng không bờ bến, cái cô đơn vĩnh hằng bằng nghệ thuật hài kịch. Cuộc đời và sự
nghiệp sáng tác của Mô-li-e đóng vai trò lớn trong sự phát triển của hài kịch toàn
Châu Âu và cả thế giới.
1.3. Thời đại Mô-li-e sống

văn hoá Tây Âu khác. Đó là khi nói tới văn học Tây Âu ngời ta chỉ cần nói đến văn
học Pháp với đỉnh cao của nó là chủ nghĩa cổ điển.
Nói đến thê kỷ XVII ở Pháp, không thể không nói đến chủ nghĩa duy lí của
R.Đêcactơ - một thành tựu lớn của giai cấp t sản đạt đợc trong lĩnh vực triết học.
Chủ nghĩa duy lí đã trở thành thê giới quan và phơng pháp luận giúp các nhà cổ
điển tái tạo đời sống hiện thực xã hội Pháp thế kỷ XVII.
2. Tác phẩm
2.1 Xuất xứ, tóm tắt tác phẩm
Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục trích trong vở kịch 5 hồi trởng gỉ học làm sang
(1670) và là lớp kịch kết thúc hồi II.
Nhân vật trung tâm của vở kịch là Ông Giuốc-đanh, một sản giàu có đang
tấp tểnh học đòi làm quý tộc. Lão đã ngoài 40 tuổi. Lão có 1 con gái là Luyxin
đang yêu tha thiêt chàng trai Clêông nhng bị lão ngăn cấm vì bản thân anh ta không
phải là quý tộc. Lão tìm mọi cách để kết thân với ngời thợng lu, để đợc lọt vào mắt
xanh của quý bà Đôrimen. Vì thế lão không ngần ngại đổ tiền ra để làm đẹp lòng
gã quý tộc Đôrăng thất thế sa cơ, đang cự kỳ túng bấn. Đôrăng cũng tỏ ra hết lòng
để lão sớm đợc trở thành quý tộc, sớm chiếm đợc mối tình của Đôrimen. Bù lại hắn
có đủ tiền để thoả mãn mọi ý đồ riêng. Bị lừa dối, bị phỉnh phờ Giuốc-đanh tỏ ra
hào phóngvung tiền không tiéc tay. Để xứng đáng là bậc quý tộc mong muốn
chiếm đợc cảm tình của quý bà phu nhân kia, Giuốc-đanh đã tổ chức thuê đủ các
loại thầy: thầy nhạc, thầy vũ, thầy kiếm, thầy triết... đến nhà lão để dãy lão các môn
học để tạo cho lão có 1 thứ vốn liếng để ra nhập hàng ngũ quý tộc. Các loại thầy
này đều kiết Giuốc-đanh là một kẻ ngu dốt nhng họ đều cho rằng " túi tiền của lão
khôn ra phết, túi tiền ấy sửa chữa và uốn lắn đợc mọi sai sót". Và các ông thầy này
tỏ ra hết sức tận tuỵ phục vụ cho túi tiền ấy. Nắm đợc những cuồng vọng của lão,
những thành viên tích cực có lơng tri của gia đình đã tìm mọi cách thức tỉnh lão.
23
Cuối cùng học phải tạo ra hình thức là để Clêông đóng giả một hoàng tử Thổ Nhĩ
Kỳ đến cầu hôn con gái lão. Giuốc-đanh đồng ý gả ngay con gái cho chàng rể
ngoại bang ấy, đổi lại chàng rể quý tộc giả phong tặng cho lão tớc hiệu Mamamusi,

sau, các thợ phụ nhộn nhịp cởi quần áo cũ, mặc lễ phục mới cho ông Giuốc-đanh...
thêm nữa, khi ông Giuốc-đanh mặc lễ phục còn có cả nhảy múa và âm nhạc.
ở cảnh đầu của lớp kịch, tính cách của Giuốc-đanh thể hiện tong đối thoại
của bác phó may. Nào là chuyện đôi bít tất, chuyện bộ tóc giả, lông đính mũ xong
chủ yếu là chuyện xoay quanh bộ lễ phục, với những bông hoa ngợc. Không biết là
do bác phó may dốt, do sơ suất hay cố ý may thành những bông hoa ngợc? Chỉ biết
rằng chính ông Giuốc-đanh phát hiện ra sự cố này. Nhng bác phó may với tay nghề
khó hiểu này lại bảo rằng ngời quý tộc họ vẫn mặc vậy. Giuốc-đanh thì học đòi làm
sang. Thế là ông hoàn toàn bị khuất phục bởi sự láu cá của bác phó may. Kịch tính
đợc đẩy lên cao khi bác phó may liên tiếp ra đòn " nếu ngài muốn thì tôi sẽ may
hoa xuôi lại thôi mà", " xin ngài cứ việc bảo". Sợ cơ hội làm sang sẽ tuột mất, ông
Giuốc-đanh từ chối đây đẩy: " không, không". " Tôi đã bảo không mà". Rồi lại
chính đã nắm chắc điểm yếu của đối phơng, chỉ cần bác lảng sang chuyện thử lễ
phục mới là Giuốc-đanh chẳng còn để ý gì đến chuyện ăn bớt vải nữa. Chẳng thế
mà bác phó may rất tự tin khi mặc đúng cái áo may bằng vải ăn bớt của ông Giuốc-
đanh khi đến nhà Giuốc-đanh.
Sang cảnh sau của lớp kịch, tính cách tởng giả học đòi làm sang của ông
Giuốc-đanh đang tiếp tục đợc bộc lộ. Lần này đến lợt tay thợ phụ lợi dụng ông ta.
Nếu anh này cứ gọi ông Giuốc-đanh nh cách gọi thông thờng ( ông hoặc ngài) thì
đã không có chuyện gì sảy ra.Đằng này lại xng tôn là ông lớn, lại đúng vào lúc ông
đang mặc lễ phục say sa với cảm giác trở thành quý tộc. Thế là y đợc thởng vì tiếng
ông lớn sang trọng ấy. Tay thợ phụ ranh ma này nắm đợc thóp Giuốc-đanh thì liên
tiếp tung ra những câu lịnh hót để moi tiền. Và y rất thành công. Những tiếng " cụ
lớn", rồi " đức ông" đều đem lại tiền thởng cho y. Không phải ông Giuốc-đanh
không nghĩ đến túi tiền của mình " Nó nh thế là phải chăng, nếu không ta đến mất
tong cả tiền cho nó thôi" mà vì cái mộng quý tộc còn lớn hơn cả tiếc tiền. Nh vậy
cũng đủ thấy tính cách học đòi làm sang của Giuốc-đanh mạnh đến mức nào.
Sự chênh lệch, mất cân xứng giữa nội dung và hình thức giữa cái bên trong
và bên ngoài là nguyên tắc cơ bản để nhà văn tạo ra cái hài. ở lớp kịch này cũng
vậy, M-li-e đã xây dựng một nhân vật hài kịch bất hủ khi tạo ra sự khập khiễng, bất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status